Bình giá vẻ đẹp ngôn từ và xây dựng bài tập đọc hiểu giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ trong bài văn miêu tả lớp 4 - Pdf 29

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình tiếng việt tiểu học cải cách năm 2000, trong phân môn tập
đọc, phần lớn các tác phẩm được đưa ra là những tác phẩm thơ, văn đặc sắc, gần
gũi với thiếu nhi. Đặc biệt, từ lớp 4, các em bắt đầu học thành thục văn miêu tả
trong các tiết tập làm văn, chính vì thế, các bài tập đọc đưa ra, phần nhiều là các
bài văn miêu tả: tả người, tả cảnh, tả hoạt động hay sự đan xem giữa các yếu tố đó.
Các ngữ liệu văn miêu tả đưa ra rất đặc sắc, giàu hình ảnh và lôi cuốn được các
em.
Các tác phẩm văn miêu tả không chỉ mang đến những bài học giáo dục mà còn
đem đến những ước mơ, khơi gợi khát vọng hoài bão; lấp đầy vào tâm hồn vốn đã
thơ ngây của các em . muốn hiểu hết những tác phẩm văn học ấy, các em cần phải
có cái nhạy cảm, rung động nhạy bén đối với từng từ, từng ý trong tác phẩm.
Việc cảm thụ của các em tốt hay không, ngoài việc do bản thân các em, thì
phần nhiều là do sự dẫn dắt, hướng dẫn của giáo viên. Để sự cảm nhận và thông
hiểu của học sinh ở mức tốt nhất, thì giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Vai
trò của người thầy là giúp hs nắm bắt “ý” của bài, từ đó có cách nhìn nghệ thuật,
cách cảm nghệ thuật về tác phẩm. Muốn vậy, cần phải có 1 hệ thống bài tập phù
hợp cho học sinh.
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các giáo viên còn chưa chú trọng
nhiều đến các câu hỏi nhằm khai thác vẻ đẹp của ngôn từ mà phần lớn là các câu
hỏi tái hiện – dạng bài tập đọc hiểu ở mức độ thấp. Như vậy sẽ không phát huy hết
tiềm năng sáng tạo của các em.
Trong chương trình sách giáo khoa, trong các câu hỏi đưa ra trong các bài
văn miêu tả cũng chưa chú trọng đến các bài tập cảm nhận vẻ đẹp của ngôn từ.
1
Chính vì thế tôi chọn đề tài này, mong muốn thông qua các bài tập đọc văn
miêu tả lớp 4, thông qua việc phân tích, bình giá cái hay cái đẹp của lớp nghệ thuật
ngôn từ mà đưa ra được các bài tập cảm thụ văn học- giúp hs nhận ra vẻ đẹp của
ngôn từ qua đó giúp kĩ năng cảm thụ văn học của hs trở thành 1 kĩ năng quen
thuộc.

Ở chương trình CCGD cũng như chương trình mới, các kiểu bài này dạy
cho các học sinh lớp 3, 4, 5 nhưng thực chất học sinh đã được làm quen với kiểu
bài này ngay từ lớp 2 khi tập quan sát tranh, trả lời câu hỏi, tập tả ngắn về đồ vật,
con vật, người, cảnh. Chính vì vậy, khi xây dựng hệ thống bài tập giúp học sinh
làm quen với văn miêu tả chúng tôi cũng quan tâm đến việc giúp các em làm quen
với các kỹ năng miêu tả đơn giản của từng kiểu bài được dạy ở các lớp trên.
1.1.1.2 Các đặc điểm của văn miêu tả
a. Tính sinh động và tạo hình: Là đặc điểm đầu tiên của văn miêu tả. Một đoạn văn
hay một bài văn mang tính sinh động và tạo hình khi đoạn văn đó hoặc bài văn đó
cụ thể, hàm súc. Làm nên tính sinh động và tạo hình của văn miêu tả là những chi
tiết, hình ảnh sống động. Những chi tiết, hình ảnh sống động đó được lấy từ thực
3
tiễn cuộc sống, từ sự hiểu biết, khả năng quan sát của chúng ta. Nếu tước bỏ những
chi tiết ấy đi bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, kém hấp dẫn.
b. Tính sáng tạo, thẩm mĩ, tính chứa đựng tình cảm của người viết
Khi miêu tả bất kỳ một đối tượng nào đó ( người, vật hay cảnh ) dù có bám sát thực
tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh những sự
vật, con người đó một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng,
đánh giá hết sức phong phú, người viết nó bao giờ cũng gửi gắm tình cảm và quan
điểm thẩm mỹ của mình vào đó.
Cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người chọn một vị trí quan sát
khác nhau, có cách cảm nhận, sự rung cảm trước cảnh khác nhau nên phong cách
viết của từng người khác nhau. Bài văn miêu tả của người nào có sự quan sát thấu
đáo, tinh tế phát hiện ở cảnh vật, con người, … những nét đặc sắc, tinh tế, đồng
thời lại biết dùng những phương tiện tu từ để diễn đạt lại cách cảm, cách nghĩ của
mình thì bài văn đó đã thể hiện được sự sáng tạo. Như vậy tính sáng tạo chứa đựng
tình cảm của người viết trong văn miêu tả thể hiện ở chỗ họ phát hiện ra cái riêng,
cái mới của người khác không thấy hoặc chưa thấy, không cảm hoặc chưa cảm như
mình.
c. Tính chân thực

