NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA TRIỀU ĐẠI NHÀ NGUYỄN
Hiệu kỳ hoàng đế nhà Nguyễn từ 1802 đến 1885
1. Điều kiện hình thành.
Người khởi đầu cho sự nghiệp của nhà Nguyễn là Nguyễn Kim (1468 - 1545).
Khi nhà Hậu Lê bị nhà Mạc cướp ngôi vào năm 1527, Nguyễn Kim chạy vào Thanh
Hóa để chống lại nhà Mạc. Sau đó Nguyễn Kim còn kiếm được một người con của
vua Lê Chiêu Tông lập lên ngôi để nối tiếp nhà Lê, là vua Lê Trang Tông. Nhờ công
này, Nguyễn Kim được vua phong chức Quốc công, trông coi tất cả quân đội.
Nguyễn Kim sau bị người nhà Mạc dùng thuốc độc giết. Nguyễn Kim có hai người
con trai là: Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng đều được phong chức Quận công,
nhưng binh quyền lọt vào tay người anh rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm nắm quyền
chỉ huy quân đội, trông coi tất cả mọi việc trong triều đình. Để giảm bớt quyền lực
của họ Nguyễn, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông. Lo sợ cho chính mình, Nguyễn
Hoàng xin vào trấn đất Thuận Hóa, về sau được Trịnh Kiểm giao quyền cai quản
luôn cả Quảng Nam, tức là miền nam của Việt Nam lúc đó (phần đất thuộc các tỉnh
từ Quảng Bình đến Quảng Nam bây giờ), vào năm 1558 để tránh xa Chúa Trịnh.
Từ đó Nguyễn Hoàng lập nên căn cứ của mình tại phương nam, mở rộng ranh
giới bằng cách xâm lấn đất đai của Chiêm Thành, Lào, Chân Lạp, gây sức ép với các
vua của Đế quốc Khmer để họ nhường đất của xứ Phù Nam cũ (tức là miền Nam
Việt Nam bây giờ). Tuy nhiên, các chúa Nguyễn lúc đó về hình thức vẫn thần phục
vua Lê và cũng chỉ xưng "Chúa" (Chúa Nguyễn). Nguyễn Hoàng (sau được tôn là
Chúa Tiên) là người mở đầu cho việc xây dựng cơ nghiệp họ Nguyễn ở phương
nam.
Con Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên, hay Chúa Sãi, lên ngôi chúa năm
1613, là người đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc. Từ đó con cháu trong giòng họ này
đều mang họ này. Sáu đời sau, Nguyễn Phúc Khoát, lên ngôi vào năm 1738, là
1
người đầu tiên xưng "vương" vì Chúa Trịnh tại phương bắc cũng đã xưng vương –
vua Lê chỉ còn hư vị. Nguyễn Phúc Khoát xưng mình là Vũ Vương.
Sau khi Vũ Vương chết, theo di chúc người nối ngôi phải là Nguyễn Phúc Luân
nhưng một vị quan trong triều là Trương Phúc Loan lập Nguyễn Phúc Thuần, mới
Nguyễn Phúc Miên Tông 1841-1847 Thiệu Trị
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1847-1883 Tự Đức
Nguyễn Phúc Ưng Ái 1883 Dục Đức
Nguyễn Phúc Hồng Dật 1883 Hiệp Hòa
Nguyễn Phúc Ưng Đăng 1883-1884 Kiến Phúc
Nguyễn Phúc Ưng Lịch 1884-1885 Hàm Nghi
Nguyễn Phúc Ưng Kỷ 1885-1889 Đồng Khánh
Nguyễn Phúc Bửu Lân 1889-1907 Thành Thái
Nguyễn Phúc Vĩnh San 1907-1916 Duy Tân
Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925 Khải Định
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy 1926-1945 Bảo Đại
• Vua Gia Long sinh năm 1762, mất năm 1820, là con trai thứ ba của Nguyễn
Phúc Luân, lên ngôi năm 1802, có 13 con trai và 18 con gái. Vua Gia Long cũng là
người đặt tên nước là Việt Nam.
• Vua Minh Mạng sinh năm 1791, mất năm 1841, là con trai thứ tư của vua
Gia Long, lên ngôi năm 1820 (ngày 1 tháng giêng âm lịch) vì người anh cả là hoàng
tử Nguyễn Phúc Cảnh lúc đó đã chết (các anh thứ hai và thứ ba chết lúc còn nhỏ), có
78 con trai và 64 con gái. Vua Minh Mạng cũng là người đặt tên nước là Đại Nam.
[140]
• Vua Thiệu Trị sinh năm 1807, mất năm 1847, là con trai lớn của vua Minh
Mạng, lên ngôi năm 1841 (ngày 1 tháng giêng âm lịch), có 29 con trai và 35 con gái.
