QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THANH SƠN NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THỊ OANH
cảm ơn sâu sắc tới:
TS. Vũ Thị Trâm – Trường Đại học Dược Hà Nội
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương- Phó trưởng bộ môn Quản lý và kinh tế
dược - Trường Đại học Dược Hà Nội
Đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành luận
văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội,
Phòng đào tạo sau đại học – Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho em được học tập và nghiên cứu.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội,
đặc biệt là các thầy cô Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã hết lòng giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quá trình học tập
tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện Đa
khoa huyện Thanh Sơn đã quan tâm tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn .
Xin dành những lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp, những người đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ để em hoàn thành
luận văn này.
Thanh Sơn, ngày 20 tháng 3 năm 2014
Học viên Trần Thị Oanh
MỤC LỤC Trang
14
1.3.3. Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực khoa Dược năm 2012
16
1.3.4. Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012
18
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
20
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
20
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
20
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
20
2.2. Phương pháp nghiên cứu
20
2.3. Cách tiến hành
20
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu
20
2.4.1
.
34
3.2.2. Giám sát chỉ định thuốc trong kê đơn BHYT ngoại trú
39
3.2.3 Hoạt động giám sát ADR của thuốc và sai sót trong điều trị
45
3.2.4. Hoạt động quản lý, giám sát thông tin thuốc trong bệnh viện
47
Chương 4. BÀN LUẬN 51
KẾT LUẬN
57
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
59
ADR Adverse Drug Reaction Phản ứng có hại của thuốc
BMI Business Monitor Internatinal
Công ty khảo sát thị trường Quốc tế
GLP Good Laboratory Practices Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc
GMP Good Manufacturing Practice Thực hành tốt sản xuất thuốc
GPP Good Pharmacy Practice Thực hành tốt cung ứng thuốc
GSP Good Storage Practice Thực hành tốt bảo quản thuốc
ISO
International Organization for
Standardization
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa
WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
BHYT Bảo hiểm y tế
BN Bệnh nhân
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
BYT Bộ Y tế
DD
Dung dịch
ĐDĐT Điều dưỡng điều trị
ĐDHC Điều dưỡng hành chính
DMTBV Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY
Danh mục thuốc thiết yếu
DSĐH
Dược sỹ đại học
DVYT Dịch vụ y tế
GTSD
Giá trị sử dụng
Bảng 3.10
Cơ cấu chi phí sử dụng nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng,
chống nhiễm khuẩn 32
Bảng 3.11 Kháng sinh beta- lactam sử dụng tại bệnh viện năm 2012 33
Bảng 3.12
Hoạt động bình bệnh án của HĐT&ĐT BV Thanh Sơn năm
2012 34
Bảng 3.13 Kết quả thực hiện quy chế chuyên môn trong bệnh án 35
Bảng 3.14 Số ngày điều trị trung bình 36
Bảng 3.15 Số thuốc trung bình trong một bệnh án 36
Bảng 3.16 Chi phí thuốc điều trị trung bình một ngày 37
Bảng 3.17
Hoạt động bình đơn thuốc BHYT ngoại trú của HĐT& ĐT
Bệnh viện Thanh Sơn năm 2012 40
Bảng 3.18 Kết quả khảo sát việc thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 40
Bảng 3.19 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc 41
Bảng 3.20 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc, tên thương mại 43
Bảng 3.21
Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc
tiêm 43
Bảng 3.22 Chi phí trung bình cho một lần kê đơn 44
Bảng 3.23 Hoạt động theo dõi, xử trí, báo cáo ADR của thuốc 46
Bảng 3.24
Phương tiện sử dụng và tài liệu tổ thông tin thuốc
48
Bảng 3.25
Các hoạt động thông tin thuốc năm 2012
48
Bảng 3.26
Các hình thức thông tin thuốc
viện, ảnh hưởng tới kinh tế của người bệnh.
2
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các
quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị(HĐT&ĐT) tại các bệnh viện.