là “một ngôn ngữ bí mật”, nhà thơ lao động trên sự bí mật đó.
Hội họa dùng màu sắc, đường nét… âm nhạc diễn tả bằng âm thanh, tiết
tấu… điêu khắc dùng chất liệu (kim loại, đá, gỗ...) tạo nên hình khối, đường nét
v.v… Còn văn học phải diễn tả bằng ngôn từ. Mỗi tác phẩm văn học phải được
gắn liền với một thứ ngôn ngữ và văn tự (gốc) nhất định. Ngôn ngữ, văn tự là công
cụ của nhà văn. Nhà văn Nguyễn Tuân được ca ngợi là bậc thầy về ngôn ngữ. Văn
5
của ông là tờ hoa, là trang văn. Hồ Chí Minh viết văn làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ,
bằng tiếng Pháp, bằng chữ chữ Hán. Thật là kì tài.
Con người sống và làm việc để duy trì sự tồn tại và hơn nữa là thúc đẩy lịch
sử con ngưởi phát triển. Từ mục đích đó thì ngôn ngữ ra đời để chỉ rõ hiện tượng,
sự vật và ý nghĩa biểu tượng cần diễn đạt..., phục vụ cuộc sống và mục đích của
con người. Và còn mang một ý nghĩa khác quan trọng không kém trong cuộc sống
của con người là phục vụ trong hoạt động tinh thần, về những sáng tạo nghệ thuật
như thơ văn....của con người. Trong đó muốn diễn đạt nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa,
muốn lưu lại và muốn hữu hình ý của mình... thì hẳn nhiên con người phải tạo ra
một phương thức biểu hiện mới dễ dàng và khô đúc hơn- đó là ngôn từ.
Ngôn từ khác ngôn ngữ ở chỗ, ngôn từ là một trong hai bộ phận cấu thành
ngôn ngữ. Nó mang nét đặc trưng, cá nhân nhưng phổ biến và khoa học. Ngôn từ
là sự biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ trong sự giao tiếp sống động của con người
qua lời nói của một cá nhân, mang đậm sắc thái cá nhân để tác động đến một người
khác. Ngôn từ có thể là một từ, một nhóm từ, một câu, một đoạn văn... khi nói hoặc
khi viết. Và ngôn từ là cái tác động trực tiếp nhất, sớm nhất khi con người tiếp xúc
với tác phẩm. Nên nói đến một “tác phẩm nghệ thuật đích thực” không thể không
bàn đến sự phát minh về hình thức và sự khám phá về nội dung của ngôn từ trong
tác phẩm.
Nhưng nếu xét trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung thì ngôn từ chưa có trong
hầu hết bộ phận này. Cụ thể như trong kiến trúc hay hội họa... rất ít có ngôn từ, ít
lấy ngôn từ làm cách diễn đạt chính trong tác phẩm đó và không mang ý nghĩa
quan trọng, chủ chốt trong ngành. Vì nghệ thuật là tư duy của hình tượng, không

