Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc Cách mạng Khoa học và Công nghệ đang phát triển với những bước
tiến nhảy vọt nhằm đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ
nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Nó biến đổi nhanh chóng và sâu sắc
đến tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, trong đó có giáo dục. Vấn đề toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế vừa tạo ra quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình
đấu tranh gay gắt của các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia. bảo tồn bản sắc văn hoá
và truyền thống dân tộc.
Những xu thế chung nêu trên đã tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong giáo dục
mà nổi bật nhất là vấn đề đổi mới giáo dục đang diễn ra trên toàn cầu.
Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII của Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của giáo
dục và đào tạo "Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển biến
nhanh chóng về hiệu quả và chất lượng đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo
nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa giáo dục -
đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước".
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Song bên cạnh những thuận lợi và cơ hội thì chúng ta
cũng gặp không ít khó khăn và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển, đó là
"Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển".
Để đi tắt và đón đầu về phát triển kinh tế - xã hội nhằm theo kịp các nước
phát triển thì vai trò của giáo dục ngày càng được khẳng định. Năng lực của đội
ngũ ngành giáo dục quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục; chất lượng và
hiệu quả giáo dục sẽ quyết định năng lực đội ngũ nhân lực thực hiện mục tiêu
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.
1
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW được thành lập tháng 5/2006 trên
cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc - Họa TW, một cơ sở giáo dục hàng đầu
của cả nước trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật cho các

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục trong trường đại học
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo trường Đại học Sư
phạm Nghệ thuật TW.
4. Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học trong nhà trường Đại học bao gồm hoạt động dạy của
giảng viên và hoạt động học của sinh viên. Do thời gian thực hiện luận văn có giới
hạn, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, chúng tôi tập
trung nghiên cứu công tác quản lý của phòng Đào tạo về hoạt động dạy của giảng
viên trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW.
4.2 Giới hạn khách thể điều tra
Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, Trưởng phòng Ban, Khoa, Tổ trưởng
chuyên môn và một số cán bộ giảng viên của trường.
5. Giả thuyết khoa học
Xuất phát từ cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, đề tài đề xuất các biện
pháp quản lý hoạt động dạy học cho phòng Đào tạo một cách khoa học, hiệu quả
và khả thi thì chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng quản lý đào tạo nói
chung của Nhà trường sẽ đảm bảo được tính chuyên nghiệp, phát triển và hiện đại,
đáp ứng yêu cầu giáo dục - đào tạo của nhà trường và yêu cầu xã hội trong xu thế
hội nhập hiện nay.
3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hóa, phân tích các vấn đề lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và
quản lý hoạt động dạy học trong trường Đại học.
6.2 Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của phòng
Đào tạo trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW.
6.3 Đề xuất và lý giải các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích các văn bản hướng dẫn
hoạt động dạy học, tổng hợp các tư liệu, tài liệu minh chứng, những thuận lợi, khó
khăn về quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo, qua đó rút ra những kết
luận làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý này.
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, hệ số
tương quan thứ bậc Spiếcman… xử lý, đánh giá số liệu thu được
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung cơ bản của luận văn thể hiện 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo
trong các trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo
trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo
trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA PHÒNG
ĐÀO TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO)
năm 1994 đã từng nhận định “Không có một sự tiến bộ nào, sự thành đạt nào có
thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó.Và
những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết
tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả thì số phận quốc gia đó xem như
đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản”.
Trong thế kỷ XXI, sự nghiệp phát triển giáo dục của bất kỳ quốc gia nào
trên thế giới cũng chịu sự tác động của nền kinh tế tri thức, sự phát triển như vũ
bão của khoa học và công nghệ, đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