Hội đồng thuốc và điều trị được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an
toàn và hiệu quả sử dụng thuốc tại các bệnh viện. Hội đồng thuốc và điều
trị( HĐT&ĐT) là một diễn đàn cho tất cả các bên có liên quan cùng hợp tác
nhằm đưa ra quyết định về sử dụng thuốc với mục đích đảm bảo cho người
bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp. Như vậy
HĐT&ĐT có thể được xem như một công cụ để nâng cao hơn nữa tính
hi
ệu quả, hợp lý trong sử dụng thuốc.
Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ là một bệnh viện
hạng III, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, nhiệm vụ
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trên địa bàn huyện và nhân dân các
huyện lân cận. Trong những năm trước đây, chưa có sự nghiên cứu đánh
giá nào về vấn đề quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. Nhằm góp phần
nâng cao chất lượng quản lý sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa huyện
Thanh Sơn, đề tài “Khảo sát hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh
viện Đa khoa Thanh Sơn năm 2012” được tiến hành với hai mục tiêu:
1. Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng tại bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
năm 2012.
2. Mô tả hoạt động của HĐT&ĐT bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
năm 2012 qua việc bình bệnh án, đơn thuốc BHYT ngoại trú, giám sát
phản ứng có hại của thuốc và quản lý thông tin thuốc của Hội đồng.
Để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng quản lý sử dụng
thuốc tại Bệnh viện Đa khoa huyện Thanh Sơn trong thời gian tới.
đường cấp từ 20-30 triệu đồng Đồng thời, các cơ sở y tế cũng phải tăng
4
đầu tư các trang thiết bị y tế đắt tiền để phát hiện và điều trị các bệnh không
lây nhiễm, tuyển chọn và đào tạo thêm các bác sĩ chuyên khoa, kéo theo
tăng chi phí dịch vụ[17].
* Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
Theo đánh giá của Tổ chức y tế thế giới về mức độ đáp ứng của hệ
thống y tế, Việt Nam là 1 trong 33 nước có dưới 1 giường bệnh/1000 người
và các bệnh viện công lập đang trong tình trạng quá tải. Mặc dù hệ thống
bệnh viện tư nhân tăng trưởng đáng kể, tuy nhiên còn chưa đủ mạnh, mặt
khác do lượng bệnh nhân phần lớn tập trung ở khối bệnh viện công lập nên
tỷ lệ người dân/giường bệnh vẫn chưa được cải thiện. Việc cung ứng thuốc
phục vụ nhu cầu điều trị được các công ty dược chủ yếu tập trung vào thị
trường bệnh viện công thông qua đấu thầu. Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc
kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so
với năm 2009 (38,4). Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong
cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009. Vitamin giảm từ
6,5% (năm 2009) xuống còn 4,7% (năm 2010). Đây là tín hiệu đáng mừng
trong công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc
biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi
phí không cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh.
Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động
của Hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng
thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và
vitamin, nâng cao chất lượng điều trị. Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong
tổng số tiền sử dụng thuốc cao, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt
Nam có tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình
trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn khá phổ biến. Theo báo cáo của
BMI(Business Monitor International), năm 2008 Việt Nam đã chi khoảng
thực hiện các tiêu chuẩn thực hành tốt trong tất cả các khâu sản xuất, cung
ứng, lưu thông thuốc. Đến cuối năm 2011 đã đạt mục tiêu 100% doanh
nghiệp sản xuất thuốc tân dược đạt tiêu chuẩn GMP theo khuyến cáo của
WHO(113 cơ sở), 100% cơ sở kiểm nghiệm thuốc đạt nguyên tắc tiêu
chuẩn GLP theo khuyến cáo của WHO hoặc ISO 17025, và 158 cơ sở đạt
tiêu chuẩn thực hành tốt bảo quản thuốc(GSP). Việc thực hiện báo cáo kết
quả nghiên cứu tương đương sinh học trong hồ sơ đăng ký thuốc áp dụng
đối với 12 dược chất theo Thông tư 08/2010/TT-BYT" Hướng dẫn báo cáo
số liệu nghiên cứu sinh khả dụng/ tương đương sinh học trong đăng ký
thuốc" là nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả điều trị của thuốc lưu hành trên thị trường[16].
