TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
MÔN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC
Đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC QUAN NIỆM VỀ LÝ THUYẾT ĐA NHÂN TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN BỘ MÁY HỌC CỦA NGƯỜI. TRÊN CƠ SỞ
ĐÓ VẬN DỤNG VÀO VIỆC DẠY PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC
CHO SINH VIÊN CỦA KHOA MÌNH PHỤ TRÁCH
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Mai Văn Hưng
Học viên : Đào Thị Trang
Khoa : Lý luận chính trị
Hà Nội - 2015
2
1. Quan niệm trí tuệ đa nhân tố (multiple intelligence)
Thuyết ba nhăn tố về trí tuệ của Robert Sternberg
Qua quá trình nghiên cứu, Stemberg và các cộng sự (1984) đã xây dựng
thuyết 3 nhân tố trí tuệ (Triachic theory of intelligence), thuyết này cho rằng
có 3 loại trí tuệ khác nhau:
- Trí tuệ phân tích (Analytical or Componential Intelligence) là loại trí
tuệ giống với loại trí tuệ được thừa nhận trong các lý thuyết truyền thống về trí
tuệ. Nó phản ảnh chủ yếu năng lực suy luận ngôn ngữ của chúng ta, năng lực
này giúp ích cho hoạt động ở trong nhà trường. Người có loại trí tuệ này sẽ làm
tốt các trắc nghiệm đòi hỏi phân tích một vấn đề thành các thành tố của nó.
- Trí tuệ sáng tạo (Creative or Experiential Intelligence) là năng lực
kết hợp những kinh nghiệm khác nhau theo cách thức sáng tạo để giải quyết
những vấn đề mới. Loại trí tuệ này phản ánh sự sáng tạo được thể hiện như ở
các nghệ sĩ, các nhà sáng tác âm nhạc hay các nhả khoa học. Theo Sternberg,
những thiên tài sáng tạo như Leonardo da Vinci và Albert Einstein đã có
những trình độ cao đặc biệt về loại trí tuệ này.
- Trí tuệ ngữ cảnh (Contextual Intelligence) là năng lực hoạt động
Howard Gardner (1983) dựa trên hoạt động của nào bộ. Gardner cho rằng:
Não bộ đã tạo ra các hệ thống riêng biệt cho những năng lực tương ứng khác
nhau mà ông gọi là các trí tuệ . Theo Gardner có 7 kiều loại trí tuệ khác nhau
và mỗi kiểu được phát triển đến một mức độ khác nhau trong mãi con người.
- Trí tuệ ngôn ngữ (Linguistic Intelligence) là năng lực diễn tả ngôn
ngữ dễ dàng bằng cách nói hay viết. Các nhà thơ, nhà văn, nhà báo là những
thi dụ rõ nhất về loại trí tuệ ngôn ngữ. Họ rất nhạy cảm với âm thanh, nhịp
điệu và nghĩa của các từ, nhạy cảm với những chức năng khác nhau của ngôn
ngữ. Trí tuệ ngôn ngữ nằm ở phần não trái: Thùy trán trái kiểm soát các khả
năng nói, còn thùy thái dương trái điều khiển sự hiểu biết ngôn ngữ
- Trí tuệ logic - toán học (Logical - Mathematical Intelligence): là
năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc. Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là
4
các nhà toán học và các nhà khoa học nói chung. Các nhà khoa học lớn cỏ tài
nhìn thấu suốt vấn đề phức tạp vả cảm nhận được giải pháp trước khi đưa ra
bằng chứng. Trí tuệ nảy nằm trong bản cầu não trái nhưng không có liên hệ
chuyên biệt với một vùng nào cả. Cho nên, nó dễ bị ảnh hưởng do sự suy
thoái toàn bộ hơn là các tổn thương, tai biến của não. Trường hợp những
người chậm phát triển trí tuệ lại có thể thực hiện các phép toán với tốc độ cực
nhanh.
- Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): Đó là năng lực tạo ra và
thưởng thức các nhịp điệu, cung bậc (của nốt nhạc), âm sắc, biết thưởng thức
các dạng biếu cảm của âm nhạc. Loại trí tuệ này độc lập rõ hơn các loại khác.
