BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Hoàng Xuân Dương
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN BÌNH LIÊU NĂM 2011
Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp 1 Hà Nội, 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI Hoµng xu©n D-¬ng
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG
THUỐC TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN BÌNH LIÊU NĂM 2011 LuËn v¨n d-îc sÜ chuyªn khoa CẤP 1 CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ :
CK1 60 73 20
Người hướng dẫn koa học:
Tiến sỹ. Nguyễn Thị Thanh Hương
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện: Từ t
háng sáu đến tháng mười
hai năm 2012.
Hµ néi, 2013
Ds Hoàng Xuân Dương Danh môc b¶ng
TT
Tªn b¶ng
trang
1.1 Giá trị sử dụng thuốc trên đầu người từ năm 2002 > 2010
17
1.2 Mô hình cơ cấu nhân lực Trung tâm Y tế năm 2011
18
1.3 Số lượt khám chữa bệnh tại TTYT năm 2011
23
1.4 Mô hình bệnh tật Trung tâm Y tế Bình liêu năm 2011
24
3.5 Tỷ trọng nhóm các nhóm thuốc trong DMT
32
3.6 Tỷ lệ phân bố các công ty cung ứng cho TTYT năm 2011
33
3.7 Tỷ lệ kinh phí sử dụng thuốc của TTYT năm 2011
34
3.8 Tỷ lệ chi mua thuốc và sử dụng TTYT năm 2011
35
3.9 Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
35
3.10 Tỷ lệ thuốc thiết yếu và không thiết yếu
36
1.4 Sơ đồ mô hình tổ chức TTYT năm 2011 19
1.5 Sơ đồ tổ chức khoa dược Trung tâm Y tế năm 2011 22
3.6 Quy trình xây dựng DMT Trung tâm Y tế năm 2011 30
3.7 Biểu đồ tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước- nhập khẩu 36
3.8 Biểu đồ so sánh thuô thiết yếu- thuốc không thiết yếu 37
3.9 Biểu đồ thuốc mang tên gốc- tên thương mại 38
3.10 Biểu đồ tỷ lệ mua thuốc của mỗi công ty năm 2011 40
3.11 Biểu đồ tỷ lệ kinh phí mua của các công ty năm 2011 41
3.12 Hệ thống kho bảo quản thuốc năm 2011 43
3.13 Quy trình cấp phát thuốc người bệnh 45
3.14 Kho cấp phát lẻ cho bệnh nhân năm 2011 46
3.15 Số thuốc trung bình/đơn và tỷ lệ kê tên gốc 50
3.16 Tỷ lệ đơn thuốc kê tên kháng sinh và corticoid 51
C¸c ch÷ viÕt t¾t
Ch÷ viÕt t¾t TiÕng anh TiÕng viÖt
ADR Adverse Drug Reaction Tác dụng không mong muốn của
thuốc
BYT Bộ Y tế
BHYT Bảo hiểm Y tế
CBVC Cán bộ viên chức
DMT Danh mục thuốc
DMTTY Danh mục thuốc thiết yếu
DLS Dược lâm sàng
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
xuất trong nước ngày càng nhiều đa dạng chủng loại mặt hàng phần nào
gây khó khăn cho công tác quản lý kiểm soát chất lượng, do đó Bộ Y tế đã
ban hành nhiều thông tư, chỉ thị nhằm thực hiện tốt chính sách quốc gia về
thuốc.Chỉ thị 03/
1997/BYT-CT ngày 25/02/1997, Chỉ thị 04/1998/BYT-
CT: Ngày 04/3/1998, Chỉ thị 05/2004/CT-BYT:Ngày16/4/2004,Chỉ
thị20/2005/TTLB-BYT-BTC, Thông tư 10/2007/TTLB-BYT-BTC Ngày
10/08/2007 về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, quản lý sử dụng thuốc,
Thông tư số 31/2011/TT-BYT Hà Nội ngày 11 tháng 7 năm 2011 ban hành
và hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở
khám
bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán. Việc sử dụng
thuốc an toàn hiệu quả hợp lý luôn được xã hội coi trọng, sự nghiệp chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó
người làm công tác y tế đóng vai trò chủ đạo. Sức khoẻ là vốn quý nhất của
mỗi con người, chăm s
óc và bảo vệ sức khỏe toàn dân là mục tiêu được
Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả
phụ thuộc vào trình độ bác sĩ kê đơn, dược sĩ cấp phát hướng dẫn sử dụng
và sự tuân thủ điều trị của người bệnh. 1
Cung ứng thuốc luôn giữ vai trò quan trọng trong khám chữa bệnh,
cung ứng đầy đủ kịp thời ảnh hưởng trực tiếp chất lượng khám chữa bệnh.
