LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Vũ Thị Trâm - trường Đại
học Dược Hà Nội – người đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp,
các Bác sĩ, Dược sĩ đang công tác tại Bệnh viên Đa khoa Khu vực Củ Chi
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi khảo sát, nghiên cứu và thực hiện luận văn
tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường Đại
học Dược Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ khóa học.
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã
nhận được sự động viên của gia đình, sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè và
đồng nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì sự giúp đỡ quý báu đó.
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 12 năm 2013
Học viên
Ds. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
QUÂN II NĂM 2013 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI 2014
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc đóng vai trò quyết định trong công tác chăm sóc, bảo vệ, duy trì
và phục hồi sức khỏe cho nhân dân.
Năm 1996 Chính phủ đã ban hành chính sách quốc gia về thuốc với
an toàn có hiệu quả cho người bệnh, hướng phát triển và tầm nhìn chiến
lược đến 2030 lĩnh vực này tiếp tục được nhiều quan tâm.
Trong những năm qua ngành Dược luôn được đổi mới, nhiều công
nghệ mới đã được ứng dụng để tạo ra các sản phẩm thuốc có chất lượng, có
huyện, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho cán bộ chiến sĩ trong Quân đội,và
năm 2013 Bệnh xá đảm nhiêm thêm việc khám chữa bệnh cho người đăng
ký tham gia khám chữa bệnh BHYT theo chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước cho nhân dân trong khu vực. Trong năm vừa qua tại bệnh xá
có số lượt người đến khám chữa bệnh BHYT khoảng 6.800 số lượt người,
với mô hình bệnh tật đa dạng, phức tạp.Vì là mới thành lập khám chữa
bệnh BHYT nên Bệnh xá chủ yếu khám chữa bệnh cho bệnh nhân ngoại
trú.Cơ quan BHYT của Tỉnh chỉ định nơi phân phối thuốc cho Bệnh xá.
Để góp phần thực hiện tốt hơn công tác khám bệnh kê đơn cũng như
việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị để nâng cao chất lượng sử
dụng thuốc an toàn hợp lý có hiệu quả tại đơn vi. Chúng tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài: “Khảo sát thực trạng kê đơn thuốc đối với bệnh nhân
BHYT ngoại trú tại Bệnh xá Quân Dân y kết hợp Trường SQLQII năm
2013”
Nhằm mục tiêu
Khảo sát một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện Quy chế kê đơn tại
đơn vị Bệnh xá Quân Dân y kết hợp trong năm 2013.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Vài nét về BHYT
Chúng ta đều thừa nhận rằng sức khỏe là vốn quý nhất của con
người, hẳn ai cũng muốn mình sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc. Song
trong đời sống không phải lúc nào cũng được như ý muốn và dù cho khoa
tính gia truyền hoặc được truyền dạy bởi một thầy thuốc đi trước. Chi phí
điều trị có khi được định giá cụ thể nhưng cũng có khi theo dạng “tùy hỉ”.
Thời gian trôi qua, xã hội phát triển đòi hỏi việc khám chữa bệnh
phải được tổ chức lại. Các phòng khám rồi các bệnh viện ra đời cùng với
việc hình thành nên một nghề nghiệp mới - nghề Y, và ngoài thầy
thuốc/bác sĩ thì còn có thêm điều dưỡng, dược sĩ, dược tá, kỹ thuật viên xét
nghiệm v.v… Hoạt động khám chữa bệnh cũng được tổ chức và quản lý
trong những cơ cấu phức tạp hơn theo nhiều cách khác nhau ở mỗi nước.
Bên cạnh y học điều trị, hoạt động y học dự phòng và y tế công cộng cũng
được phát triển và tạo thành một hệ thống y tế toàn diện.Có nhiều cách mô
tả và phân loại hệ thống y tế nhưng cách thường được dùng đó là dựa trên
tiếp cận kinh tế học. Ở góc độ này thì một hệ thống y tế thường được xem
xét dựa trên việc trả lời 2 câu hỏi cơ bản: “Ai cung cấp dịch vụ?” và “Ai
chi?”.Người cung cấp dịch vụ có thể là nhà nước hoặc tư nhân hoặc cả hai.