3
Thế phả nhà Nguyễn
4
• Vua Tự Đức sinh năm 1829, mất năm 1883, là con trai thứ hai của vua Thiệu
Trị, lên ngôi năm 1847, vì không có con nên nuôi 3 người cháu. Cả ba sau đều lên
làm vua: Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc.
• Vua Dục Đức sinh năm 1852, mất năm 1883, là con trai trưởng (con nuôi) của
vua Tự Đức, lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883 nhưng 3 ngày sau bị Nguyễn Văn
Tường và Tôn Thất Thuyết truất phế rồi giết chết, có 11 con trai và 8 con gái. Dục
sang đảo Réunion (cùng với cha là vua Thành Thái) vào
năm 1916, có 3 con trai và 1 con gái.
• Vua Khải Định sinh năm 1885, mất năm 1925, là
con trai trưởng của vua Đồng Khánh, lên ngôi năm 1916
với ý định hòa hoãn với Pháp, chỉ có 1 con trai.
• Vua Bảo Đại sinh năm 1913, mất năm 1997, là
con trai độc nhất của vua Khải Định, lên ngôi năm
1926 trong khi đang du học tại Pháp nên về Việt
Nam 6 năm sau đó, có 2 con trai và 3 con gái. Ngày
11 tháng 3 năm 1945, triều đình hoàng đế Bảo Đại
tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp
năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam. Nhà sử
học Trần Trọng Kim được bổ làm Nội các Tổng
trưởng, giao nhiệm vụ thành lập nội các vào ngày 17
tháng 4 và đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Vua
6
Bảo Đại thoái vị ngày 30 tháng 8 năm 1945 và giữ chức "Cố vấn tối cao" cho chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, nhưng chẳng bao lâu lại từ chức đi
sống tại các nước ngoài. Bảo Đại trở lại Việt Nam với chức vụ Quốc trưởng Quốc
gia Việt Nam vào năm 1948 nhưng lại bị mất quyền sau một cuộc trưng cầu dân ý
trong năm 1956.
I. NHÀ NƯỚC
Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương
Ngay từ sớm, Nguyễn Ánh đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo
phò tá mình. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông lại
tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới.
Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền
trung ương giống như các triều đại trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi
quyền hành trong tay. Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư
phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại
để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền
lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường.
Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử
có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời
can ngăn của những người này
[4]
.
Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện,
từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Người
dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi
việc tại đia phương. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một
cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các
làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.
Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác
định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và
tòng 2 bậc. Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn
cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của
tỉnh nhà. Phẩm phục của quan văn (trái) và quan võ (phải).
Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền
lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm
cao hay thấp.
8
Tuy bộ máy không thật sự cồng kềnh, nhưng tệ tham nhũng vẫn là một trong
những vấn đề lớn. Trong bộ luật triều Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc
đối với tội này.
Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân
chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc
quản lý đất nước.
Tổ chức đơn vị hành chính: Dưới thời Gia Long các đơn vị hành chính được
chia thành 3 khu vực trong có tên gọi khác nhau.
tập trung mọi quyền lực cao nhất vào nhà nước
trung ương mà trự tiếp là Hoàng Đế.
Thời gian đầu mới lên ngôi, Minh Mạng còn
giữ nguyên tổ chức nhà nước thời Gia Long. Sau
đó cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị
hành chính địa phương trong cả nước, Minh Mạng
đã thực hiện những cải cách trong việc tổ chức và
hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước. Bộ máy nhà
nước có trung ương gồm có : đứng đầu triều đình
là nhà vua, nắm giữ mọi quyền hành. Giúp việc và làm tham mưu cho nhà vua có
một số quan như sau:
Nội các: thời Gia Long gọi là Thị thư viện chuyên phụ trách công việc giấy tờ
văn thư. Năm 1820, Minh Mạng đổi gọi là văn thư phòng. Năm 1928 đổi văn thư
phòng thành Nội các. Nội các của nhà Nguyễn thực ra là phỏng theo quy chế Nội
các thời Minh- Thanh( Trung Quốc) , nhưng có điểm khác là về mặt quyền hành của
cơ quan này. Thời Minh- Thanh, Nội các là cơ quan có quyền lực lớn đứng trên các
bộ. Phẩm hàm của các viên quan đứng đầu Nội các la chánh nhất phẩm, còn dưới
triều Minh Mạng, các viên quan đứng đầu cơ quan này chỉ có làm tam phẩm, tứ
phẩm. Cơ quan Nội các gồm có 4 tào (thưởng bảo, kí chú, đồ thư, biểu bạ)
Cơ mật viện: Năm 1834 đặt cơ mật viện, đây là cơ quan trọng yếu của nhà
vua. Minh Mạng phỏng theo tổ chức khu mật viện của nhà Tống và quân cơ xứ của
nhà Thanh. Đứng đầu cơ quan này gồm có 4 viên quan đại thần do vua lựa chọn từ
các quan văn, võ có phẩm hàm từ tam phẩm trở lên.Viện cơ mật có nhiệm vụ giúp
vua giả quyết các công việc “quân quốc trọng sự”, làm tư vấn cho nhà vua nắm chắc
lục bộ và các địa phương trong toàn quốc. Viện cơ mật có 2 ban: Nam chương kinh
phụ trách những việc có liên quan từ Quảng Bình trở vào Nam và các nước ngoài về
phái nam Đèo Ngang trở vào và Bắc chương kinh phụ trách những công việc từ Hà
Tĩnh trở ra và các nước ngoài về phía Bắc.