“Hai trăm tri thức hàng đầu đã làm cho nước Pháp nổi lên ở Châu Âu. Kinh
tế Hàn Quốc cất cánh được là dựa vào hơn 100 tri thức cao cấp” (Nhận xét của
Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc) [1]. Từ một đất nước nghèo về tài nguyên, chịu sự
tàn phá nặng nề bởi cuộc chiến tranh thập niên 50 thế kỷ trước, tuy vậy Hàn Quốc
đã có những cố gắng vượt bậc trong kinh tế và trở thành thành viên thứ 29 của tổ
chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), có nền kinh tế và công nghệ đứng thứ
11 trên thế giới. Hàn Quốc có được như ngày hôm nay đã trải qua hơn 20 năm đầu
tư mạnh mẽ cho giáo dục - đào tạo. Từ năm 2001, Hàn Quốc cơ cấu lại bộ máy
quản lý nhà nước về giáo dục, lập Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực, năm
2003 thành lập Hội đồng canh tân giáo dục trực thuộc Tổng thống với khẩu hiệu
“Những cuộc cải cách giáo dục và sự sáng tạo nhà máy năng lượng sản sinh tri
thức và văn hóa”. [1]
7
Những quốc gia phát triển Nhật Bản, Singapore, Canađa, Ôtxtrâylia… đã
và đang luôn quan tâm đến giáo dục phải là ở hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt
trong phát triển xã hội tương lai.
1.1.2 Tại Việt Nam
Nhận thức được vai trò giáo dục đối với sự phát triển của đất nước, Đảng,
Nhà nước, Chính phủ và toàn dân Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu,
phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy
sự nghiệp CNH - HĐH, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người -
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam các kỳ VIII, IX, X đều nhấn mạnh đổi mới toàn diện,
sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo trong đó đề xuất các
giải pháp đổi mới quản lý giáo dục (QLGD) luôn được coi là khâu đột phá. Nghĩa
là tập trung giải quyết tốt việc đổi mới QLGD sẽ tạo cú hích làm chuyển động
toàn hệ thống. Bộ GD&ĐT, các Trường, Viện nghiên cứu, các Tổ chức xã hội…
đã có nhiều cuộc hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học, bài viết về QLGD nói
chung, chiến lược phát triển giáo dục, chất lượng quản lý Nhà nước về giáo dục,
quản lý dạy học, đổi mới phương pháp dạy học… như : Hệ thống giáo dục hiện

dạy học ngoại ngữ của chủ nhiệm bộ môn trường CĐSP Trung Ương của Bùi Phi
Yến; Biện pháp QL hoạt động dạy học của phòng Đào tạo trường Cao đẳng Sư
phạm Thái Nguyên của Nguyễn Thị Thu Thơm v.v
Đặc biệt, những đề tài QLGD dành cho các trường cao đẳng, đại học thể
hiện nhận thức sâu sắc của các tác giả khi có cùng quan điểm rằng cần phải đổi
mới toàn diện, mạnh mẽ QLGD đại học để có được nguồn nhân lực chất lượng
cao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình CNH - HĐH đất nước,
bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế. Có thể kể đến những đề tài về
giải pháp (biện pháp) QL nâng cao (tăng cường) chất lượng đào tạo, đổi mới QL
9
hoạt động dạy học… của các tác giả Lê Thị Thu Huyền, Hoàng Thu Hoài, Thái
Thị Bích Vân ở Hải Phòng; Tạ Thị Bích Liên, Nguyễn Thị Minh ở Hà Nội; Lê
Minh Hiến, Trần Văn Hùng ở Tây Nguyên; Nguyễn Trường ở Đắk Lắk; Trần
Văn Cường ở Quảng Ninh v.v
Quán triệt tinh thần của Chỉ thị 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ
tướng chính phủ và Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/1/2010 của Ban cán sự
Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn
2010-2012 và xây dựng chiến lược 2011-2015 hướng tới năm 2020, Trường
ĐHSP Nghệ thuật TW đã, đang thực hiện công tác đổi mới hoạt động giáo dục về
mọi mặt, đặc biệt chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy chúng
tôi đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo
trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW " làm hướng nghiên cứu và đề xuất
một số biện pháp quản lý giáo dục nhằm góp chung tinh thần đổi mới, nâng cao
công tác quản lý giáo dục đối với Nhà trường.
1.2 Những vấn đề chung
1.2.1 Quản lý, chức năng của quản lý
Trong toàn tập Các Mác - Ănghen toàn tập chỉ rõ “Quản lý xã hội một cách
khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những
hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng
đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và