Nếu nhà nước và tư nhân cùng cung cấp thì hệ thống này gọi là hệ thống
chăm sóc sức khỏe (CSSK) hai thành phần (two-tier health care) và tùy mỗi
nước thì mức độ cung cấp dịch vụ của mỗi thành phần có khác nhau. Nếu
chỉ có thành phần nhà nước cung cấp hoặc chiếm phần chủ yếu (như
Canada) thì gọi là hệ thống CSSK một thành phần (one-tier health care).Về
cơ cấu hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK đặc biệt là dịch vụ khám chữa
bệnh thì mỗi nước có một cơ cấu khác nhau.Ở nhiều nước ngoài các bệnh
viện, dưỡng đường, trung tâm chuyên khoa thì có mạng lưới các bác sĩ đa
khoa chịu trách nhiệm khám chữa bệnh bước đầu cho những người dân
đăng ký.Các cơ sở y tế này có thể là công hoàn toàn, tư nhân hoàn toàn
hoặc bán công. Việc mô tả hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe là
5
không đơn giản tuy nhiên việc trả lời cho câu hỏi “Ai chi?” còn phức tạp
dân đã quen với hướng bao cấp toàn bộ như Anh, các nước Bắc Âu, có
nước thì người dân lại quen không bao cấp toàn bộ như ở Mỹ…
Hệ thống BHYT các nước Bảo hiểm y tế, một bộ phận chính sách
BHXH đã được Chính phủ các nước rất quan tâm và người dân nhiệt tình
hưởng ứng. Cho đến nay, hàng trăm nước trên thế giới đã thực hiện BHYT,
mặc dù với nhiều hình thức, mức độ, phạm vi, … khác nhau. Sự giống
nhau của các nước về BHYT là mục đích, tổ chức, quản lý, huy động đóng
góp của cộng đồng.Tại hầu hết các nước, hệ thống BHYT chủ yếu phục vụ
cho công nhân viên chức làm việc ở các cơ quan Nhà nước.
Mục đích của BHYT là đảm bảo cho những người tham gia bảo
hiểm được khám, chữa bệnh thuận lợi khi ốm đau và không phải trả tiền
viện phí, mà khoản chi phí khám chữa bệnh là do BHYT trợ cấp.
Do đó, BHYT góp phần ổn định cuộc sống gia đình cho những người
tham gia bảo hiểm và nhờ vậy xã hội được lành mạnh hóa công việc khám
chữa bệnh. Ở đa số các nước trên thế giới, Nhà nước đầu tư khoảng 60%,
còn 40% ngân sách y tế dựa vào sự đóng góp của cộng đồng xã hội thông
qua hoạt động BHYT.
Nguồn thu của BHYT chủ yếu từ phí BHYT (hay do đóng BHYT)
phụ thuộc vào tiền lương (đối với người làm công ăn lương) hoặc thu nhập
(đối với các đối tượng khác).
Đối với những người làm công hưởng lương, luật pháp các nước đều
quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động (các chủ doanh nghiệp)
phải đóng từ 50 – 66% mức đóng bảo hiểm, còn người lao động chỉ đóng
từ 34 – 50%. Quy định đó vừa đảm bảo quyền lợi cho người lao động, vừa
nâng cao trách nhiệm của người chủ đối với sức khỏe của người thợ.
Quỹ BHYT được sử dụng vào hai mục đích chính :
- Chi bảo hiểm bệnh tật bao gồm cả chi phí khám chữa bệnh (thuốc,
dịch truyền, xét nghiệm, vật tư y tế, công thầy thuốc, dịch vụ y tế, …)
8
Mỹ là nước công nghiệp phát triển duy nhất còn lại trên thế giới cho
đến nay vẫn chưa đảm bảo được việc chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, là
một cường quốc kinh tế hàng đầu, nhưng là một quốc gia có đến 47 triệu
(15,8%) (2006) người dân không có BHYT. Trong số 84% người dân có
BHYT thì người có việc làm (60%), kinh doanh cá thể (9%) hoặc được
cung cấp bởi các chương trình của Chính phủ.