Đô sát viện: Tháng 9 năm 1832, Minh Mạng lập ra Đô sát viện. Nhiệm vụ của
Đô sát viện là nhiệm vụ giám sát hoạt động của các quan chức trong hệ thống cơ
Nguyễn là một nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế nặng nề. Một nhà
nước quân chủ chuyên chế như vậy ở vào đêm hôm trước cuộc cách mạng công
nghiệp và chủ nghĩa tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam
không còn phù hợp với xu thế của thời đại, yêu cầu lịch sử nước ta bây giờ, đưa đến
hậu quả mất long dân, không củng cố được khối đoàn kết toàn dân tộc chung quanh
nhà nước mà ngược lại, làm cho nhà nước đó trở nên bảo thủ, trì trệ, kìm hãm sự
11
phát triển của đất nước, làm cho dân tộc ta không hòa nhập được với thế giới bên
ngoài. Đây là mặt hạn chế cơ bản của nhà nước thời Nguyễn.
Tổ chức quân đội quốc phòng.
Dưới triều Nguyễn về mặt tổ chức quân đội, trên hết có 5 phủ đô đốc chỉ huy 5
quân ( trung quân, hậu quân, tiền quân, tả quân, hữu quân). Đứng đầu mỗi phủ Đô
đốc có chức đô thống chưởng phủ sự, rồi đến các chức Thống chế, Chưởng vệ.
Năm phủ đô đốc đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của nhà vua. Vua nắm quyền tối
hậu về việc điều động và chỉ huy quân đội.
Quân đội được chia làm 3 loại: Thân binh, cấm binh, tinh binh. Thân binh có
nhiệm vụ bảo vệ nhà vua. Cấm binh bảo vệ hoàng thành, Tinh binh bao gồm cả bộ
binh, thủy binh, tượng binh.
Sang thời Minh Mạng, quân đội gồm có 4 binh chủng: bộ binh, pháo binh,thủy
binh, tượng binh. Tuy nhiên pháo
binh và tượng binh còn là binh
chủng phụ thuộc, chưa chở thành một
binh chủng hoàn chỉnh và mạng như
bộ binh và thủy binh.
Bộ binh có kinh binh và cơ binh,
chia làm các doanh ( Mỗi doanh có
2500 người, vệ 500 người, đội 50
người, thập 10 người và ngũ 5 người.
Kinh binh do thống chế chỉ huy. Mỗi vệ binh có 2 khẩu thần công, 200 súng diềm
thương và 21 lá cở. Cơ binh là lính đóng ở các tỉnh do các lãnh binh, chánh và phó
như ở Nam kì không có mấy, một số làng xã không có ruộng đất công.
Mặt khác, các vua triều Nguyễn cho thực hiện một số biện pháp, chính sách về
ruộng đất như hính sách quân điền 91804). Theo chính sach này thi ruộng đát công ở
13
các làng xã được chia cho mọi người theo tỉ lệ các quý tộc, vương hầu được cấp 18
phần, quan phẩm nhất được cấp 15 phần, dân nghèo mỗi suất được 3 phần. Đến năm
1840, do ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, vua Minh Mệnh đã cho phép các làng
xã được tùy theo tục lệ chia đều cho dân, nhưng vấn ưu tiên cho bọn quan lại, quân
lính nên người nông dân chẳng còn được bao nhiêu.
Năm 1939, Minh Mệnh cho thực hiện thí điểm một số cải cách ruộng đất ở Bình
Định: sung công một nửa số ruộng đất của các nhà giàu để chia lại cho các đinh dân
theo phép quân điền, nhưng kết quả “ ruộng công màu mỡ thì cường hào chiếm, dân
chỉ duowdc phầm xương xẩu mà thôi”
1
, trong khi đó thì chính sách thuế khóa vẫn
không thay đổi đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Cuộc cải cách ruộng đất ở
Bình Định thất bại, nên nhà Nguyễn không dám triển khai ở các địa phương khác.