Một người tẩm thường về âm nhạc có thể đặc biệt xuất sắc ở các lĩnh vực
khác. Một số trẻ tự kỷ lại có khả năng chơi một loại nhạc cụ nào đó. Tiêu biểu
cho loại trí tuệ này là các nhà soạn nhạc, các nghệ sĩ biểu diễn violong. Đây
có lẽ là loại trí tuệ phát triển sớm nhất ở trẻ con. Loại trí tuệ này chủ yếu nằm
ở bán cầu não phải, nhưng khu trú kém chính xác hơn ngôn ngữ và có thể mất
đi do những tổn thương ở não.
- Trí tuệ không gian (Spatial Intelligenceị: Bao gồm các khả năng tiếp
năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và
các thèm muốn của người khác một cách thích hợp. Người có trí tuệ loại này
có khả năng xâm nhập vào tư tưởng của người khác, có khả năng khích lệ và
nâng đỡ người khác. Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là những nhà trị liệu, người
bán hàng, các linh mục, nhà sư phạm. Thùy trán cũng có vai trò quan trọng
đối với loại trí tuệ này. Các tồn thương ở thùy trán có thể làm mất khả năng
thấu hiểu người khác và làm thay đổi hoàn toàn nhân cách. Sự lão hóa có khả
năng làm mất đi tất cả mọi khả năng xã hội của con người.
- Trí tuệ tự nhiên ( Naturalist Intelligence): Đây là loại trí tuệ thử 8 mà
sau này Gardner mới nêu ra và bổ sung thêm vào 7 loại trí tuệ trước đây. Đó
là năng lực phân biệt một cách tinh tế giữa hệ thực vật và hệ động vật của thể
6
giới tự nhiên hoặc giữa các mẫu vật và những thiết kế do con người tạo ra.
Tiêu biểu cho loại trí tuệ này là các nhà thực vật, người đầu bếp vv
Quan điểm của Gardner đã được đánh giá cao nhưng cũng bị phê phán.
Mô hình của ông được đánh giá cao vì đã thừa nhận ngữ cảnh văn hóa của trí
tuệ, đà tính đến nhiều năng lực của con người và hệ thống cơ bản (khung) của
nó, đã quan tám đến việc phân tích trí tuệ ở nhà trường và các môi trường ứng
dụng khoa học khác. Một so nhà sư phạm chấp nhận lý thuyết của Gardner và
sử dụng một sổ bắc nghiệm truyền thống để đánh giá một số loại trí tuệ như
trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic - toán học, trí tuệ không gian. Hiện tại vẫn chưa
có cách nào chứng minh sự on định và tính ứng nghiệm của việc thực hiện
các trắc nghiệm đối với các trí tuệ mới (Ulric Neisser, 1996). Có những quan
điểm cho ràng các trí tuệ mà Gardner trình bày này thực chất là các tài năng
(talent) chứ không phải là các trí tuệ (Sandra Scair,1985). Một số quan điềm
khác cho rằng các loại trí tuệ của Gardner tưcrag quan với nhau rất cao, về cơ
bản là đo lường một loại tri tuệ giống nhau, nhưng một sổ loại quan điểm
khác lại cho rằng các loại trí tuệ này có vè giống như một bảng liệt kê các
phong cách học tập và phong thái nhân cách chứ không phải là những năng
lực hay trí tuệ. Cũng có những quan điểm khác cho rằng 8 loại trí tuệ của
của mình và của người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực điều hành tốt
các cảm xúc trong bản thân mình và trong các mối liền hệ với người khác.
