MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Hiện nay một trong những vấn đề bức xúc của nền giáo dục phổ thông
nước ta là vấn đề phân luồng học sinh tốt nghiệp THCS và THPT. Hàng năm
ở nước ta có hơn nửa triệu học sinh tốt nghiệp THCS và hơn 1,2 triệu học
sinh tốt nghiệp THPT ra trường, tạo cho đất nước một nguồn lao động dự trữ
có học vấn phổ thông và một nguồn tuyển sinh lớn cho đất nước. Tuy nhiên,
do việc hướng nghiệp cho học sinh các trường phổ thông chưa tốt nên khi ra
trường các em chưa được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi vào lao động sản xuất,
đáp ứng yêu cầu phân công lao động cho xã hội của từng địa phương và cả
nước.
Điều 27 chương III Luật Giáo dục (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
đã đưa ra mục tiêu của giáo dục THPT: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh
củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện
học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng
nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển,
tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động”. [22,15]
Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nhận định khái quát: “Công tác hướng
nghiệp ở bậc phổ thông chưa được chú ý đúng mức” và khẳng định: “Mở
rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, ngoại
ngữ, tin học ở trường trung học, nâng cao năng lực tự học và thực hành cho
học sinh” [15, tr 27,32].
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và chủ trương đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu
tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả
1
vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao
động hoặc tiếp tục được đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội.
Hơn nữa, hiện nay nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO
Việc áp dụng các biện pháp quản lý trong nhà trường nếu theo hướng
thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý trong việc: chỉ đạo bồi dưỡng và
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, tổ chức các buổi sinh
hoạt hướng nghiệp cho học sinh thì sẽ nâng cao chất lượng quản lý giáo dục
hướng nghiệp của Hiệu trưởng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp ở
trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của
Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An.
5.4. Khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục hướng
nghiệp của Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Xuân Ôn, tỉnh Nghệ An.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn,
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
7. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng chủ yếu các nhóm phương pháp sau:
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các Văn kiện, Thông tư, Chỉ thị
- Nghiên cứu các sách về quản lý giáo dục hướng nghiệp.
3
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát thực tế.
- Phương pháp so sánh, phân tích thực trạng.
- Điều tra bằng các phiếu hỏi.
- Lấy ý kiến chuyên gia.
7.3. Nhóm các phương pháp thống kê, xử lý số liệu
triển nguồn lực phục vụ nền kinh tế - xã hội. Giáo dục và đào tạo nhằm vào
việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Trong giáo dục
với tư cách là nền tảng cho việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực cần coi
trọng giáo dục lao động và hướng nghiệp, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, vì đây
là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.
Hướng nghiệp và dạy cho HS phổ thông một nghề hoặc biết làm một
công việc để mưu sinh đang là xu thế phổ biến trên thế giới. Đặc biệt ở các
nước phát triển, họ luôn coi trọng GDHN.
Ở Pháp, từ giữa bậc học sơ trung đã có sự phân hóa ra hai con đường
học văn hóa và học nghề và càng sâu ở các năm học sau. Để giúp học sinh
định hướng được việc học cũng như việc chọn nghề, công tác hướng dẫn
CMHS được đặc biệt chú trọng. Một hệ thống các cố vấn về hướng nghiệp
thực hiện công tác đó cùng với nhà trường và xã hội. Hướng nghiệp được tiến
hành ngày càng chuyên sâu hơn để đáp ứng sự phân hóa theo nhiều phân ban
hẹp, trong đó phần lớn là các ban Kỹ thuật - Công nghệ, đào tạo kỹ thuật viên
và tú tài kỹ thuật viên. Năm 1948 những người làm công tác hướng nghiệp ở
Pháp đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên
5
trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động
của thế hệ trẻ. [30, tr 10,11]
Nhật Bản cũng là nước sớm quan tâm đến mối liên hệ giữa kiến thức
phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp, trong đó công tác
hướng nghiệp có tên gọi là: “Hướng dẫn tiền đồ”. [30, tr 10,11]
Ở Mỹ, kết hợp chặt chẽ với chương trình công nghệ và dạy nghề và
cũng đã đưa môn: “Hướng dẫn chọn nghề” (Vocational Guidance) vào giảng
dạy trong trường phổ thông. [30, tr 10,11]
Karl Marx đã khẳng định việc lựa chọn nghề là một việc rất quan trọng
trong cuộc sống con người: “Khả năng lựa chọn nghề là mặt ưu việt của con
người trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn
ấy lại là một hành động có thể tiêu diệt cuộc sống của họ, làm tiêu tan mọi dự
GD-ĐT “Nghiêm túc triển khai thực hiện đủ hoạt động GDHN ở các trường
THCS, THPT…” và “Đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
phổ thông để góp phần phân luồng và chuẩn bị cho học sinh lớp 9 lựa chọn
các ban học ở trường THPT hợp lý và giúp học sinh lớp 12 lựa chọn học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động”. ( Xin xem sơ đồ 1.1).