Hệ thống tài chính y tế tại Mỹ chủ yếu dựa vào các công ty BHYT tư
nhân. Ngoài hai quỹ BHYT nhà nước là
Medicare - quỹ dành cho 41 triệu người trên 65 tuổi và Medicaid -
quỹ dành cho khoảng 30 triệu người thu nhập thấp, các quỹ BHYT còn lại
là BHYT thương mại, hoạt động vì lợi nhuận.
Hầu hết các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Mỹ là ngoại trú (phòng
khám tư nhân). Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà là phổ biến, thường do
bác sỹ yêu cầu. Chính phủ Mỹ chi trả BHYT cho 27% dân chúng, trong đó
có người già, người tàn tật (Medicare), người nghèo (Medicaid) và trẻ em
(Chương trình BHYT thiếu nhi). Số người còn lại chưa đủ già (trên 65 tuổi
để được hưởng chế độ BHYT Medicare), chưa đủ nghèo (để được hưởng
chế độ BHYT Medicaid) và chưa đủ giàu (để mua BHYT thương mại) phải
tự túc BHYT khi ốm đau.
Đa phần người Mỹ (59,7%) nhận mức BHYT thông qua người thuê lao
động, sở làm. Mức phí BHYT trung bình mà người lao động phải trả là 16%
cho độc thân và 28% cho người đã lập gia đình. Năm 2004, BHYT tư nhân
chi trả 36% chi phí chăm sóc sức khỏe (vượt mức 15%), trong khi Chính phủ
chi trả 44%, đã đưa Mỹ lên hàng đầu về chi tiêu cho bảo hiểm. Theo WHO,
hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ được xếp hàng 37 năm 2000. 10
- Các nhóm lao động cá thể.
- Lao động ở nông thôn. và thực hiện đồng chi trả theo mức giá chi phí
cố định.
Tại Nhật Bản hiện nay, chăm sóc y tế là một trong những ưu tiên
hàng đầu trong đời sống của người dân và chi phí này là phần không thể
thiếu trong ngân sách của cá nhân và gia đình.Người tham gia phải trả từ
20 - 30% chi phí y tế cho bất cứ loại điều trị nào đã được bảo hiểm.Chi phí
cho phần không được bảo hiểm sẽ phải tự thanh toán. Thủ tục tham gia bảo
hiểm được thực hiện ở các ủy ban hành chính thành phố hay thị trấn nơi
bạn cư trú, tiền đóng bảo hiểm trả theo hàng tháng. Mỗi khu vực phí bảo
hiểm không giống nhau
* Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ thời thuộc địa đã có vài chế độ BHXH cho
công nhân lao động và từ những năm 1918 ở nước ta thực hiện chế độ
BHXH cho công nhân bị tàn tật. Sau đó. do tình hình chiến tranh và phải
tập trung cho khôi phục đất nuớc mà mãi đến ngày 15/08/1992 BHYT Việt
Nam mới chính thức được thành lập theo Nghị định số 299 của Hội Đồng
Bộ Trưởng. Trước đây, ở nước ta trong thời kỳ bao cấp BHXH (trong đó
bao gồm BHYT) nằm trong sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước và lồng
vào chế độ tiền lương, do đó việc thu và chi nguồn quỹ bảo hiểm đều do
Trung ương chỉ định.
Trong những năm tiếp theo sau đó. Nhà nước đã thực hiện xóa bỏ
bao cấp trong quản lý kinh tế và thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần.Do
sự thay đổi này mà nền kinh tế Việt Nam đã có sự cải thiện ở nhiều mặt, đã
đẩy mạnh việc phát triển công tác BHYT. Nhờ thế dù còn non rất trẻ nhưng
BHYT Việt Nam đã phát triển khá vững mạnh và đã tạo được niềm tin
Quỹ bảo hiểm y tế đang dần trở thành nguồn tài chính cơ bản phục
vụ cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần giảm mức chi trả từ tiền túi
của người bệnh cho công tác chăm sóc sức khỏe.
12
Chính sách bảo hiểm y tế Việt Nam đã bảo đảm nguyên tắc chia sẻ
rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế, đồng thời cũng đảm nhận
nhiều chính sách phúc lợi xã hội khác.
Đến cuối năm 2012, gần 70% dân số cả nước đã tham gia bảo hiểm y
tế, với phần đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và
người dân chiếm khoảng 58% trong tổng thu bảo hiểm y tế, tạo nền móng
quan trọng để tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.