định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mỗi quan hệ của những người
tham gia hoạt động chung. Đó là cơ sở hình thành các chức năng quản lý. Từng
chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một
hệ thống nhất quán.
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục, quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản
liên quan mật thiết với nhau. Đó là kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, đánh giá và thông
11
tin là trung tâm của quản lý. Có thể mô hình hoá mối quan hệ giữa các chức năng
như sau:
Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa các chức năng của quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
Cũng như khái niệm quản lý, quản lý giáo dục được hiểu theo nhiều góc
độ, nhiều quan niệm khác nhau. Trong cuốn cơ sở lý luận của khoa học quản lý
giáo dục, tác giả M.L. Konđacốp đã định nghĩa “QLGD là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt
xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung
của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục” [26].
Tác giả Nguyễn Quốc Chí cho rằng “QLGD thực hiện chức năng ổn định,
duy trì đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội. QLGD nhằm
phối hợp với các ngành, các lực lượng xã hội tiến hành công tác xã hội hóa giáo
dục, huy động các nguồn lực và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
QLGD thực hiện nhiệm vụ này thông qua việc thực hiện 4 chức năng: Lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [8].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “QLGD thực chất là tác động một cách
khoa học đến nhà trường nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể
chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, tiến tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái chất lượng mới” [27].
Sự thực thuật ngữ QLGD được xem xét dưới 2 cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô
và cấp vi mô. QLGD cấp vĩ mô là quản lý một nền/hệ thống giáo dục. Ở cấp độ

lý khó khăn, phức tạp, đòi hòi tính khoa học và tính nghệ thuật cao. Ngày nay,
QLGD đã phát triển thành một ngành khoa học có hệ thống lí luận riêng của nó.
13
1.2.3 Quản lý Nhà trường, quản lý trường Đại học
1.2.3.1 Quản lý Nhà trường
Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã
hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát
triển của xã hội. Đó là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác đào tạo,
giáo dục thế hệ trẻ và được coi là “tế bào của hệ thống giáo dục quốc dân”. Nhà
trường là một khách thể cơ bản của tất cả các cấp QLGD và là một hệ thống độc
lập tự quản của xã hội. Các cấp QLGD tồn tại trước hết cốt lõi là vì chất lượng
hiệu quả hoạt động của nhà trường mà trung tâm là hoạt động dạy học. Nhà
trường là nơi thực hiện hóa mọi chủ trương, đường lối, chính sách giáo dục của
Đảng, Nhà nước các cấp, đồng thời cũng là nơi kiểm chứng những vấn đề lý luận
Khoa học giáo dục nói chung, Khoa học quản lý giáo dục nói riêng. Đó là trung
tâm giáo dục, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cộng đồng và xã hội. Vì thế, người
ta coi Nhà trường là vầng trán của cộng đồng và xã hội, là bộ mặt phản ánh nền
giáo dục của một đất nước.
Xét về bản chất, Nhà trường là tổ chức mang tính Nhà nước - xã hội - sư
phạm, thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội, bản chất sư phạm. Cho nên, một
cách khác, có thể hiểu:
Quản lý Nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này
đòi hòi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý
lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội -
kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên.
Hoặc: Quản lý nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học…Có tổ chức được hoạt
động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ
nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng
và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất
nước. Mặt khác, quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo

15
+ Quản lý hệ thống thông tin giáo dục (quản lý hoạt động ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông trong các hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục)
1.3 Hoạt động dạy học
1.3.1 Hoạt động dạy học
Tri thức nhân loại luôn luôn phát triển và mỗi ngày một hoàn thiện hơn.
Khái niệm dạy học cũng dần dần được mở rộng về nội hàm để thích ứng với
những yêu cầu về tiêu chuẩn nhân cách người học do mỗi hình thái xã hội quy
định và để phù hợp với sự phát triển của các phương thức dạy học. Trên cơ sở lý
luận triết học Mác Lê nin về hoạt động nhận thức của con người, nhiều nhà khoa
học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở lý luận của quá trình giáo dục tổng thể.
Dạy học – một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn – là
quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội
tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để
trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng
các phẩm chất của nhân cách người học. Như vậy dạy học là khái niệm chỉ quá
trình hoạt động chung của người dạy và học. Quá trình này là một bộ phận hữu
cơ của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó:
+ Hai hoạt động dạy và học tồn tại song song và phát triển trong cùng một
quá trình thống nhất, chúng bổ sung cho nhau, chế ước nhau và là đối tượng tác
động chủ yếu của nhau, nhằm kích thích động lực bên trong của mỗi chủ thể để
cùng phát triển;
+ Người dạy luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng tổ chức,
điều khiển và thực hiện các hoạt động truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến
người học một cách có khoa học;
+ Người học sẽ ý thức và tổ chức quá trình tiếp thu một cách tự giác, tích
cực, độc lập và sáng tạo hệ thống những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nhằm hình
thành năng lực, thái độ đúng đắn, tạo ra động lực cho việc học (với tư cách là chủ
thể sáng tạo) và hình thành nhân cách cho bản thân.
16

phương thức kiểm tra đánh giá của chủ thể quản lý dạy học và của người dạy.
Chủ thể quản lý dạy học cần sử dụng những phương tiện chủ yếu gồm
chế định GD &ĐT đối với dạy học, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học,
nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường và hệ thống thông tin dạy học để
thực hiện mục đích dạy học. Các phương tiện chủ yếu nói trên là các yếu tố
khách quan đối với người dạy và người học. Các yếu tố đó chỉ có thể có được
nhờ hoạt động quản lý của chủ thể quản lý cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Bằng các luận cứ nêu trên, ta nhận thấy mỗi quan hệ giữa quản lý dạy
học và hoạt động dạy học là:
+ Chủ thể dạy học đặt ra yêu cầu cho chủ thể quản lý phải tạo ra các
phương tiện thực hiện mục đích dạy học để họ cộng tác tối ưu trong việc phát
huy các yếu tố chủ quan nhằm quản lý và tự quản lý dạy học.
+ Chủ thể quản lý dạy học vừa có trách nhiệm tạo ra các phương tiện
thực hiện mục đích dạy học vừa phải coi chúng là các phương tiện quản lý
của chính mình để sử dụng trong quản lý HĐDH.
Có thể mô tả trực quan mối quan hệ giữa HĐDH với quản lý HĐDH
bằng mô hình sau:
18
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa HĐDH với quản lý HĐDH
1.3.4 Hoạt động dạy học trong trường đại học.
Nhiệm vụ dạy học ở đại học quy định những yêu cầu về bồi dưỡng hệ
thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của sinh viên; phát
triển ở họ năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy nghề nghiệp;
trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề
nghiệp và những phẩm chất đạo đức, tác phong của người cán bộ khoa học, kỹ
thuật, cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, hành chính…
19
MỤC ĐÍCH DẠY HỌC
(TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH NGƯỜI HỌC)
SDCASCDS

(CHẤT LƯỢNG
CAO)
MÔI
TRƯỜNG
DẠY HỌC
(THUẬN
LỢI)
HĐDH ở đại học là quá trình tương tác và thống nhất của hai hoạt động của
giảng viên và sinh viên. Trong đó:
+ Dạy có vai trò chủ đạo; tổ chức, điều khiển hoạt động học tập, kích thích,
giáo dục sinh viên.
+ Học có vai trò chủ động: tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo trong việc
thu nhận, xử lý, gia công, lưu trữ thông tin học tập.
+ Hai hoạt động dạy, học là hai dạng hoạt động đặc biệt phản ánh tính hai
mặt của quá trình dạy học đại học, là sự cộng tác giữa các chủ thể: thầy - cá thể
sinh viên; thầy - nhóm sinh viên; sinh viên - sinh viên…
Hoạt động dạy học đại học là một hệ thống toàn vẹn, cân bằng động gồm
ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học (tri thức), dạy và học. Những thành tố này
tương tác với nhau theo một quy luật riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn
nhau để thực hiện các nhiệm vụ dạy - học nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả
dạy học.
Hoạt động dạy ở đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầu của xã hội
đối với quá trình dạy học ở đại học. Đặc biệt gắn liền với việc đào tạo cụ thể của
từng trường đại học. Ngoài việc dạy nghề cho sinh viên, trường đại học còn trang
bị cho sinh viên phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu, phương
pháp tự học và xây dựng thái độ, niềm tin, lý tưởng về nhân sinh quan, thế giới
quan khoa học, phẩm chất đạo đức, nhân cách nghề nghiệp… Hoạt động học ở đại
học là quá trình nhận thức độc đáo của sinh viên, vì sinh viên vừa là chủ thể vừa là
sản phẩm của quá trình dạy học, tự biến những tri thức của nhân loại thành tri thức
của chính mình bằng con đường học và tư duy của bản thân.