Sơ đồ 1.1. Các hướng phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT
7
Đại học
Cao đẳng
Trường
Trung học phổ thông
THCN
Dạy nghề
dài hạn
Dạy nghề
ngắn hạn
Thị trường
lao động
Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [13],
Trần Khánh Đức [14], Hà Thế Truyền [36,37], Đặng Danh Ánh [1,2], Nguyễn
Viết Sự [27,28], Nguyễn Đức Trí [34,35], Nguyễn Bá Minh [24], Nguyễn
Văn Lê-Hà Thế Truyền-Bùi Văn Quân [20], Nguyễn Trọng Bảo [8], Phạm
Huy Thụ [29]. Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào
nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục
đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho HS phổ thông.
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo “vấn đề GDHN vừa là một vấn đề cơ
bản, vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông ngày nay” và để
làm tốt thì “GDHN phải được quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường.
Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là
- Xét về phương diện kinh tế học: “Hướng nghiệp được hiểu là hệ
thống những biện pháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề
nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước. Hướng
nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động
xã hội”.
- Xét về phương diện tâm lý học: “Hướng nghiệp được coi như một quá
trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng đi vào lao động nghề nghiệp. Sự sẵn
sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước
hoạt động lao động”.
- Xét về phương diện khoa học lao động: “Hướng nghiệp là hình thức
giám định lao động có tính chẩn đoán. Đó là quá trình xác lập sự phù hợp
nghề của từng người cụ thể trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc
điểm tâm - sinh lý của người học với những yêu cầu của một nghề nào đó đối
với người lao động”.
9
- Xét về phương diện của trường phổ thông: Hướng nghiệp vừa là hoạt
động dạy của thầy vừa là hoạt động học của trò. Như vậy có nghĩa là trong
công tác hướng nghiệp giáo viên là người tổ chức, người hướng dẫn còn học
sinh là người chủ động tham gia vào hoạt động để tiếp cận với hệ thống nghề
nghiệp. Kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của
HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Như vậy hướng nghiệp là quá
trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động
sản xuất xã hội.
Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà
trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn
và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại
những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp hứng thú năng lực
cá nhân . [20, tr 37,38].
Tóm lại, thực chất hướng nghiệp trong trường phổ thông là nhằm thực
hiện nhiệm vụ hình thành nhân cách nghề nghiệp cho HS, trên cơ sở điều
phương pháp tiến hành và mục đích hướng nghiệp.
Trong trường phổ thông, thực chất công tác GDHN là quá trình giáo
dục nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của học sinh nhằm giải
quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân với
nghề, giáo dục lựa chọn nghề một cách có ý thức nhằm bảo đảm cho con
người hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp và đạt năng suất lao động cao.
1.2.4. Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp
Biện pháp quản lý GDHN là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong công tác GDHN nhằm
đạt được mục tiêu đề ra.
Công tác quản lý GDHN được thực hiện nhờ các chức năng quản lý
giáo dục (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra). Chính vì thế, trong quá trình
11
thực hiện chức năng quản lý GDHN, chủ thể quản lý cần phải tiến hành các
biện pháp quản lý GDHN như sau:
- Biện pháp kế hoạch hóa công tác GDHN trong và ngoài nhà trường
theo mục tiêu đã đề ra.