1.1.2. Mục Tiêu của BHYT
BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện
nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động,
các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có
thẻ BHYT khi ốm đau. BHYT do Nhà nước tổ chức thực hiện mang tính
chất xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng,
hiệu quả trong khám chữa bệnh và toàn dân tham gia.
1.1.2.1. Các hình thức BHYT
* Đối tượng BHYT bắt buộc
* Đối tượng BHYT tự nguyện
1.1.2.2. Thẻ BHYT :
Cấp cho người tham gia BHYT BHXH Việt nam quản lý và phát
hành thẻ Thẻ có giá trị sử dụng ngay và liên tục khi đóng BHYT đúng quy
định.Thẻ BHYT tự nguyện có giá trị sử dụng 30 ngày kể từ ngày đóng
BHYT lần đầu hoặc tiếp tục đóng sau một thời gian gián đoạn.
Thẻ không có giá trị sử dụng khi đã hết hạn sử dụng, không do cơ
năng (theo danh mục quy định của Bộ Y tế) trong thời gian điều trị tại cơ
sở khám chữa bệnh. Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng
Thuốc, dịch truyền trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế Máu và các
chế phẩm của máu Các phẫu thuật, thủ thuật Khám thai và sinh đẻ Sử dụng
vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh Chi phí vận chuyển trong trường hợp
phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế.
14
Người có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh tại cơ sở đăng ký khám
chữa bệnh ban đầu và cơ sở khám chữa bệnh BHYT khác theo giới thiệu
chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ
Y tế hoặc trong những trường hợp cấp cứu tại cơ sở khám chữa bệnh
BHYT, được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo giá
viện phí hiện hành của Nhà nước.
Người có thẻ BHYT khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn :
Được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí của dịch vụ kỹ thuật cao có mức
phí dưới 7.000.000 đồng (bảy triệu) Đối với dịch vụ kỹ thuật cao có mức
phí từ 7.000.000 đồng (bảy triệu) trở lên dược thanh toán như sau : Quỹ
BHYT thanh toán 100% chi phí của dịch vụ đối với đối tượng là người hoạt
động cách mạng trước 8/1945. Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh,
bệnh binh, người mất sức lao động từ 81% trở lên, người có tuổi từ 90 trở
lên. Đối với người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng,
người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đang hưởng trợ cấp hàng tháng,
người cao tuổi tàn tật không nơi nương tựa, người đang hưởng lương hưu,
hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và các đối tượng bảo trợ xã hội được
hưởng trợ cấp hàng tháng, người được hưởng chế độ khám chữa bệnh cho
người nghèo :
chế độ bảo hiểm y tế.
6. Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế.
Nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế
1. Đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn.
2. Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác
mượn thẻ bảo hiểm y tế.
3. Thực hiện các quy định tại Điều 28 của Luật này khi đến khám
bệnh, chữa bệnh.
16
4. Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế,
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh.
5. Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả.
1.2. Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú
1.2.1 Sự hình thành của Quy chế
Thập niên những năm 90, trước thực tế sử dụng thuốc không hợp lý
và an toàn của người bệnh dẫn đến những tác hại cho sức khỏe, việc ban
hành tạm thời Quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn theo quyết định số
488/QĐ-BYT ra ngày 03/04/1995 là một việc cấp thiết và phù hợp với
hoàn cảnh nước ta khi đó.
Quy chế này được ban hành với mục đích:
1. Góp phần bảo đảm việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và đạt hiệu
quả phòng và chữa bệnh cao, đồng thời ngăn chặn việc người
bệnh tự dùng một số thuốc cần phải có chỉ định của bác sĩ, dẫn
đến những tác hại cho sức khỏe.
2. Xác định trách nhiệm của bác sĩ trong việc khám bệnh, kê đơn và
trách nhiệm của dược sĩ trong việc cung ứng thuốc.
gia về kiểm soát Opioids, nghĩa là phải làm sao để đảm bảo sự sẵn có
Opioids dùng cho mục đích y tế. Chính vì vậy Quy chế kê đơn năm 2008
đã có quy định cụ thể về kê đơn opioids giúp cho người bệnh ung thư và
HIV/AIDS có thể dễ dàng tiếp cận với thuốc Opioids và làm giảm bớt tình
trạng e ngại khi kê đơn Opioids của bác sĩ.