Vấn đề về thông tin thuốc và sự hiểu biết của công chúng về sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn còn nhiều hạn chế, mặc dù công tác dược lâm sàng
không phải là mới, tuy nhiên cho đến nay vẫn tập trung ở một số bệnh viện
Trung ương và một số bệnh viện lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoa dược bệnh viện đã triển khai công tác dược lâm sàng, hướng dẫn sử
dụng thuốc an toàn hiệu quả, nhưng nhìn chung chức năng này còn khá mờ
nhạt, công việc chủ yếu vẫn là cùng tham gia xây dựng Danh mục thuốc sử
dụng trong bệnh viện và tham mưu cho Lãnh đạo bệnh viện trong công tác
đấu thầu thuốc. Các bệnh viện tuyến tỉnh, đặc biệt là tuyến huyện thì công
tác dược lâm sàng chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình trạng thiếu dược sĩ đại
học và trên đại học ở các địa phương chính là nguyên nhân dược lâm sàng
không phát triển được. Tại một số bệnh viện, do còn thiếu tính khoa học
nên Khoa Dược lúng túng, tổn hao nhân lực và thời gian cho công tác đầu
thầu thuốc mà lãng quên nhiều nhiệm vụ khác.
1.2. Một số vấn đề liên quan đến quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện
7
1.2.1. Quy trình sử dụng thuốc trong bệnh viện
8
đơn, các vấn đề về đơn thuốc và kê đơn thuốc. Thông tư 23/2011/TT-BYT
ngày 10/6/2011của Bộ Y tế" hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế
có giường bệnh''[8].
Thuốc chỉ định cho người bệnh cần bảo đảm các yêu cầu: Phù hợp
với chẩn đoán và diễn biến bệnh; phù hợp tình trạng bệnh lý và cơ địa
người bệnh; phù hợp với tuổi và cân nặng; phù hợp với hướng dẫn điều trị
và không được lạm dụng thuốc.
Việc chỉ định dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc, hồ
sơ bệnh án, không viết tắt tên thuốc, không ghi ký hiệu. Trường hợp sửa
chữa bất kỳ nội dung nào phải ký xác nhận bên cạnh. Chỉ định thuốc đảm
bảo đầy đủ các nội dung: tên thuốc, nồng độ, liều dùng một lần, số lần
dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm
dùng thuốc, đường dùng thuốc và những chú ý đặc biệt khi dùng thuốc.
Ghi chỉ định thuốc theo trình tự: đường tiêm, uống, đặt, dùng ngoài và các
đường dùng khác. Đánh số thứ tự ngày dùng theo quy định các thuốc gây
nghiện, hướng tâm thần và một số thuốc khác.
Hiện nay, nhiều bệnh viện kể cả tuyến huyện đã cài đặt hệ thống
mạng Lan, thuận tiện cho việc kê đơn, hướng dẫn sử dụng thuốc đặc biệt
trong điều trị ngoại trú. Tuy nhiên, việc chỉ định thuốc trong hồ sơ bệnh án
vẫn còn có tồn tại: ghi tên thuốc chưa rõ ràng, thiếu chính xác về nồng độ,
hàm lượng, chưa phù hợp về liều dùng, khoảng cách dùng, thời điểm dùng,
chưa quan tâm đến những vấn đề xảy ra khi dùng thuốc: tương tác, tương
kỵ Việc chỉ định thời gian dùng thuốc phải tuân thủ theo hướng dẫn của
Bộ Y tế.
Trường hợp người bệnh cấp cứu, thầy thuốc chỉ định thuốc theo
diễn biến của bệnh. Trường hợp người bệnh cần theo dõi để lựa chọn thuốc
hoặc lựa chọn liều thích hợp, thầy thuốc chỉ định thuốc hàng ngày. Thầy
thuốc căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đường dùng của
công khai thuốc được kẹp ở đầu hoặc cuối giường bệnh và hướng dẫn, giải
thích cho người bệnh tuân thủ điều trị.