Các vua dưới triều Nguyễn còn đây mạnh
chính sách khai khẩn ruộng đất hoang dưới nhiều
hình thức như khuyến khích nhân dân các xã tự
khai hoang, sau 3 năm đo đạc ruộng đất khai
hoang được đẻ ghi vào sổ địa, tiếp theo 3 năm
sau. Người khai hoang đó mới phải nộp thuế cho
nhà nước. Để mở rộng diện thích sản suất, nhà
Nguyễn đã huy động binh lính, dân người hoa,
người dân tộc thiểu số, những người bị tù tội
nặng đi khai hoang do nhà nước tô chức để thành
lập đồn điền ở nhiều nơi, đặc biệt ở Nam Bộ.
Những hệ thống đồn điền vừa có tác dụng về
kinh tế vùa có tác dụng về quốc phòng. Những
Công Trứ. Theo đó, triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ đứng ra
chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang
Trong 6 tháng đầu, triều đình sẽ cấp cho dân chúng đi khai hoang đầy đủ lương
thực và phương tiện sản xuất. Từ tháng thứ 7 thì dân phải tự lo. Triều đình sẽ miễn
thuế cho các ấp và lý mới này 3 năm. Tổng Giao Thủy thuộc Nam Định cũng được
thành lập theo hình thức này. Về sau, các quan ở Gia Định gồm Trương Minh Giảng,
Cao Hữu Dực, Trần Hoàn, Phạm Hữu Chỉnh và Nguyễn Tri Phương cũng bắt chước
thực thi chính sách này trên vùng Gia Định, đồng thời với chính sách đồn điền trên
một quy mô rất lớn và thu được nhiều thành công, diện tích ruộng đất đã tăng lên rất
nhiều.
15
Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ
thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ
đất nhưng cũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang.
Ngoài ra, triều đình Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp
phục hóa. Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn. Ruộng đất ở
Nam Việt thời vua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu. Tổng số
đinh toàn quốc là 970.516 suất và 4.063.892 mẫu ruộng đất.
Tuy nói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng
phần đất còn lại được phân phối giữa các nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu
là nhiều. Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh có nhiều nhất là 5, 3
người.
Nhờ có những chính sách khai hoang được đẩy mạnh, nên đến năm 1847, tổng
diện tích ruộng đất thực canh lên đến 4.270.013 mẫu.
Việc trị thủy
Tại một quốc gia dựa trên căn bản là nông nghiệp như Việt Nam, vấn đề trị thủy
càng hệ trọng hơn nữa do các con sông lớn không có thủy chế điều hòa. Đối với nạn
nước lụt và nạn triều biển cần phải đắp đê.
Vua Gia Long vừa lên ngôi đã quan tâm đến vấn đề đê điều và cho người tu bổ
đê cũ, đắp thêm đê mới. Năm 1809, ông lại cho đặt nha Bắc Thành đê chánh và các
giới hạn, từ 1, 2 phương tới cả thưng, đấu, bát.
Triều Nguyễn còn lập ra Nghĩa Thương là những kho trữ lúa ở các tỉnh và phủ,
huyện. Những khi đói kém thì các kho này được mở ra để phát chẩn cho dân nghèo.
Thời Tự Đức tổ chức Xã Thương, khi gạo đắt thì bán ra, khi gạo rẻ thì đong lại để
lưu trữ, có thể cho vay, thu lợi bao nhiêu dùng để cấp dưỡng binh đinh và giúp
người nghèo. Thời Minh Mạng triều đình cũng bắt quan lại các tỉnh phải xuất lúa
giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không
bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng nhiều sang các năm sau.
[56]
17
Các biện pháp cứu tế này chỉ có thể ngăn cản nạn đói khỏi lan rộng trong 1 thời
gian ngắn, không thể ngăn chặn một cách dứt khoát sự thiếu hụt lương thực. Ngoài
ra, việc quan lại địa phương tham nhũng cũng làm giảm hiệu năng của các biện pháp
này. Triều đình phải liên tiếp ban hành các đạo dụ để nghiêm trị.
Để làm nhẹ bớt sự khổ cực của người nông dân, triều Nguyễn cho áp dụng chính
sách giảm hay miễn thuế cho những tỉnh bị nạn. Riêng với các tỉnh bị thiệt hại nặng,
vua cho miễn luôn tất cả các khoản thuế còn thiếu ở những năm trước. Năm 1841,
vua Thiệu Trị cho dân Hưng Yên được miễn số thuế là 23.385 quan và 83.162 hộc
lúa.
Thương mại
Nội thương
Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển
lắm, tổ chức thương mại của người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình. Nếu có
những hội buôn lớn thì cũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với
nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm
ăn lâu dài. Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư
kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ.
Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối, dù
những người này chỉ là thiểu số.
[29]