- Biện pháp tổ chức:
+ Thành lập Ban chỉ đạo công tác GDHN., đánh giá kết quả và hiệu quả
công tác GDHN.
+ Xây dựng việc phối - kết hợp giữa các lực lượng tham gia công tác
GDHN trong và ngoài nhà trường.
- Biện pháp chỉ đạo:
+ Chỉ đạo công tác GDHN qua hoạt động dạy - học các môn văn hóa,
khoa học cơ bản.
+ Chỉ đạo công tác GDHN qua hoạt động dạy học môn Kỹ thuật.
+ Chỉ đạo công tác GDHN qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp.
+ Chỉ đạo công tác GDHN qua hoạt động lao động, dạy nghề phổ thông.
+ Chỉ đạo công tác GDHN qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
+ Chỉ đạo xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với các cơ sở giáo
- Hướng nghiệp qua dạy các môn văn hóa.
- Hướng nghiệp qua dạy kỹ thuật công nghệ và dạy nghề phổ thông.
- Hướng nghiệp qua các hoạt động hướng nghiệp.
- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa.
1.3.3. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
1.3.3.1. Ý nghĩa giáo dục
GDHN là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội chủ nghĩa. Về
phương diện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề
của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân
công lao động xã hội. Kinh nghiệm trong nước và ngoài nước cho thấy rằng,
13
sự chọn nghề tự phát của thanh niên thường không phù hợp với hướng phát
triển sản xuất và cơ cấu ngành nghề trong xã hội. Vì vậy tác động giáo dục
trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt. Kết quả cuối cùng cần
đạt là mỗi học sinh phải tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát
triển sản xuất lên trên nguyện vọng của cá nhân mình.
Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một công việc góp phần vào
cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Trong giai đoạn cách mạng
hiện nay, trường phổ thông phải góp phần chuẩn bị thế hệ trẻ thành những
người lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Tốt nghiệp trường phổ
thông, học sinh phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc tiếp
tục học lên để sau này làm tốt một nghề. Như vậy, quá trình hướng nghiệp
trong nhà trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp
chung chung, mà phải hướng học sinh vào nghề nghiệp cụ thể.
1.3.3.2. Ý nghĩa kinh tế
Hoạt động GDHN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao
động trẻ tuổi của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của xã hội. Đặt
thanh thiếu niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp cho họ phát huy
được hết năng lực, sở trường lao động, phát triển cao những hứng thú nghề
nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạo trong lao động. Làm như vậy nghề nghiệp
Hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có những
tác dụng làm ổn định đời sống xã hội, góp phần tạo điều kiện để xã hội sử
dụng có hiệu quả lực lượng học sinh phổ thông ra trường trong lĩnh vực kinh
tế, kể cả kinh tế quốc doanh lẫn lĩnh vực kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế
gia đình.
Chúng ta biết rằng, để thanh thiếu niên đứng ngoài lao động nghề
nghiệp và hơn nữa, đứng ngoài công ăn việc làm, xã hội sẽ gặp rất nhiều
những vụ việc lộn xộn, tiêu cực do tuổi trẻ gây ra. Điều này không chỉ gây
nên những lo âu cho người lớn, mà nguy hiểm hơn là tạo ra những thói hư, tật
15
xấu ở tuổi trẻ, từ đó dẫn đến tình trạng suy thoái nhân cách của những lớp
người mới lớn. Hướng dẫn thanh thiếu niên chọn nghề, hình thành ở các em
tinh thần yêu thích lao động, thái độ sẵn sàng tham gia lao động sản xuất,
đóng góp sức lực, tài trí cho sự mở mang ngành nghề, phát triển kinh tế - đó
là một nội dung giáo dục rất cơ bản giúp thế hệ trẻ phấn chấn và tự giác chấp
nhận sự phân công lao động xã hội, tin yêu chế độ xã hội.
