Phân tích hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc tại tỉnh hà nam năm 2012 - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐÀO KIỀU LINH PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC
TẠI TỈNH HÀ NAM NĂM 2012LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2013
BỘ Y TẾ

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Hà Văn
Thuý đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em từ những bước đầu cho
đến khi hoàn thành khoá luận.
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Dược
Hà Nội, các Bộ môn, các thầy cô giáo trong Bộ môn Quản lý kinh tế
Dược - Trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho em những
kiến thức trong thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện khoá
luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Sở Y tế tỉnh Hà Nam,
cán bộ Văn phòng Sở Y tế, Phòng Nghiệp vụ Dược - Sở Y tế, Phòng
Y tế các huyện, thành phố cũng như các đơn vị có liên quan và đồng
nghiệp đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu và tài liệu tham
khảo có liên quan.
Cuối cùng em gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở
bên, động viên giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2013


11
1.2.2. Đặc điểm y tế tỉnh Hà Nam
12
1.2.3. Thực trạng về hoạt động của mạng lưới bán lẻ thuốc trên địa
bàn tỉnh Hà Nam
14
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
17
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
17
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
17
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
17
2.2. Nội dung nghiên cứu
18
2.3. Phương pháp nghiên cứu
19
2.3.1.Phương pháp nghiên cứu
19
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
19
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu
19
2.3.4. Xử lý, phân tích số liệu
20
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


33
3.1.4.3. Việc chấp hành quy định về kê đơn và bán thuốc theo đơn
34
3.2. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của các nhà thuốc và
quầy thuốc trong việc thực hiện tiêu chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh
Hà Nam

37
3.2.1. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của các cơ sở đạt GPP
37
3.2.1.1.Nhân sự
37
3.2.1.2.Cơ sở vật chất
38
3.2.1.3.Thực hiện các Quy trình thao tác chuẩn và ứng dụng các
phần mềm quản lý nhà thuốc
3.2.1.4. Chất lượng công tác bảo quản thuốc
39

40
3.2.1.5. Khách hàng
41
3.2.2. Phân tích những thuận lợi, khó khăn của các cơ sở chưa đạt
GPP
42
3.2.2.1.Nhân sự
44
3.2.2.2.Cơ sở vật chất
45
3.2.2.3.Về xây dựng các quy trình thao tác chuẩn

Phụ lục 5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều kiện
cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu, là nhân tố quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của mỗi quốc gia cũng như của toàn
nhân loại. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
Ngành Y tế đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng
cao sức khoẻ nhân dân góp phần vào những thành tựu to lớn trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ngày nay, khi nền kinh tế và các ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến
ngày càng phát triển thì nhu cầu nâng cao sức khoẻ của người dân ngày càng
cao. Nhiệm vụ của ngành Dược là cần phải cung ứng thuốc đến người bệnh
đầy đủ, kịp thời với chất lượng đảm bảo kèm theo việc tư vấn sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý.
Thuốc đến được tay người sử dụng hầu hết đều thông qua hệ thống
phân phối, trong đó có mạng lưới bán lẻ thuốc. Các hệ thống này ngày càng
được mở rộng và từng bước hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng tạo điều
kiện thuận lợi cho bác sỹ và người bệnh lựa chọn thuốc được dễ dàng, đầy đủ.
Ngày 21 tháng 12 năm 2011 Bộ Y tế ban hành Thông tư số
46/2011/TT-BYT về nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc (GPP)
đối với các cơ sở bán lẻ thuốc. Đến thời điểm năm 2012 trên cả nước vẫn còn
tồn tại song song hai hệ thống: đạt GPP và chưa đạt GPP với những tiêu
chuẩn áp dụng khác nhau.
Tại tỉnh Hà Nam, hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc được phát triển
mạnh mẽ với nhiều mặt hàng thuốc, đa dạng về chủng loại góp phần quan
trọng trong công tác CSSK của nhân dân trên địa bàn. Nhiều cơ sở bán lẻ đã
đạt tiêu chuẩn GPP song cũng còn nhiều cơ sở vẫn kinh doanh theo thói quen 2 Chương 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan chung về mạng lưới bán lẻ thuốc tại Việt Nam.