muốn tồn tại được thì phải luôn luôn gắn liền với nội dung, mang dấu ấn của nội
dung.
Ngôn từ mang nhiều nghĩa khác nhau và gần nhau. Ngôn từ là đa nghĩa và
khi đem nó vào sử dụng. Qua phát minh hình thức thành công của ngôn từ sẽ tạo ra
được những đoạn văn chương, những tác phẩm nghệ thuật cụ thể. Sẽ tạo ra “văn
cảnh” cho tác phẩm mà không một tác phẩm nghệ thuật đích thực nào có thể biểu
hiện hơn điều đó. Qua văn cảnh đó, ý muốn và dụng ý sáng tạo của tác giả được
bộc lộ sâu sắc, vì thế ngôn từ cũng đã làm tròn nhiệm vụ của mình là “phát minh
về hình thức và sáng tạo về nội dung”.
Trong sáng tạo về nội dung của ngôn từ thể hiện thì không phải người sáng
tạo dựa trên quy luật, dựa trên cái đã có để “xếp chữ” tạo ra một hình thức ngôn từ
mới là đủ như hiện nay điều này diễn ra rất phổ biến. Vì như vậy tạo ra sự sao
chép, học đòi và tính khoe mã không trung thực trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật
qua ngôn từ. Vì như vậy người nghệ sĩ sẽ chẳng khác nào một thợ lắp ráp ngôn từ
đơn thuần, ai muốn cũng có thể làm được. Mà họ phải làm chủ được tác phẩm của
mình, làm chủ ngôn từ trong tác phẩm của mình. Nó bắt nguồn từ cuộc sống và
viết nên từ sâu thẳm tim gan người cầm bút, từ những tư tưởng lớn và những suy
nghĩ...qua bút pháp riêng. Giúp con người nâng cao tâm hồn, nhận thức, tư tưởng...
về cuộc sống, về nhân lọai... đó cũng là điều dễ hiểu vì sao các tác giả lại đa số
không tìm cách phát triển năng lực tư duy hay phân tích trong mình mà lại dồn tất
cả năng lượng vào sự say mê đối với vật liệu- ngôn từ hơn.
Ngôn từ văn học có thể tồn tại ở nhiêù dạng : lời nói ,câu hát,… Đối với vaăn
học viết, ngôn từ là chữ viết.
Các bộ môn khoa học khác cũng được hình thành từ ngôn từ .Nhưng
văn bản ngôn từ chỉ là tác phẩm văn học khi văn bản ngôn từ ấy dùng lời văn với
8
mọi phương tiện biểu hiện của lời nói như: Nghĩa ,vần, nhịp, ngữ điệu , các biện
pháp tu từ , … để tạo ra những hình tượng nghệ thuật.
1.1.2.2 Văn bản nghệ thuật – nghệ thuật của ngôn từ
Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Nhờ chất liệu ngôn ngữ mà chất nhân

. Từ ngữ trong văn bản văn chương
thường mang tính gợi tả, gợi cảm, chúng “đi lại”, “nhảy nhót” trong tác phẩm.
Chính vì thế, trong các bài miêu tả, lớp từ láy được sử dụng rất nhiều. Nhờ có lớp
từ tượng hình, tượng thanh mà cảnh người, vật đang gồng gánh hàng họ đi chợ
được tả thật là sinh động, hối hả, nhộn nhịp:
Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đường. Tiếng kéo lách cách của
những người bán thịt bò khô. Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt. Tiếng còi tàu hỏa
thét lên và tiếng bánh sắt lăn trên đường ray ầm ầm. (Âm thanh thành phố – TV3 –
T1)
Chỉ với một sắc vàng với các cấp độ khác nhau: vàng xuộm, vàng hoe, vàng
lịm, vàng tươi, vàng ối, vàng xọng, vàng mượt, vàng giòn, vàng mới, vàng trù phú
nhà văn Tô Hoài đã thổi vào phong cảnh làng quê vào giữa ngày mùa một vẻ đẹp
lạ lùng: vẻ đẹp của những sắc vàng đầm ấm và trù phú. (Quang cảnh làng mạc
ngày mùa – TV5 – T1)
Những tính từ, nhất là những tính từ tuyệt đối như đỏ ối, xanh rợn, tím ngắt,
vắng tanh, vàng hoe, trắng tuyết, đỏ son, xanh um, thơm lừng, thơm ngát, đỏ chót,
ngọt lịm, cao vút, sâu hoắm,…được dùng với tần số cao tạo ra những sắc màu, hình
khối phong phú, đa dạng của những bài tập đọc ở tiểu học.
Về mặt ngữ nghĩa, từ trong văn bản văn chương có biên độ nghĩa được mở
rộng tối đa, tạo ra những nghĩa văn cảnh, nghĩa bóng rất đa dạng. Các nhà văn đã
vận dụng các nét nghĩa khác nhau và đã sử dụng từ rất là đắc địa.
Khi giải mã văn chương, phải nắm được các thế đối lập về nghĩa của từ
trong hệ thống ngôn ngữ mới hiểu văn bản và chỉ ra được sự tài tình của việc dùng
10
từ. Phải thấy được sự khác nhau về nghĩa của “xông” với “xộc”, hoặc “bay” thì
mới lột tả hết được sự ngỡ ngàng, thái độ ngạc nhiên vui thích và sự rung cảm của
nhà văn trước mùi hương ngào ngạt, đậm đà lan tỏa nhiều trong không khí.
Vì muốn gây ấn tượng, các nhà văn, nhà thơ đã đi chệch ra khỏi chuẩn mực
thông thường của ngôn ngữ toàn dân, sáng tạo ra bao từ mới chẳng hề có trong từ
điển. “Tím ngắt” thì chỉ màu sắc của mà hoa sầu riêng “tím ngát” thì lại có cả màu,