Điều dưỡng kiểm tra, đối chiếu với y lệnh về tên thuốc, nồng độ,
hàm lượng, liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách
10
giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và đường dùng thuốc, kiểm
tra hạn sử dụng và chất lượng cảm quan của thuốc nhằm phát hiện những
bất thường trong y lệnh hoặc dùng nhiều thuốc đồng thời gây tương tác
báo cáo với thầy thuốc điều trị hoặc thầy thuốc trực. Chuẩn bị các phương
tiện cho người bệnh dùng thuốc, phương tiện vận chuyển thuốc phải đảm
bảo sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, dễ thấy. Trên các xe tiêm phải chuẩn bị sẵn
sàng hộp thuốc cấp cứu và phác đồ chống sốc đối với thuốc phải dùng
đường tiêm. Khi người bệnh dùng thuốc cần đảm bảo 5 đúng, điều dưỡng
trực tiếp chứng kiến người bệnh dùng thuốc và theo dõi phát hiện kịp thời
các bất thường của người bệnh trong khi dùng thuốc.
Sau khi người bệnh dùng thuốc phải theo dõi người bệnh thường
xuyên để kịp thời xử trí các bất thường của người bệnh, ghi chép đầy đủ
các diễn diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ b
ệnh án.
Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời
các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc, báo
với dược sĩ khoa dược khi xảy ra ADR của thuốc.
Như vậy, trong quá trình giám sát tuân thủ hướng dẫn sử dụng thuốc,
cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa bác sỹ- dược sỹ- điều dưỡng và người
bệnh. Đây là mối quan hệ khăng khít, tạo nên vòng tròn khép kín trong quá
trình điều trị mà bệnh nhân là đối tượng trung tâm cần được chăm sóc.
1.2.2. Hội đồng thuốc và điều trị( HĐT&ĐT)
Hội đồng thuốc và điều trị( còn gọi là Hội đồng) được thành lập ở tất
cả các bệnh viện, do Giám đốc bệnh viện ra quyết định thành lập, hoạt
nhân lực và trang thiết bị hiện có của đơn vị, phản ánh quy tắc thực hành
hiện thời, đơn giản, dễ hiểu và dễ cập nhật. Khi xác định và phân tích các
vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, Hội đồng tập chung đến các vấn đề về
tồn trữ, bảo quản, kê đơn, cấp phát và sử dụng.
Thực hiện Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế,
hầu hết các HĐT&ĐT tại các bệnh viện đã được Giám đốc bệnh viện ra
12
quyết định thành lập các tiểu ban và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng
thành viên trong tiểu ban. Tuy nhiên, hầu hết tại các bệnh viện tuyến huyện
việc giám sát sử dụng kháng sinh và theo dõi sự kháng thuốc của vi khuẩn
gây bệnh đều chưa thực hiện được do nhiều yếu tố: nhân lực, cơ sở vật
chất Việc Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong
điều trị của HĐT&ĐT hiện nay được thực hiện theo Quyết định 1088/QĐ-
BYT ngày 04/4/2013 của Bộ Y tế. Theo báo cáo năm 2012 của trung tâm
DI & ADR quốc gia, trung tâm đã tiếp nhận tổng số 3236 báo cáo phản ứng
có hại của thuốc( tăng 25,6% so với năm 2011), trong đó có 3024 báo cáo
được gửi từ các cơ sở điều trị, các bện viện da khoa là các đơn vị chính gửi
báo cáo(chiếm 63,4% số lượng đơn vị báo cáo)[18].