1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài.
Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích
phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ
thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y
tế, trừ thực phẩm chức năng [20].
Hành nghề dược là việc cá nhân sử dụng trình độ chuyên môn dược
của mình để kinh doanh thuốc [20].
Cơ sở bán lẻ thuốc gồm có: Nhà thuốc, Quầy thuốc, Đại lý bán thuốc
của doanh nghiệp và Tủ thuốc của TYT [20].
Cơ sở y, dược tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành [2
6
].
"Thực hành tốt nhà thuốc” (Good Pharmacy Practice: GPP) là văn
bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại
các nhà thuốc của dược sỹ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các
tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối
thiểu [15].

trình độ hiểu biết của người dân về thuốc, sử dụng thuốc và các vấn đề liên
quan đến chăm sóc sức khỏe còn hạn chế; đồng thời người dân lại có thói
quen tự mua thuốc chữa bệnh mà không cần sự thăm khám và kê đơn của bác
sĩ. Vì vậy, dược sĩ tại các cơ sở bán lẻ có vai trò rất quan trọng trong việc
cung cấp thông tin thuốc cần thiết, tư vấn sử dụng thuốc đầy đủ để người dân
có thể tự điều trị và nâng cao sức khỏe.

4
Hình 1.1. Trách nhiệm của dược sĩ tại các cơ sở bán lẻ thuốc

Dù chưa phát huy, thực hiện được hết vai trò, trách nhiệm nhưng các
dược sĩ cũng đã góp phần rất lớn vào việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn và
hợp lý trong cộng đồng.
Hệ thống các cơ sở bán lẻ đã góp phần tích cực vào việc cung ứng
thuốc phòng và chữa bệnh, thuận tiện cho người bệnh trong việc mua thuốc,
chia sẻ bớt gánh nặng quá tải trong các cơ sở y tế Nhà nước, tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh trên thị trường dược phẩm, chấm dứt tình trạng khan
hiếm thuốc trước đây[16].
Tham gia
chương trình
giáo dục sức
khỏe cộng
đồng
Cập nhật

1.1.3. Một vài nét về hoạt động bán lẻ thuốc ở Việt Nam
1.1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới bán lẻ thuốc
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, ở nước ta chỉ có các lương y chữa
bệnh bằng bài thuốc gia truyền hoặc bắt mạch, kê đơn. Trong những năm
Pháp đô hộ thì hệ thống bán thuốc tây y dần dần được hình thành và phát
triển. Năm 1864, hiệu thuốc đầu tiên ở Việt Nam được mở tại Sài Gòn do một
dược sỹ người Pháp làm chủ. Sau khi có ban Dược thuộc Trường Đại học Y
khoa Hà Nội, thực dân Pháp chỉ đào tạo khoảng 22 dược sỹ Đông Dương
(tương đương dược sỹ trung cấp) và khoảng 36 dược sỹ hạng nhất (tương
đương dược sỹ đại học) trong đó có một số dược sỹ tình nguyện từ Pháp về.
Từ đó, đã xuất hiện các hiệu thuốc tập trung tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh và Huế nhưng không nhiều, nguồn thuốc chủ yếu nhập từ Pháp về. Nhà
thuốc tư nhân hay hiệu thuốc bào chế thuốc tây có tại Hà Nội vào năm 1886
do một bác sỹ người Pháp - ông Julien Blanc làm chủ [1].
Vào những năm 1957-1958 ở miền Bắc Việt Nam, khi cải cách công
thương nghiệp tư bản tư doanh thì ở Hà Nội có trên 20 NTTN, toàn miền Bắc
có trên 100 đại lý thuốc tây và sau khi thống nhất đất nước (năm 1975) ở
miền Nam có khoảng 2200 NTTN. Sau khi tiến hành cải tạo thì việc sản xuất
và bán thuốc tân dược do hệ thống Dược phẩm quốc doanh đảm nhiệm, tư
nhân không được phép hành nghề [
2
].
Thời kỳ bao cấp, mạng lưới bán thuốc quốc doanh đã được phân bố rộng
rãi trên các địa bàn cả nước. Song các hiệu thuốc quốc doanh có khả năng hạn
chế về cung cầu nên số lượng và chủng loại thuốc nghèo nàn. Trong khi thị
trường tự do có nhiều loại thuốc hơn từ các loại thuốc thông thường đến các loại
thuốc đặc trị, số lượng cần bao nhiêu cũng có, kể cả các thuốc hiếm, thậm chí cả
các thuốc cấm nhưng chất lượng không đảm bảo và giá cả đắt [2].