1.3.4. Tính chất của giáo dục hướng nghiệp
1.3.4.1. Hướng nghiệp có tính chất xã hội rộng rãi
Để tiến hành công tác hướng nghiệp cho thế hệ trẻ đòi hỏi phải có sự
tham gia của nhà trường, gia đình và các cơ quan đoàn thể khác cùng hợp tác
với nhau. Kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng không thể riêng một cơ quan
nào đảm nhiệm hướng nghiệp mà đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Tính chất xã hội của hướng nghiệp còn được thể hiện trong tính chất
hai mặt của bản chất vấn đề hướng nghiệp. Một mặt nó phản ánh những quy
luật chung của sự vận hành và phát triển một hình thái kinh tế - xã hội nhất
định. Mặt khác phản ánh những quy luật hình thành con người và các quy tắc
hành vi của mỗi cá nhân có chú ý đến những đặc điểm nhân cách từng con
người cụ thể.(Xin xem sơ đồ 1.2.).
Sơ đồ 1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc hướng nghiệp
và phân luồng học sinh tốt nghiệp phổ thông
Học nghề
(Trang bị kiến thức, kỹ
năng, thái độ)
Phù hợp nghề
Hành nghề
TRƯỜNG
PHỔ THÔNG
TRƯỜNG
CHUYÊN
NGHIỆP
CƠ SỞ
SẢN XUẤT
KINH DOANH
GIA ĐÌNH PHƯƠNG TIỆN
THÔNG TIN
CÁC TỔ CHỨC
XÃ HỘI
CƠ QUAN
CHUYÊN MÔN
THCN, CĐ, ĐH. Với quan điểm hướng nghiệp là một quá trình giáo dục với
mục đích cuối cùng là đào tạo thế hệ trẻ trở thành người lao động hoạt động
có hiệu quả thì trong giai đoạn mới này công tác hướng nghiệp lại phải bắt
đầu một giai đoạn mới, với nội dung mới tích cực và hữu hiệu hơn, là thời kỳ
chuyển dần từ HS thành cán bộ hoặc công nhân có tay nghề. Giai đoạn này
còn có tên gọi là giai đoạn thích ứng nghề với mục đích và nội dung đào tạo
nghề nghiệp, giáo dục lòng yêu nghề, lòng tự hào về giai cấp, tính cần cù và
kỷ luật lao động, tính tổ chức, tính tập thể…
Hơn nữa, cơ cấu nghề nghiệp xã hội luôn thay đổi dưới ảnh hưởng của
cách mạng khoa học kỹ thuật và kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân nên
công tác hướng nghiệp còn cần thiết đối với tất cả những người đang tham gia
số trường hoặc địa phương, về nhu cầu nhân lực và về năng lực của học sinh
từ đó cho học sinh những lời khuyên nên học gì? Ở đâu?
+ Tư vấn chuyên sâu: Tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính
xác cao nhờ vào các máy móc hiện đại. Điều kiện để có loại tư vấn chuyên
sâu đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn được đào tạo có tay nghề cao
như các nhà tâm lý, các nhà giáo dục, các bác sĩ…
- Tuyển chọn nghề là xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển
người phù hợp vào học hay vào làm việc.
Ba nội dung này có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau. Trong
trường THPT ta thường tiến hành định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề
nghiệp, đồng thời góp phần cho việc tuyển chọn nghề. Trong đó tư vấn nghề
nghiệp là cầu nối giữa hai nội dung kia và nó được thể hiện bằng sơ đồ sau:
19
Sơ đồ 1.5. Mối quan hệ của nội dung giáo dục hướng nghiệp
Từ ba nội dung định hướng nghề, tuyển chọn nghề và tư vấn nghề ta
lại có thêm ba nội dung khác tạo thành sáu thành tố trong nội dung GDHN
được thể hiện bằng sơ đồ 3 dưới đây của Platônôp.