Trong việc thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc, Hội đồng thuốc
và điều trị có nhiệm vụ chuyển tải các thông tin về hoạt động, các quyết
định và đề xuất tới tất cả những đối tượng thực hiện các quyết định của Hội
đồng. Chỉ đạo đơn vị Thông tin thuốc trong bệnh viện cập nhật thông tin về
thuốc, cung cấp thông tin về thuốc nhằm bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an
toàn trong phạm vi bệnh viện. Tư vấn cho Giám đốc bệnh viện xây dựng,
ban hành và triển khai qui định về hoạt động giới thiệu thuốc trong phạm vi
bệnh viện. Cung cấp thông tin thuốc là nhiệm vụ cơ bản của người dược sĩ
nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả - một trong
những mục tiêu hàng đầu trong công tác điều trị. Tại các bệnh viện hiện
nay, nhu cầu thông tin thuốc đối với bác sỹ, dược sỹ và các nhân viên y tế
thổi ngạt sơ sinh; phẫu thuật cắt tử cung bán phần; nối động mạch tử cung;
đỡ đẻ ngôi ngược; đặt katheter tĩnh mạch trung tâm; Phẫu thuật thay thể
thuỷ tinh; Hút dịch khí màng phổi; Kỹ thuật kéo giãn cột sống thắt lưng;
Điều trị bằng các dòng điện xung vv. Đặc biệt, bệnh viện đã triển khai
chương trình đơn nguyên sơ sinh rất hiệu quả. Các kỹ thuật cận lâm sàng
phục vụ chẩn đoán: Chụp X-quang tim phổi, lồng ngực bằng kỹ thuật tăng
sáng; điện tim; siêu âm ổ bụng; xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu, xét
nghiệm nước tiểu 10 thông số, xét nghiệm công thức máu vv. Bệnh viện
được lắp đặt hệ thống phần mềm Microsoft thuận tiện cho việc quản lý
khám, chữa bệnh tại đơn vị[19].
14
1.3.1. Mô hình tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn:
BAN GIÁM ĐỐC
BAN CHẤP HÀNH
ĐẢNG UỶ
CÁC PHÒNG
CHỨC NĂNG KHỐI
LÂM
SÀNG
KHỐI CẬN
LÂM SÀNG
- Phòng Tài chính
1.3.2. Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa Thanh Sơn
Năm 2012, Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện Đa khoa huyện
Thanh Sơn được kiện toàn theo quyết định số 63/QĐ-BV ngày 01/03/2012
của Giám đốc bệnh viện, gồm 13 người. Chủ tịch Hội đồng là Phó Giám
đốc phụ trách điều trị, phó chủ tịch Hội đồng kiêm uỷ viên thường trực là
trưởng khoa Dược, thư ký Hội đồng là trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp,
các thành viên còn lại là trưởng các khoa Lâm sàng, Cận lâm sàng trong
bệnh viện và điều dưỡng trưởng bệnh viện.
Hoạt động của HĐT&ĐT được thực hiện dựa trên kế hoạch hoạt
động đã xây dựng theo tháng, quý, năm. Họp sơ kết hoạt động của Hội
đồng: Quý họp 01 lần vào tuần cuối của tháng cuối quý; Họp bình bệnh án,
15
đơn thuốc: Tháng họp 01 lần vào thứ năm của tuần cuối tháng. Trong năm
2012, số lượng bệnh án và đơn thuốc được bình là 98 bệnh án và 180 đơn
thuốc. Nội dung bình bệnh án đơn thuốc được thực hiện theo bảng 1.1.
Bảng 1.1. Tiêu chí bình bệnh án, đơn thuốc
STT Nội dung Yêu cầu
1
Thủ tục hành
chính
Bệnh án, đơn thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng, chính
xác và đúng quy định các cột mục trên hồ sơ bệnh
án, đơn thuốc.
2
Khám bệnh,
chẩn đoán
Bệnh sử phải khai thác tỉ mỉ, chi tiết và ghi chép
những triệu chứng chính.
Phải thăm khám kỹ toàn diện và điền đầy đủ các
chăm sóc cấp 1. Theo dõi sát người bệnh, ghi chép
đầy đủ, chính xác, trung thực các diễn biến của
người bệnh vào phiếu theo dõi, phiếu chăm sóc.
7
Hoàn tất hồ
sơ, thủ tục
Bệnh án phải kẻ hết ngày điều trị, tóm tắt sau 15
ngày điều trị. Bệnh nhân ra viện phải có tổng kết
bệnh án và rút kinh nghiệm. Lãnh đạo khoa hoặc
người được uỷ quyền ký và ghi rõ họ tên.
16
Năm 2012, Hội đồng thuốc đã xây dựng được quy trình cấp phát thuốc
từ khoa Dược đến người bệnh nhằm đảm bảo thuốc được sử dụng đúng, an
toàn.
1.3.3. Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực khoa Dược bệnh viện năm 2012
1.3.3.1.Mô hình tổ chức
TRƯỞNG KHOA DƯỢC
Nghi
ệp vụ
dược
Kho và
cấp phát