Như vậy, Daniel Goleman dã bổ sung 5 năng lục cảm xúc và xà hội cơ
bán lả: Năng lực tự ỷ thức, năng lực tự điều chỉnh, năng lực thúc đẩy, năng
lực đồng cảm và các kĩ năng xã hội. Tuy nhiên trong hai bài báo công bố sau
đó (2001), Golcman đưa ra cấu trúc trí tuệ cảm xúc gồm 2 loạt đúp (2x2) các
hoạt động tạo ra năng lục tổng thể nhằm nhận biết và điều khiển cảm xúc của
mình và ở người khác
8
Cấu trúc của trí tuệ cảm xúc
Năng lực cá nhân (quan hệ với mình) Năng lực xã hội (quan hệ với người
khác)
Tự biết mình Nhận biết các quan hệ xã hội
- Nhận biết xúc cảm của mình
- Đánh giá mình chỉnh xác
- Tự tin
- Đồng cảm
- Định hướng sự phục vụ
- Biết cách tổ chức
Tự kiếm soát, quản lý mình Quản lý điều khiển các mối quan
hệ xã hội
- Kiểm soát xúc cảm của mình
- Có lòng tin
- Tự ý thức
- Thích ứng
- Động co thành đạt
- Sáng tạo
- Phát triển người khác
- Tạo ảnh hưởng
- Giao tiếp
được tiên hành dưới nhiều góc độ khác nhau như: Nghiên cứu trí tuệ sáng tạo
dưới góc độ quá trình hoạt dộng sảng tạo, góc độ nhân cách sáng tạo, góc độ
văn hóa, dưới góc độ phân tích sản phẩm, góc độ sinh lý thần kinh, qua các lý
thuyết sảng tạo. Các hướng nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau
về tính sáng tạo, tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu Tính sảng tạo trở thành một
thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ờ con người. Tiềm năng sáng
tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sổng
cụ thể. Khi tạo ra cái mới cho cá nhân, trong kinh nghiệm của một người thi
sáng tạo đó được xem xét trên bình diện cá nhân, còn tạo ra cái mới liên quan
đán cả một nền văn hoá thì sáng tạo đó được xem xét trên bình diện xã hội.
Sự khác nhau giữa bình diện cá nhân và bình diện xã hội là mức độ của sự
sáng tạo và nhìn chung sáng tạo ở góc độ xã hội thường được đánh giá cao
hơn ở góc độ cá nhân. Sáng tạo cá nhân có ỷ nghĩa rất quan trọng đối với sự
phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền dề của sáng tạo xả hội - điều kiện
không thể thiếu cho sự phát triển của một xã hội, một nền văn hoá.
Việc đánh giá tính sáng tạo là dựa trên các thành phần của tính sáng
tạo. Có các nhận định khác nhau về thành phần của tinh sáng tạo, nhìn chung
tính sáng tạo có các thành phần sau:
10
- Thành phần tính mềm dẻo, linh hoạt (flexibility): Tính mềm dẻo là
khả năng chủ thể biển đổi thông tin, kiến thức đã tiếp thu được một cách dễ
đàng, nhanh chỏng tù góc độ, quan niệm này sang góc độ và quan niệm khác.
Chủ thể chuyển đổi sơ đổ tư duy có sẵn trong đầu sang một bệ tư duy khác,
chuyển đổi từ phương pháp cũ sang hệ thống phương pháp mới, chuyển đổi từ
hành động trở thành thói quen sang một hành động mới, gạt bỏ sự cứng nhắc
mà con người đã có để thay đổi sự nhận thức dưới một góc độ mới, thay đổi
cà những thải độ đã cổ hữu trong hoạt động tinh thần, trí tuệ.
- Thành phần tính lưu loát, trôi chảy (fluency): Thảnh phần tính Lưu
loát, trôi chảy là năng lực tổ hợp, tạo ý tưởng mới, kết họp các yếu tổ riêng lẻ
của tình huống, hoàn cảnh, sự vật nhanh chóng. Nhiều khỉ năng lực này là sự
khoa học.
Triết học Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển
chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan, phương
pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Kinh tế
chính trị Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, chủ yếu là
các quy luật kinh tế về sự ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa và quá trình hình thành, phát triển của phương thức sản xuất
mới. Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật của quá trình
cách mạng xã hội chủ nghĩa, quá trình chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội
mới (xã hội chủ nghĩa) và tiến tới chủ nghĩa cộng sản.