Mục tiêu giáo dục đại học cũng được thể hiện tại điều 39 luật Giáo dục:
“Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo
đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp
21
tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” [28].
Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam đến năm 2020 có nêu :
“Xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển bền vững của đất nước,
thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo cơ hội học
tập cho mọi người và có khả năng hội nhập với nền giáo dục thế giới; đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước bao gồm những người lao động Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển
được năng lực cá nhân, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành
với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập
nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[3].
1.4.2 Nhà trường sư phạm
Điều 78 Luật Giáo dục 2005 đã quy định:
“1. Trường Sư phạm do Nhà nước thành lập để đào tạo, bồi dưỡng nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục;
2. Trường Sư phạm được ưu tiên trong việc tuyển dụng nhà giáo, bố trí cán
bộ quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, ký túc xá và bảo đảm kinh phí đào tạo;
3. Trường Sư phạm có trường thực hành hoặc cơ sở thực hành.” [28].
Đối với nhà trường sư phạm, có những mục tiêu chuyên biệt là đào tạo giáo
viên – nguồn nhân lực của hệ thống giáo dục - đào tạo. Để đạt được mục tiêu đào
tạo nói chung và mục tiêu đào tạo giáo viên nói riêng, cần có sự kết hợp đồng bộ
trong tất cả các khâu của quá trình giáo dục, đặc biệt là khâu quản lý hoạt động
dạy học vì đó là cốt lõi, là trọng tâm của quá trình dạy học.
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo trong trường

học
Theo từ điển Tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải
quyết một vấn đề cụ thể nào đó” [36].
23
Trong quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của
chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết các vấn đề
trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản
lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan.
Như vậy, biện pháp quản lý là việc nhà quản lý sử dụng các chức năng -
công cụ - phương pháp - nguyên tắc quản lý và uy tín cá nhân vào đối tượng quản
lý trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể thuộc đơn vị mình quản lý để đưa đối
tượng hoặc đơn vị đó đi đúng mục tiêu và đạt được mục tiêu mà nhà quản lý đề ra,
đưa chất lượng quản lý lên một mức mới, trạng thái mới tốt hơn hiện tại.
Biện pháp quản lý được xem là yếu tố linh hoạt, thường được thay đổi theo
đối tượng quản lý. Các nhà quản lý chỉ thực hiện tốt các chức năng của mình khi
nhận thức đúng và sử dụng tốt các biện pháp quản lý. Nhà quản lý phải thể hiện
được nghệ thuật quản lý, thúc đẩy mọi người trong tổ chức tham gia công việc
chung đạt hiệu quả cao nhất. Thực tế cho thấy, phần lớn kết quả của một quá trình
quản lý lại tùy thuộc vào sự lựa chọn và sử dụng hữu hiệu các biện pháp quản lý,
điều đó giúp cho chủ thể quản lý có thể tạo được động cơ, động lực thúc đẩy đối
tượng quản lý thực hiện tốt các nhiệm vụ.
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu biện pháp quản lý là cách thức, con đường,
cách làm cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình quản lý nhằm tiết
kiệm thời gian và vật lực và công sức của các thành phần tham gia quản lý.
Như vậy, các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng Đào tạo thực
chất là các biện pháp cơ bản sau:
- Biện pháp quản lý thực hiện mục tiêu: quản lý làm sao để mục tiêu giáo
dục - đào tạo thể hiện trong từng môn học, từng chương trình, từng bài giảng và
đánh giá kết quả dạy học; đồng thời gắn kết mục tiêu dạy học với mục tiêu của
các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho HĐDH

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status