Sơ đồ 1.6. Nội dung giáo dục hướng nghiệp
Định hướng nghề
Tư vấn nghề
Ở trường THPT nội dung cụ thể giáo dục hướng nghiệp được bố trí ở
từng khối lớp như sau:
20
Định hướng
nghề nghiệp
Tư vấn
hướng nghiệp
Tuyển chọn
nghề nghiệp
Đặc điểm, yêu cầu
11
1 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Giao thông, Vận tải
và Địa chất
1
2 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực Kinh doanh, dịch
vụ
1
3 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực An ninh, Quốc
phòng
1
4 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Năng lượng, Bưu
chính viễn thông, Công nghệ thông tin
1
5 Giao lưu với gương vượt khó, điển hình về sản xuất,
kinh doanh giỏi
1
6 Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động 1
7 Tôi muốn đạt được ước mơ 1
8 Tìm hiểu thực tế một trường Đại học, Cao đẳng,
TCCN, Dạy nghề tại địa phương
2
12
1 Định hướng phát triển kinh tế của đất nước và địa
phương
1
2 Những điều kiện để thành đạt trong nghề 1
3 Tìm hiểu hệ thống đào tạo trường TCCN và dạy nghề
của Trung ương và địa phương
1
4 Tìm hiểu hệ thống đào tạo Đại học và Cao đẳng 1
của quá trình sản xuất đồng thời rèn luyện cho học sinh sử dụng và điều khiển
được công cụ sản xuất cơ bản của một số ngành nghề chính.
Giáo dục KTTH có mục đích góp phần đào tạo con người phát triển
toàn diện, có khả năng lao động sáng tạo và có tiềm lực để chuyển đổi nghề
khi kỹ thuật và qui trình công nghệ đổi mới.
Do vậy GDLĐ, giáo dục KTTH, GDHN tuy không đồng nhất với nhau
nhưng đều có chung mục tiêu là đào tạo con người không những sẵn sàng lao
động mà còn lao động sáng tạo có khoa học và đạt kết quả cao. Chính vì vậy
GDHN phải tiến hành trên tinh thần giáo dục toàn diện, giáo dục lao động và
KTTH.
1.3.6.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong giáo dục
hướng nghiệp
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình GDHN phải được tiến hành sao cho
quá trình tiếp thu các tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của các ngành nghề
khác nhau của học sinh, phải diễn ra nghiêm ngặt, phù hợp với lôgic khoa học
23
GDLĐ
GD KTTH
GDHN
Đào tạo
con
người
lao động
của lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng, cũng như phù hợp với đặc điểm tâm,
sinh lý lứa tuổi và lao động nhận thức của học sinh.
Nguyên tắc này đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải tiến hành
bằng nhiều con đường khác nhau và phải huy động được sự tham gia đóng
góp của nhiều lực lượng như gia đình, nhà trường và xã hội.
1.3.6.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của quá trình GDHN
Đảm bảo thực tiễn là nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong GDHN.
Điều 27 Luật Giáo dục (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định
mục tiêu của giáo dục ở trường THPT: “Giúp HS củng cố và phát triển những
kết quả của GD THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết
thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá
nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, Trung cấp,
học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. [22, 15]
Ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 126/CP,
trong quyết định này đã khẳng định: “Thực hiện phân ban ở cấp THPT trên cơ
sở đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện và hướng nghiệp cho
mọi học sinh”.
Ngày 23/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị số 33/2003/CT-
BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông. Từ khi sáp nhập Bộ
Giáo dục và Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp thành Bộ GD&ĐT, đây là
lần đầu tiên có một Chỉ thị do Bộ trưởng ký về GDHN. Chỉ thị đã khẳng định
GDHN là một bộ phận hữu cơ của nội dung giáo dục toàn diện đã được xác
định trong Luật giáo dục. Chỉ thị đã xác định ý nghĩa, mục tiêu, nội dung của
GDHN, đồng thời còn chỉ ra nhiệm vụ cụ thể của các cấp quản lý, các cơ sở
giáo dục… trong việc đẩy mạnh GDHN thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện, chuẩn bị cho học sinh học lên hoặc đi vào đời sống lao động, phục vụ
cho sự phát triển đất nước.
25