đứng ở tư thế ngang tầm trời đất; “Trời thu thay áo mới. Trong biếc nói cười thiết
tha” làm hiện lên gương mặt một đất nước mới dạt dào niềm vui say đắm vì được
làm chủ vận mệnh của mình. Rồi “Mái chèo khua bóng núi rung rinh” mới thể hiện
được sự xao động của lòng người khi đi thuyền trên hồ Ba Bể cùng với những hình
ảnh tượng trưng “Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh” nói về sức sống, sự trường
tồn của dân tộc Việt Nam,…
c) Về phương diện cú pháp, trước hết nhờ từ ngữ mang nghĩa biểu trưng, mà
tác phẩm văn học thường có những cách kết hợp từ bất bình thường, gây ấn tượng,
không hề có trong ngôn ngữ đời thường kiểu như: “Sắc màu Việt Nam” (Sắc màu
em yêu) ,”màu phượng mạnh mẽ kêu vang” ( hoa học trò), “ Thân hình cột
chặt”(thắng biển), “Khúc hát ngọt ngào”, “Tiếng hót làm xanh da trời” (Con chim
chiền chiện), “Đôi cánh đẫm nắng trời” (Hành trình của bầy ong), “hoa sầu riêng
tím ngát” (Sầu riêng),”Tuổi thơ được nâng lên từ những cánh diều”( cánh diều tuổi
thơ) “Giấc ngủ em nghiêng” (Lời ru trên nương)...
Cấu trúc ngữ pháp thơ không phải lúc nào cũng như cú pháp lời nói thường.
Lời thơ được nén lại, nên nhiều khi muốn giải mã câu thơ phải thêm từ ngữ để lấp
đầy. Không hiểu đặc điểm cú pháp của thơ, nhiều GV đã không cắt nghĩa đúng. Có
12
cô giáo đã giải nghĩa, “Gió về đưa hương lạ” (chùm hoa giẻ) là “Gió đưa về một
mùi hương không quen”, trong lúc câu thơ phải được hiểu “gió về mang theo mùi
hương thơm đến lạ lùng”. Có cô giáo đã dùng rất nhiều lời lẽ, cả hình ảnh trực
quan để giải nghĩa “dáng ân cần” trong câu thơ “Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ”
(Mẹ) là cái dáng như thế nào, trong lúc từ ân cần không phải dùng để tả dáng dấp
bề ngoài mà câu thơ phải được hiểu “Nhớ dáng mẹ, sự chăm sóc của mẹ…tất cả
đều toát ra vẻ ân cần”.
Trong văn bản nghệ thuật, các kiểu câu theo mục đích nói khác nhau được
sử dụng đan xen rất linh hoạt, đặc biệt là những câu cảm thán, câu hỏi tu từ được
sử dụng tài tình đã phát huy được hiệu quả nghệ thuật.
Nói đến phương diện ngữ pháp của văn bản nghệ thuật, cần phân biệt lời
nhân vật và lời tác giả, những nhận định, những lời bàn trực tiếp hay những câu