Việc cung ứng thuốc theo thể thức đấu thầu đã tiết kiệm được chi phí người
bệnh và ngân sách nhà nước. Bên cạnh những mặt tích cực, công tác cung
ứng thuốc không tránh khỏi những tồn tại: Mô hình bệnh tật của từng địa
phương và phác đồ điều trị của từng bệnh viện cũng khác nhau.
Trung
TỔNG QUAN
1.1: Tổng quan về cung ứng thuốc trong Bệnh viện
Trong những năm
qua hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện có nhiều
thay đổi, từ chỗ cung ứng theo kế hoạch của thời kỳ bao cấp, nay mạng
lưới cung ứng thuốc phát triển đa dạng về thành phần và qui mô, ngoài các
doanh nghiệp trong nước còn có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
với nguồn thuốc cung cấp phong phú về hoạt chất và tên thương mại tạo
thuận lợi cho các bệnh viện lựa chọn t
huốc phù hợp với nhu cầu điều trị.
Phương thức mua hàng cũng có nhiều thay đổi trước năm 2005 các bệnh
viện tự tổ chức đấu thầu và chào hàng cạnh tranh. Sau khi thông tư số
20/2005/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc
trong các bệnh viện và các cơ sở Y tế công lập ban hành và tiếp theo là
thông tư 10/TTLT/BYT-BTC bổ sung một số vướng mắc trong đấu thầu đã
giúp các bệnh viện nhiều công cụ trong đấu thầu mua thuốc tạo điều kiện
cung ứng thuốc cho bệnh nhân.Tuy nhiên công tác đấu thầu vẫn còn nhiều
bất cập; một số bệnh viện chưa đấu thầu,
tình trạng chỉ định thầu bảo hộ
độc quyền vẫn còn tồn tại, phê duyệt kết quả đấu thầu còn chậm các thuốc
trượt thầu vẫn còn. [21]
Hoạt động cấp phát đã có cải thiện đáng kể nhiều bệnh viện đã tổ chức
phát thuốc tới tận người bệnh t
heo hướng dẫn của chỉ thị 05/2004/CT-BYT.
Công nghệ thông tin được ứng dụng trong quản lý và cấp phát thuốc đã
giúp tiết kiệm được thời gian và nhân lực.[11]
Sử dụng t
huốc hợp lý an toàn vẫn đang là bài toán khó, tình trạng lạm
dụng, dùng thuốc sai chỉ định vẫn tồn tại ở nhiều cơ sở. Hoạt động dược
Lựa chọn
thuôc
Mua thuốc
Sử dụng
thuốc
Cấp phát
thuốc
HĐT&ĐT/ Mô hình
bệnh tật
Phác đồ điều trị
Hình 1.1 Sơ đồ chu trình cung ứng thuốc
1.1.2: Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là hoạt động phân tích đánh giá sàng lọc để xác định
danh mục thuốc cung ứng. Mục tiêu của lựa chọn thuốc là thuốc sử dụng 4
phù hợp với người bệnh, về tình trạng bệnh tật, thể trạng cũng như khả
năng chi trả. Người thầy thuốc phải hỏi xem những thuốc quen dùng theo
kinh nghiệm bản thân trước đây liệu có hiệu quả và an toàn đối với từng
người bệnh cụ thể, đồng thời liệt kê các thứ thuốc mà mình biết có thể điều
trị phù hợp cho từng người bệnh. Nên sử dụng các thuốc đã quen dùng bởi
những thuốc mới c
hưa hẳn đã có tác dụng tốt hơn mà những tác dụng
không mong muốn có thể xảy ra.Cần hỏi người bệnh về các phản ứng đã
xảy ra khi dùng thuốc trong quá khứ, điều này giúp tránh được nhiều ảnh
hưởng có hại trong quá trình sử dụng thuốc. Để chọn lựa được thuốc phù
toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chi phí tính theo đơn vị của từng
thuốc
- Trong một số trường hợp, sự lựa chọn thuốc còn phụ thuộc vào một số
yếu tố khác như các đặc tính dược động học, thiết bị bảo quản, hệ thống
kho chứa
- Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất
- Thuốc ghi
tên gốc hoặc tên chung quốc tế, tránh đề cập tên biệt dược
hoặc nhà sản xuất cụ thể.