Hàng ngày, chúng ta luôn đứng trước những sự kiện, hiện tượng, những
vấn đề, những công việc mà cuộc sống đặt ra cần phải suy nghĩ, nhận biết và
tìm biện pháp giải quyết. Muốn giải quyết tốt, đòi hỏi chúng ta phải có cách
nhìn nhận sự việc đúng đắn, sâu sắc và tìm ra biện pháp phù hợp. Việc học
tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là để xây
dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Nói một cách nôm na, tức là
học cách nhìn nhận sự việc, học cách xử lý công việc của chủ nghĩa Mác để
áp dụng vào giải quyết những công việc thực tế hàng ngày của chúng ta một
12
cách có hiệu quả. Việc nắm vững những nội dung của môn Những nguyên lý
cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng những là điều kiện tiên quyết để hiểu rõ
cơ sở lý luận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng
của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là nền tảng cơ sở để học tập, nghiên
cứu các môn khoa học khác, đặc biệt các môn kinh tế chuyên ngành; vận
dụng nó một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của đời sống. Như vậy,
rõ ràng việc học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-
Lênin là hết sức cần thiết đối với bản thân mỗi người. Một khi đã thấy rõ được
tầm quan trọng, tính thiết thực của môn học thì cần phải xác định đúng động
cơ, thái độ của việc học tập ngay từ đầu. Học không cốt chỉ để đủ điểm mà cái
chính yếu là để vận dụng nó vào giải quyết những công việc hàng ngày của
thầy cô giáo các em cần phải nhanh chóng đổi mới phương pháp học tập, xây
dựng cho mình phương pháp học tập phù hợp, từ bỏ những thói quen xấu, học
vẹt, học dồn, học tủ, chuyển sang phương pháp học tập mới, hình thành thói
quen chủ động nghiên cứu, tạo lập kỹ năng sưu tầm, tra cứu tài liệu, sử dụng
các phương tiện học tập, tìm kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề để lĩnh hội
tri thức. Khi học trên lớp, không cần phải ghi chép nhiều, chỉ cần ghi tóm
lược những ý chính và phải cố gắng lắng nghe để hiểu đúng tinh thần, thực
chất của vấn đề. Khi về nhà cần đọc nhiều tài liệu, sách báo, tạp chí ; trước
hết là đọc lại giáo trình để hiểu rõ các thuật ngữ, khái niệm, phạm trù, nguyên
lý, quy luật; tiếp đến là đọc các tài liệu tham khảo có liên quan; đối chiếu, liên
hệ với thực tiễn để bổ sung kiến thức. Để có kiến thức sâu rộng và nhớ lâu,
không những cần phải lắng nghe bài giảng của thầy, sử dụng các phương tiện
học tập để tự học mà còn cần phải tích cực tham gia trao đổi, thảo luận, tranh
luận cùng với bạn bè trong nhóm, trong lớp. Ông cha ta từ xa xưa đã từng có
câu “học thầy không tày học bạn” là cũng vì lẽ đó.
Thứ ba, tổ chức thực hiện tốt việc thảo luận, tranh luận
Trong xu thế dạy học hiện đại, hầu hết các trường đại học, cao đẳng
trong và ngoài nước đặc biệt chú trọng hình thức thảo luận. Hoạt động thảo
14
luận có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học trong quá trình lĩnh hội tri thức; tạo nên môi trường hợp tác, tương trợ
giúp đỡ giữa các thành viên với nhau, hình thành tinh thần trách nhiệm của cá
nhân đối với tập thể, tạo lập thói quen chủ động, tự giác học tập, làm việc;
hình thành thói quen, kỹ năng tổ chức, giao tiếp, tự đánh giá kết quả hoạt
động của cá nhân và của tập thể. Thông qua hoạt động thảo luận, tranh luận
trong tập thể, vốn hiểu biết, kinh nghiệm, năng lực, trình độ của mỗi cá nhân
sẽ bộc lộ, đồng thời quá trình nhận thức cá nhân sẽ được điều chỉnh, phát triển
nâng lên trình độ cao hơn; nguồn tri thức của các cá nhân sẽ được tối đa hóa
do nhờ kết hợp được trí tuệ, sức sáng tạo cá nhân với tập thể nhóm và lớp.
Hình thức thảo luận đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác chặt chẽ giữa các
Từ những suy nghĩ và sự việc của cá nhân bản thân, tôi đem ra trao đổi
và hy vọng các bạn sẽ tìm thấy được những điều bổ ích và nhận được những
sự giúp đỡ, hướng dẫn thiết thực từ phía thầy cô và nhà trường để phấn đấu
hoàn thành xuất sắc việc học tập của mình.
16