bát sóng đôi láy đi láy lại mãi : câu lục nhớ về cảnh Việt Bắc, câu bát nói về người
Việt Bắc cùng với điệp từ nhớ, cứ thế cảnh với người, người cảnh điệp lại miên
man không dứt trong nỗi nhớ.
Ba khổ thơ trong bài Con chim chiền chiện (TV2) cũng được viết rất chặt chẽ : khổ
thơ nào cũng dùng hai câu để nói về dáng bay và hai câu nói về giọng hót của con
chim sơn ca này. Nhưng khổ thơ sau không phải là sự lặp lại mà phát triển thành
khổ thơ trước : đã bay cao càng cao hơn : “bay vút vút cao” đến “chim bay chim
sà” và cuối cùng “bay cao cao vút” tiếng hót đã hay càng hay hơn : “Khúc hát ngọt
ngào” đến “Chan chứa lời chim ca” và cuối cùng hay đến gây bất thường, đến mức
nghe tiếng chim hót ta tưởng như trời xanh hơn, đẹp hơn lên “Tiếng hót làm xanh
da trời”.
14
Những bài như Vẽ quê hương, Nghệ nhân Bát Tràng cùng có một điểm
chung về cấu tứ : Vừa ca ngợi bức vẽ đẹp, ca ngợi tài hoa của người vẽ - một nghệ
sĩ tí hon hay một nghệ nhân, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước -
nguồn đề tài vô tận của những nghệ sĩ này. Câu thơ “Chị ơi bức tranh. Quê ta đẹp
quá!” (Vẽ quê hương) là tiếng reo vui vì biết vẽ và vì sự bất ngờ về vẻ đẹp của quê
hương. Còn những gì được khắc lên đất cao lanh “nở đầy sắc hoa” trên đồ gốm Bát
Tràng như “cánh cò bay lả bay la”, “luỹ tre đầu xóm”, “cây đa giữa đình”, “con đò
lá trúc”, “trái mơ tròn trĩnh”, “quả bóng đung đưa” (Nghệ nhân Bát Tràng) ... đều là
hình ảnh thân thương, tươi đẹp của làng quê Việt Nam.
Với bài Sắc màu em yêu, Phạm Đình Ân (TV5 – T1) cũng đã tìm được một
cách nói sáng tạo, mới mẻ để viết về Tổ quốc, nhân dân. Tác giả đã ngắm nhìn, soi
xét, mong muốn từ góc độ của sắc màu : màu đỏ như máu trong tim, như lá cờ Tổ
quốc, như khăn quàng đội viên. Rồi đến màu xanh, màu trắng, màu nâu...để cho
bài thơ từ từ hiện lên một Tổ quốc gần gũi thân yêu cùng với em bé với những
người thân trong gia đình của em là bà, mẹ và chị.
Bài Việt Nam của Lê Anh Xuân và Đất nước của Nguyễn Đình Thi đều chọn
cấu từ theo hai trục không gian và thời gian để nói về đất nước tươi đẹp và truyền
thống của cha ông. Có những bài, đoạn chọn cấu trúc tổng – phân - hợp như Nghe

bài thơ có chiều sâu triết lí chứa đựng biết bao xao động, ngỡ ngàng, phát hiện lắng
sâu trong suy tư của Nguyễn Duy về dân tộc Việt.
Cũng ca ngợi sức lao động nhưng cách nói “Mồ hôi mà đổ xuống đồng. Lúa
mọc trùng trùng sáng cả đồi nương” khác với “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức
người sỏi đá cũng thành cơm.” mà có giáo viên đã giải mã hình ảnh “bàn tay” sai,
nói rằng đó là muốn nói đến lao động của các anh bộ đội hồi ấy còn vất vả, thô sơ
phải làm thủ công, bằng tay.
16
1.1.3 Cảm thụ văn học và đặc điểm của cảm thụ văn học
1.1.3.1 Cảm thụ văn học
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê – Trung tâm từ điển ngôn ngữ, Hà
Nội, 1992 thì cảm thụ là “nhận biết được cái tế nhị bằng cảm tính tinh vi”.
Theo giáo sư Trần Mạnh Hưởng thì hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn
học chính là : “sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp
đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ...) hay một
bộ phận tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, ...thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu
văn, câu thơ)
Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một tác phẩm , một câu chuyện,
một bài thơ... ta không hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thực sự gần gũi,
nhập tâm với những gì đã học.
1.1.3.2 Đặc điểm của cảm thụ văn học
Lí thuyết cảm thụ văn học đã chỉ ra 3 cấp độ trong cảm thụ văn học:
- Người đọc tri giác, hiểu ngôn từ, tình tiết, cốt truyện,thể loại để có cảm nhận
hiện tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ.
- Người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ
thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của tác giả.
- Người đọc đưa hình tượng vào đời sống kinh nghiệm riêng của mình để thể
nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng, nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp quan niệm
và tính hệ thống,hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn học, tư tưởng,
đời sống và truyền thống nghệ thuật.

thế dạng bài này chỉ nên sử dụng ở mức độ nhất định và đan xen với các dạng bài
tập khác.
- Nhóm bài tập cắt nghĩa ngôn ngữ văn bản
18

Trích đoạn Dạng bài cắt nghĩa ngôn ngữ trong văn bản:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status