6

16,45
19,77
22,25
27,6

(Nguồn: Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam )
Tiền thuốc bình quân trong năm 2011 đạt 27,6 USD/người tăng 5,35
USD (24,05%) so với năm 2010. Tuy nhiên, tiền thuốc bình quân đầu người
của Việt Nam vẫn còn rất thấp so với mức trung bình của Thế giới là 40
USD/người/năm [28].

7 Việt Nam có hệ thống phân phối thuốc khá phát triển. Theo kết quả
tổng hợp của Cục Quản lý Dược, tham gia trong hệ thống phân phối thuốc
đến tháng 12/2011, cả nước bao gồm:
- 113 doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài đã cổ phần hóa
- 32 cơ sở bán buôn vắc xin
- 329 cơ sở bán buôn thuốc từ dược liệu
- 10.533 nhà thuốc (bao gồm tư nhân và doanh nghiệp)
- 11.388 quầy thuốc (bao gồm tư nhân và doanh nghiệp)
- 18.652 đại lý bán lẻ thuốc của doanh nghiệp
- 7.926 Tủ thuốc của Trạm y tế xã, phường, thị trấn.

Tổng số nhà thuốc triển khai GPP là 8.913 (chiếm 84,5%) [30].
Như vậy, mạng lưới cung ứng thuốc đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu về
thuốc tại khắp các tỉnh thành trong cả nước, đảm bảo đưa thuốc đến tận tay
người dân phục vụ công tác điều trị.
* Xét về cơ bản, thuốc sẽ đi theo hệ thống phân phối sau:

8 - Các thông tin về phản ứng có hại của thuốc không được phản ánh kịp
thời theo hệ thống từ người sử dụng đến đơn vị chịu trách nhiệm và cơ quan
quản lý nhà nước. Nhân viên của cơ sở bán lẻ chưa có thói quen theo dõi, thu
thập và báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho các cơ quan quản lý cấp trên
hoặc do sợ mất uy tín, sợ lỗ vốn nên giấu thông tin các phản ứng có hại của
thuốc. Khó thu hồi thuốc khi có thông báo đình chỉ lưu hành
- Một số thuốc nhập lậu (trong đó có thể có thuốc giả) đang trôi nổi
trên thị trường do hậu quả của công tác giám sát thị trường còn chưa cao.
- Tình trạng vi phạm các quy định chuyên môn như: ghi chép sổ sách,
niêm yết giá chưa đầy đủ; việc mua bán thuốc chưa đảm bảo đủ hoá đơn
chứng từ, phiếu kiểm nghiệm; bán tự do một số thuốc theo quy định phải bán
theo đơn; bán thuốc không có nhãn mác, không rõ tên, không có đủ các thông
tin thuốc và hướng dẫn sử dụng; hoạt động có xu hướng chạy theo lợi nhuận
[24].
Một số nhà thuốc tư nhân, quầy thuốc thường tự chế sẵn các gói thuốc
gồm nhiều loại thuốc khác nhau dùng trong một số chỉ định thông thường như
chữa cảm cúm, viêm họng, chống say tàu xe… và bán theo yêu cầu của bệnh
nhân. Phần lớn các thuốc trong những gói thuốc này không có đầy đủ nhãn
mác và hàm lượng, hạn dùng, không ít loại được đưa vào một cách không cần
thiết, làm tăng nguy cơ dị ứng, nhiễm độc và tương tác thuốc [29].
- Công tác tư vấn sử dụng thuốc vẫn còn yếu kém. Dược sĩ đại học
thường xuyên vắng mặt tại nhà thuốc, việc tư vẫn sử dụng thuốc được giao
cho dược sĩ trung học hoặc dược tá, thậm chí một số người không có chuyên
môn dược. Nhân viên ít khai thác tiền sử bệnh và tiền sử dị ứng của người
bệnh trước khi bán thuốc; một số nhân viên không cung cấp các thông tin về
phản ứng có hại của thuốc hay tương tác thuốc với các thuốc khác dùng cùng
lúc, với thức ăn, nước uống. Như vậy người dân dù đã phải mua thuốc với giá