Hội đồng thuốc và điều trị HĐT&ĐT là tổ chức tư vấn cho thủ trưởng
đơn vị về thuốc và các vấn đề liên qua đến thuốc t
rong đơn vị.Thành viên
HĐT&ĐT của Trung tâm do Giám đốc Trung tâ
m quyết định. Hội đồng
thuốc và điều trị cần phải thống nhất tất cả các tiêu chí dựa trên những tiêu
chí của WHO để chọn thuốc một cách khách quan và có cơ sở. [28]
Thành phần của HĐT&ĐT, là những người có kinh nghiệm
và trình độ
chuyên môn cao nhất trong lĩnh vực điều trị gồm phần lớn trưởng các khoa
lâm sàng, Qui mô và thành phần tối ưu của hôi đồng, quy m
ô lớn hay nhỏ
phụ thuộc vào quy mô của đơn vị. Số lượng thành viên ít tạo thuận lợi cho
việc đạt được sự thống nhất. Số lượng thành viên đông sẽ có thuận lợi về
mặt chuyên môn, giảm áp lực công việc cho các thành viên và tạo thuận lợi
cho việc thực thi các quyết định. Cần có đủ số lượng thành viên đại diện
cho tất cả các bên liên quan trong hội đồng bao gồm đại diện cho các khoa
lâm
sàng, bộ phận quản lý và khoa dược. Thành viên hội đồng bao gồm :
- Đại diện các khoa lâm
sàng với các mảng chuyên môn khác nhau:
Y tế
rất thuận lợi cho việc đấu thầu hay áp thầu cung ứng thuốc. Năm 2011
Trung tâm Y tế mua thuốc dựa trên kết quả đấu thầu cung ứng thuốc tập
trung tại Sở Y tế.
Hoạt động mua thuốc có liên quan đáng kể tới chất lượng thuốc, quá
trình mua thuốc hiệu quả gồm nhiều bước, HĐT&ĐT phải
giám sát quá
trình mua thuốc và đảm bảo rằng các quy trình mua thuốc được tiến hành
theo đúng quy định và tuân thủ thực hành mua thuốc tốt. Trong cơ chế thị
trường hoạt động mua thuốc bị chi phối bởi nhiều yếu tố, để thuốc đến
được với người bệnh với giá cả phù hợp và chất lượng đạt tiêu chuẩn đòi 7
hỏi phải thực hiện tốt các bước trong chu trình mua sắm thuốc gồm các
bước như trong sơ đồ sau:
Kiểm nhập thuốc
và kiểm tra 8
tranh. Các nhà cung ứng phải đảm bảo đủ tư cách pháp nhân đáp ứng các
yêu cầu của đơn vị sử dụng.[10],
Chọn phương thức mua:
Có
nhiều phương thức mua thuốc: mua theo hình thức đấu thầu: đấu
thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào giá cạnh tranh, mua
sắm trực tiếp, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
Chỉ thị số 03/BYT-
CT của Bộ Y tế ban hành ngày 25/02/1997 đó
nêu rõ: "Việc mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn
thầu, chỉ định thầu công khai theo quy định của Nhà nước". Hiện nay, hệ
thống pháp lý về đấu thấu được tổng hợp thành sơ đồ như ở hình 1.3.
Nghị định 85/2009/NĐ-CP
Thông tư
01/2012/TTLT-BYTBTC ngày19/01/2012, Thông tư 11/2012/TTLT-BYT-9
BTC, Thông tư 05/2010/KHĐT ngày 10/02/2010. Theo đó, tuỳ theo giá trị
và đặc điểm của gói thầu mà Bệnh viện chọn một trong các phương thức :
+ Đấu thầu rộng rãi:
- Áp dụng cho tất cả các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh.
- Không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự, đây là hình thức được
áp dụng phổ biến nhất.
+ Đầu thầu hạn chế:
- Áp dụng cho gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật, có tính chất
nghiên cứu thử nghiệm mà
chỉ một số nhà thầu đáp ứng được.
- Phải mời tối thiểu là 5 nhà thầu có đủ năng lực tham dự.
+ Chỉ định thầu:
- Lựa chọn trực tiếp nhà thầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng.
- Các trường hợp áp dụng:
Trường hợp khẩn cấp (thiên tai, dịch bệnh), mọi thủ tục dưới 15
ngày
Gói thầu theo yêu cầu của nhà đầu tư
Gói thầu thuộc dự án bí mật q
uốc gia
Gói thầu mua sắm hàng hóa dưới 1 tỷ đồng
Gói thầu mua sắm thường xuyên dưới 100 triệu
+ Chào hàng cạnh tranh:
Gói thầu có giá dưới 2 tỷ, áp dụng với mua sắm hàng hóa thông
thường, phải có ít nhất 3 báo giá từ 3 nhà thầu khác nhau.