Quy chế thuốc trong điều trị ngoại trú mới ban hành của Bộ y tế đã
có nhiều thay đổi và bổ sung thêm nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn và
quyền lợi của người bệnh
1.2.2. Nội dung chính của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngọai trú
Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh,
là cơ sở pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo
đơn. Bác sĩ có thể chỉ định điều trị cho người bệnh vào đơn thuốc( theo
18
mẫu quy định của Bộ y tế) hoặc sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mãn tính gọi
chung là đơn thuốc.
Đơn thuốc là một chỉ định của người thầy thuốc đối với bệnh nhân,
nhằm giúp họ có được những thứ thuốc theo đúng phác đồ điều trị.
Đơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải
bán theo đơn và những thuốc có thể mua tự do. Đó là một “y lệnh” hướng dẫn
cho các bệnh nhân cần uống, bôi, thoa, phun, dán hay tiêm truyền. Đơn thuốc
liệt kê tên thuốc, số lượng, liều lượng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời điểm
dùng thuốc (trước, trong hay sau bữa ăn). Một đơn thuốc được xem là chuẩn
phải đạt được các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc
và tiết kiệm.
1.2.2.1. Nội dung của một đơn thuốc
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn
thuốc và mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất
2. Ghi đủ các mục in trong đơn, chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính
xác.
3. Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố, hoặc
thôn, xã.
4. Với trẻ em dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố
hoặc mẹ.
5. Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế ( INN, generic name) hoặc
nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên quốc tế trong ngoặc đơn ( trừ
trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất).
6. Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi
thuốc.
7. Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa.
8. Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết
thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số.
9. Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh.
20
10. Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ
tên người kê đơn.
1.3. Về kê đơn tốt
Kê đơn là mệnh lệnh, nhật ký ghi lại việc điều trị.
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy
luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan. Kê đơn tốt phải
đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế và
tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân.
1.3.1. Đơn thuốc tốt
Một đơn thuốc tốt phải đáp ứng đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn yêu
cầu cho một đơn thuốc gồm có:
Bước 4: Bắt đầu điều trị. Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh
nhân. Ví dụ như viết một đơn thuốc rõ ràng cẩn thận, ngắn gọn
nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân.
Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho
bệnh nhân. Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất những thông
tin sau: Các tác dụng của thuốc; Các tác dụng phụ; Hướng dẫn sử
dụng (cách dùng, thời gian sử dụng, bảo quản…); cảnh báo (nên
hay không nên dùng khi nào, liều tối đa, thời gian điều trị đầy
đủ); hẹn gặp lần tới, xác minh mọi thông tin có rõ ràng đối với
bệnh nhân.
Bước 6: Giám sát điều trị. Nếu như bệnh được chữa khỏi thì
ngừng quá trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có
hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác
dụng phụ nào nghiêm trọng hay không. Nếu có thì cân nhắc lại
liều dùng hay chọn thuốc khác. Trường hợp bệnh không được
chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên.
1.4. Một vài nét ở cơ sở nghiên cứu
Bệnh xá lục quân 2 là cơ sở khám chữa bệnh quân dân y kết hợp
trong khu vực địa bàn đóng quân của Trường sĩ quan lục quân 2, bao gồm
22
giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kĩ thuật được tổ chức thành các
khoa, phòng với trang thiết bị cơ sở hạ tầng thích hợp để thực hiện việc
chăm sóc, nuôi dưỡng cung cấp các dịch vụ y tế cho các cán bộ, công nhân
viên, học viên tại nhà trường và nhân dân quanh khu vực.
KHỐI LS
KHOA KHAM
KHOA HỒI SỨC
KHOA NỘI
KHOA NGOẠI
KHỐI CẬN LS
K. XÉT NGHIỆM
K. CHẨN ĐOÁN H. ẢNH
K. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
KHOA DƯỢC
23
Danh mục thuốc sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh được
Quỹ BHYT thanh toán. Bộ Y Tế ban hành thông tư 31/2011/TT-
BYT hướng dẫn Ngày 11/07/2011