lĩnh vực y tế. Bộ Y tế cũng ban hành các thông tư để hướng dẫn về
HNYDTN.
Ngày 14/6/2005, Quốc hội ban hành Luật Dược số 34/2005/QH11, và
sau đó Chính phủ ban hành Nghị định 79/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy

10 định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược. Như vậy, ngành dược đã có
công cụ pháp lý cao nhất cho mọi hoạt động của mình.
Hiện nay, các cơ sở bán lẻ thuốc thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư
số 02/2007/TT-BYT hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều về điều kiện kinh
doanh thuốc theo quy định của Luật Dược và Nghị định 79/2006/NĐ-CP ngày
09/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Dược. Đây là Thông tư thay thế Thông tư số 01/2004/TT-BYT ngày
06/01/2004 của Bộ Y tế hướng dẫn về hành nghề y, dược tư nhân và Thông tư
số 09/2004/TT-BYT ngày 14/9/2004 của Bộ Y tế sửa đổi bổ xung một số
điểm của Thông tư số 01/2004/TT-BYT.
Để ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ mạng lưới bán lẻ thuốc, ngày
24/01/2007 Bộ Y tế đã có Quyết định số 11/2007/QĐ-BYT ban hành nguyên
tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc (GPP). Theo quyết định này, các cơ sở
bán lẻ trên toàn quốc đều phải đạt tiêu chuẩn GPP theo lộ trình quy định.
Nhằm thống nhất trên toàn quốc việc thực hiện GPP, Bộ Y tế tiếp tục
ban hành Thông tư số 43/2010/TT-BYT ngày 15/12/2010 quy định lộ trình
thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) địa bàn và
phạm vi hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc và Thông tư số 46/2011/TT-BYT
ngày 21/12/2011 ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩnThực hành tốt nhà thuốc.
Trên đây là một số văn bản liên quan đến hoạt động hành nghề bán lẻ
thuốc tính đ
ến năm 2012

lực y tế đối với hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh theo phân cấp.
Sở Y tế chịu sự quản lý toàn diện của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ
đạo, hướng dẫn về chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ của Bộ Y tế.
Sở Y tế có chức năng và nhiệm vụ sau :
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế của tỉnh; tổ
chức và kiểm tra, giám sát việc thực hiện sau khi quy hoạch, kế hoạch đó
được phê duyệt;
- Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
những quy định về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ y tế căn cứ vào các quy
định chung của Nhà nước và Bộ Y tế; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các
quy định đó trên địa bàn toàn tỉnh.
- Quản lý và tổ chức thực hiện các nguồn kinh phí về y tế theo quy định
của cơ quan tài chính.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên ngành y tế về: mỹ phẩm, dược,
trang thiết bị y tế, vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh,
phục hồi chức năng, vệ sinh an toàn thực phẩm; thanh tra kiểm tra việc thực
hiện chính sách và việc giải quyết khiếu nại , tố cáo theo quy định hiện hành.