+ Mua sắm trực tiếp:
Thông tư số 1/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 hướng dẫn đấu
thống nhất các điều khoản thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên theo
pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Trưởng khoa dược uỷ quyền cho thủ kho chính
lập dự trù thuốc cho từng t
háng và gửi cho nhà cung ứng được lựa chọn.
Dự trù này phải được trưởng khoa dược, trưởng phòng TCKT ký và Giám
đốc bệnh viện phê duyệt mới có hiệu lực và là cơ sở để đặt hàng.
* Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng: 11
Dự trù thuốc sau khi được gửi đi trong từ 3- 7 ngày nhà cung ứng
phải giao đủ hàng tại địa điểm giao hàng là kho chính khoa dược bệnh viện.
Trong trường hợp có khó khăn đột xuất hoặc trường hợp bất khả kháng,
nhà cung ứng phải thông báo cho khoa dược biết để phối hợp giải quyết.
Bên đặt hàng phải giám
sát đơn đặt hàng về số lượng thuốc, chủng
loại, chất lượng, giá cả, tiến độ, giao hàng như đã quy định trong hợp đồng.
* Nhận thuốc và kiểm nhận:
Tất cả các loại thuốc phải được kiểm nhập trước khi nhập kho, Hội
đồng kiểm nhập do Giám
đốc bệnh viện bổ nhiệm. Thành phần Hội đồng
kiểm nhập gồm: trưởng khoa dược, trưởng phòng Tài chính - kế toán, thủ
kho, thống kê dược, cán bộ cung ứng. Khi tiến hành nhận thuốc phải kiểm
tra chất lượng thuốc bằng cảm quan, kiểm tra chủng l
oại, số lượng chất
lượng thuốc đối với mọi nguồn mua theo các yêu cầu sau:
-
Khi kiểm nhập cần tiến hành đối chiếu giữa hoá đơn với thực tế và
kết quả thầu về các chi tiết của từng mặt hàng như: tên thuốc, hàm
quá trình bảo quản theo quy định cho từng loại sản phẩm khác nhau,
bao gồm việc cất giữ hàng hóa trong kho, xuất, nhập kho hợp lý khoa
học, quá trình kiểm kê và kiểm soát.
Thực hiện qui tắc first in first out (FIFO), kho thuốc phải được thiết
kế theo tiêu chuẩn GSP, thuốc phải được bảo quản trong kho có đầy đủ
điều kiện cần thiết, có hệ thống thông gi
ó thoáng mát, có điều hoà nhiệt độ,
chống nóng, chống ẩm mốc, mối mọt, có
ẩm kế, nhiệt kế…Thực hiện bảo
quản đúng điều kiện ghi trên nhãn (Ví dụ: vaccin, sản phẩm sinh học phải
bảo quản ở nhiệt độ phù hợp với từng loại). Thuốc gây nghiện, hướng thần
phải được bảo quản theo đúng quy chế (có tủ riêng có khoá chắc chắn, do
DSĐH quản lý) hoặc giám đốc uỷ quyền bằn văn bản cho DSTH quản lý…
Thống kê báo cáo cập nhật số lượng hàng nhập, xuất và đối chiếu định
kỳ hoặc đột xuất với thủ kho.
Kiểm kê thuốc định kỳ tại các kho hàng tháng, hàng quý và cuối năm,
hoặc kiểm tra đột xuất.
Căn cứ vào tình hình nhân lực của khoa dược, nhân lực khoa lâm sàng
và căn cứ nhu cầu điều trị của đơn vị để xây dựng quy trình cấp phát thuốc.
Hiện nay khoa dược chưa đưa thuốc đến khoa lâm sàng, khoa lâm sàng đến
nhận thuốc tại khoa dược theo quy định của ban giám đốc Trung tâm y tế.
Khi giao nhận phải kiểm tra đối c
hiếu khi cấp phát thuốc.
3 Kiểm tra:
- Kiểm tra thể thức phiếu lĩnh thuốc hoặc đơn thuốc
- Kiểm tra số lượng, hàm lượng 13
- Kiểm tra tên thuốc, chất lượng thuốc
Công tác thông tin tư vấn về sử dụng thuốc có ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả điều trị. Thông tin về tên thuốc, hoạt chất, liều dùng, liều độc, xử lý
quá liều, hiệu chỉnh liều cho các đối tượng đặc biệt. Tư vấn cho bác sĩ kê
đơn lựa chọn thuốc trong điều trị. Hướng dẫn về sử dụng thuốc cho điều
dưỡng, người bệnh nhằm tăng cường sử dụng thuốc an toàn
hợp lý. Theo
dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) trong đơn vị và gửi 14
về “Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của
thuốc”.
Việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý sẽ góp phần quan trọng vào kết quả
điều trị. Việc lạm dụng thuốc, không thực hiện kê đơn tốt, sử dụng thuốc
không đúng chỉ dẫn sẽ giảm chất lượng điều trị, gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho sức khoẻ và tính mạng người bệnh, giảm hiệu quả kinh tế
gây tổn thất về kinh tế-xã hội.
Mặt khác nó làm tăng nguy cơ xảy ra phản
ứng có hại và làm cho bệnh nhân lệ thuộc quá mức vào thuốc.
1.2: Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Thế giới
Suốt mấy chục năm
qua chi phí sử dụng thuốc trên thế giới ngày càng
tăng, với tỷ lệ tăng hàng năm khoảng 9 – 10%. Tuy nhiên sự phân bố tiê
u
dùng thuốc trên thế giới rất chênh lệch giữa các nước phát triển và các
nước đang phát triển. Năm 1076 các nước phát triển chiếm 27% dân số thế
giới đã sử dụng hơn 75% lượng thuốc được sản xuất. Sau 10 năm thì
khoảng cách này càng tăng thêm. Năm 1985, 25% dân số thế giới thuộc các
hỉ là 0,3 USD nhưng đã đảm bảo
được nhu cầu tối thiểu trong công tác phòng bệnh chữa bệnh và chăm sóc
sức khỏe nhân dân. Tuy vậy, tình trạng khan hiếm thuốc vẫn là một vấn đề
cần được quan tâm của nhà nước, trên thực tế thuốc sản xuất trong nước
mới chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 37% giá trị sử dụng t
rong khối bệnh viện đáp
ứng điều trị bệnh thông thường với dạng bào chế đơn giản.[14]
Khi
nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới, nhà nước đã
xóa bỏ chế độ bao cấp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cung ứng thuốc
đồng thời xóa bỏ chế độ bù lỗ, giá cả đã phản ánh đúng giá t
rị của thuốc.
Thuộc tính hàng hóa của thuốc đã được công nhận. Đặc biệt vẫn phải nhấn
mạnh việc đảm bảo chất lượng, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, có hiệu quả
trong công tác phòng và chữa bệnh phải quan tâm hàng đầu.
Sau
hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị
trường, ngành Dược nước ta cũng như các ngành khác đã có những bước
phát triển mới. Chi phí hàng năm
dành cho ngân sách thuốc được tăng lên
theo sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu khám chữa bệnh.[15], [20] 16
Bảng 1.1: Giá trị sử dụng thuốc trên đầu người qua các năm 2002 2003 2004 2005 2006 2009
Năm
Chỉ tiêu
Thường xuyên tổ chức đào tạo lại
và đào tạo nâng cao, cập nhật thông tin để áp dụng trong điều trị. 17
• Phòng bệnh: Phòng bệnh là nhiệm vụ quan trọng song song với khám
và chữa bệnh, Trung tâm đã phối hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để đề
phòng các loại dịch bệnh nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9… góp phần
bảo vệ sức khoẻ của nhân dân trên địa bàn huyện .
• Quản lý kinh tế: Trung tâm luôn thực hiện nghiêm túc các quy định
của nhà nước về thu chi ngân sách của TTYT. Từng bước tổ chức thực hiện
việc hạch toán chi phí khám chữa bệnh, Sử dụng có hiệu quả cao các nguồn
kinh phí, ngân sách, bảo hiểm y tế, viện phí.
1.3.2. Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực Trung tâm Y tế Bình Liêu
Trung tâm Y tế huyện Bình Liêu với qui mô 60 giường bệnh được
phân thành 6 khoa phòng (Khoa ngoại sản, khoa nội- nhi lây, khoa kiểm
soát dịch bệnh, khoa chăm sóc sức khoẻ sinh sản, khoa khám bệnh, khoa
dược–xét nghiệm).
Trong đó khoa lâm sàng gồm: khoa khám bệnh, khoa
ngoại sản, khoa nội-nhi lây. Khoa cận lâm sàng gồm: khoa dược xét
nghiệm, khoa kiểm soát dịch bệnh, khoa chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Các
phòng chức năng gồm: phòng kế hoạch tổng hợp, phòng tài chính kế toán,
phòng y tá trưởng và các phòng hội đồng (hội đồng thi đua khen thưởng,
hội đồng thuốc và điều trị, hội đồng khoa học). Cơ cấu nhân lực và mô hình
tổ chức của Trung tâm Y tế Bình liêu năm 2011 trong bảng 1.2 (Hình1.4)
Bảng 1.2 : Mô hình cơ cấu nhân lực của Trung tâm Y
tế Bình Liêu
STT Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ %
1