12 - Quản lý tổ chức, cán bộ, lao động, tiền lương, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ y tế theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh và quy định của Nhà nước.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả những cơ sở vật chất, vật tư, tài sản
được Uỷ ban nhân tỉnh và Nhà nước giao theo đúng quy định hiện hành.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy chế, tiêu chuẩn,
quy phạm, định mức kinh tế, kỹ thuật đã được Nhà nước, Bộ Y tế, Uỷ ban
nhân dân tỉnh ban hành về quản lý dược, vật tư y tế.
- Quản lý hành nghề y dược tư nhân trên địa bàn tỉnh và thực hiện việc
cấp, thu hồi giấy phép hành nghề y dược tư nhân theo quy định của pháp luật.

hiện Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, Sở Y tế đã cấp phép cho các cơ sở
bán lẻ thuốc, lực lượng này đã cùng với mạng lưới bán thuốc của các doanh
nghiệp tạo ra màng lưới cung ứng thuốc rộng rãi góp phần thúc đẩy cạnh
tranh lành mạnh, thay đổi phương thức kinh doanh, nâng cao chất lượng phục
vụ, mở rộng điểm bán, chú ý tới thị hiếu và mô hình bệnh tật để xây dựng nhu
cầu thuốc phục vụ công tác CSSK nhân dân.
Đến năm 2012, mạng lưới bán lẻ thuốc toàn tỉnh gồm 507 cơ sở trong đó có:
- 28 nhà thuốc
- 141 quầy thuốc
- 222 đại lý bán thuốc
- 116 tủ thuốc tại các TYT xã, phường, thị trấn.
Một cơ sở bán lẻ thuốc bình quân phục vụ diện tích 1,76 km
2
và phục vụ
1.614 người dân. Mạng lưới cung ứng thuốc đã có mặt ở tất cả các xã trong tỉnh,
cơ bản đáp ứng đủ thuốc thiết yếu phục vụ nhu cầu CSSK của nhân dân.
Về chất lượng thuốc trên địa bàn: Qua kết quả thanh tra, kiểm tra và kết
quả kiểm nghiệm của Trung tâm kiểm nghiệm tỉnh Hà Nam, trong giai đoạn
2011-2012 phát hiện 14 mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng [25].
Bên cạnh mặt tích cực, vẫn còn một số đối tượng buôn bán thuốc vi
phạm một số quy định, quy chế dược, chưa quan tâm đến các nguyên tắc, tiêu
chuẩn GPP. Có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh thuốc
còn chạy theo lợi nhuận và thị hiếu, chưa chú trọng phục vụ cộng đồng
Mạng lưới bán lẻ thuốc ít hơn so với bình quân cả nước và phân bố không đều

14 ở khu vực vùng sâu, vùng xa. Những điều này phần nào ảnh hưởng tới kết quả
hoạt động chung của ngành dược.

huyện, thành phố
Phòng Y tế các
huyện, thành phố
Các cơ sở bán lẻ thuốc
UBND xã,
phường, thị trấn

15 Như vậy, cũng như cả nước, mạng lưới bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh
Hà Nam đã có những đóng góp tích cực phục vụ công tác CSSK của nhân
dân. Số điểm bán lẻ trên toàn tỉnh phân bố không đồng đều, song đã đáp ứng
cơ bản nhu cầu về thuốc phục vụ nhân dân trong tỉnh.
Chúng tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần
nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Hà
Nam và đánh giá được những kết quả trong quá trình áp dụng các nguyên tắc,
tiêu chuẩn GPP, từ đó phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế
trong quá trình triển khai thực hiện.

16 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động bán lẻ thuốc tại các Nhà thuốc và Quầy thuốc.
- Kết quả nghiên cứu từ bộ câu hỏi khảo sát thực địa.

141

2.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 6/2012 đến tháng 3/2013.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status