Nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng may của công ty sản xuất xuất nhập khẩu dệt may trên thị trường EU - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hàng may mặc của công ty Sản xuất-Xuất nhập khẩu dệt may là một trong
những mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao so với nhiều mặt hàng khác. Trong
nhiều năm, hàng may mặc xuất khẩu trở thành mặt hàng mũi nhọn trong xuất
khẩu hàng hoá của công ty, hàng may mặc luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của công ty.
Thị trường EU là một trong những thị trường chiếm vị trí quan trọng trong
hoạt động thương mại của công ty. EU được xem là một trong những thị trường
trọng điểm đối với mặt hàng may mặc xuất khẩu của công ty do EU mở rộng từ
15 quốc gia thành viên lên 25 quốc gia, là thị trường đông dân cư, mức chi tiêu
cho hàng may mặc lớn. EU là một thị trường rộng lớn, đa dạng có nhiều triển
vọng cho hàng xuất khẩu của công ty... nhưng cũng là một thị trường "sang
trọng" và "khó tính". Chinh phục thị trường này là một điều không dễ, nhất là
khi công ty phải cạnh tranh với hàng may mặc của Trung Quốc, một cường quốc
về các mặt hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong nhiều năm kim ngạch và thị phần xuất khẩu hàng may
mặc của công ty sang thị trường EU tăng giảm không ổn định. Có nhiều nguyên
nhân gây ra, trong đó nguyên nhân nổi bật là khả năng cạnh tranh hàng may mặc
của công ty trên thị trường này có chiều hướng suy giảm do phải cạnh tranh với
quá nhiều đối thủ.
Để góp phần vào việc nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc của công ty
trên thị trường quốc tế nói chung và thị trường EU nói riêng nhất là trong bối
cảnh Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO. Vì vậy, em đã
quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng may

3
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, SỨC CẠNH
TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH MẶT HÀNG MAY CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT-XUẤT
NHẬP KHẨU DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG EU
1.1 Cạnh tranh hàng hoá
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh hàng hoá
Cạnh tranh hàng hóa là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản
xuất hàng hoá dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành
giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Theo như các nhà kinh tế đã phân tích thì cơ sở của cạnh tranh là chế độ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn ép lẫn
nhau, “cá lớn nuốt cá bé”. Trong nền kinh tề thị trường do có sự sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất cho nên tất yếu có cạnh tranh.
Vậy thì, thực chất của cạnh tranh hàng hoá là sự tranh giành về lợi ích kinh
tế giữa các chủ thể tham gia thị trường. Mỗi chủ thể đều mong muốn có lợi ích
về mình. Người bán thì muốn tối đa hoá lợi nhuận bằng cách bán với giá cao
còn người mua thì muốn tối đa hoá lợi ích của mình bằng cách mua hàng hoá tốt
và rẻ. Giữa người bán diễn ra sự cạnh tranh gay gắt vì mục tiêu lợi nhuận, họ
tìm cách giảm chi phí và giành khách hàng về mình.
Trên những tìm hiểu về cơ sở và thực chất của cạnh tranh các nhà kinh tế
trên thế giới đã kết luận cạnh tranh hàng hoá là quan hệ giữa những người bán
cùng sản xuất, kinh doanh cùng sản xuất một loại hàng hoá. Trong nền kinh tế
hàng hoá cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển. Mục
tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận tối đa, bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của chủ thể tham gia cạnh tranh. Tuy nhiên, điều kiện của thị trường để
thực hiện mục tiêu đó rất hạn chế. Do đó, người sản xuất kinh doanh phải tìm
cách tranh khách hàng bằng các thứ hàng hoá, dịch vụ tốt, giá cả hợp lý và giữ
được uy tín với khách hàng.

xuất. Chỉ có như thế doanh nghiệp mới có thể giảm chi phí hạ giá thành để giành
thị phần với các đối thủ cạnh tranh. Áp dụng khoa học công nghệ mới không
5
5
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
những cho phép doanh nghiệp sử dụng nguồn lực tối ưu mà còn cho phép hiện
đại hoá dây chuyền sản xuất, tăng năng suất góp phần tăng chất lượng hàng hoá.
1.1.2.2 Chức năng của cạnh tranh hàng hoá
Chức năng sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu: Bởi vì cạnh
tranh làm cho tài nguyên chuyển đến những nơi mà chúng được sử dụng với
năng suất cao nhất.
Chức năng khuyến khích tiến bộ khoa học kỹ thuật: Khi người đầu tiên và
duy nhất đưa ra thị trường một loại hàng hoá phù hợp với nguyện vọng của
người mua, thì người đó có vị trí độc quyền và tạo điều kiện kiếm được lợi
nhuận độc quyền trong khoảng thời gian đó. Những người cạnh tranh khác
muốn làm theo giống các nhà sáng chế đó và kết quả là cạnh tranh thúc đẩy tiến
bộ kỹ thuật.
Chức năng thu nhập: Nếu cạnh tranh có hiệu quả sẽ thưởng cho các nhà
cạnh tranh thành công, họ sẽ thu được lợi nhuận cao hơn và vì thế họ có thu
nhập cao hơn.
Chức năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng: Trong nền kinh tế thị
trường, người tiêu dùng là người cuối cùng quyết định chủng loại, số lượng và
chất lượng hàng hoá cần sản xuất. Xét về lâu dài thì chỉ có những hàng hoá và
dịch vụ mà họ muốn mới có thể bán được và được sản xuất. Chủng loại hàng
hoá phong phú được đưa ra để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng chỉ có thể
có được trong điều kiện có sự cạnh tranh mà thôi.
Chức năng tạo tính linh hoạt của sự điều chỉnh: Cạnh tranh có hiệu quả
không chỉ là công cụ tốt nhất để sử dụng tối ưu tài nguyên mà còn là công cụ rất
năng động, cho phép duy trì sự di chuyển liên tục các nguồn tài nguyên đến nơi
sử dụng có hiệu quả hơn. Nếu tính linh hoạt của sự điều chỉnh này không tồn tại

hoá đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
Thứ hai: Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cuộc cạnh tranh trên thị trường
mà phần lớn hàng hoá là không đồng nhất với nhau, mỗi hàng hoá có thể có
nhiều nhãn hiệu khác nhau. Mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác
nhau mặc dù khác biệt giữa các hàng hoá là không đáng kể. Người bán lôi kéo
7
7
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như quảng cáo, dịch vụ bán hàng, tín
dụng ưu đãi… Đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
Thứ ba: Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ
có một số người bán hàng hoá thuần nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ
số lượng hàng hoá bán ra trên thị trường. Thị trường có sự pha trộn giữa độc
quyền và cạnh tranh gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền. Điều kiện gia nhập
hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều cản trở do vốn đầu tư
và do độc quyền bí quyết công nghệ. Trong thị trường này không có cạnh tranh
về giá cả mà một số người bán toàn quyến quyết định giá.
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh
Ngoài việc phân loại cạnh tranh hàng hoá căn cứ vào mức độ tích chất
cạnh tranh trên thị trường, các nhà kinh tế còn căn cứ vào phạm vi của cạnh
tranh, nếu căn cứ vào phạm vi của cạnh tranh thì cạnh tranh hàng hoá bao gồm
các loại sau:
Thứ nhất: Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục
đích tiêu thụ có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch. Biện pháp cạnh tranh là các
doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của
tư bản, nâng cao năng suất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá
doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Thứ hai: Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp thuộc các ngành khác nhau, nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất. Trong

mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các hàng hoá tương tự với chất lượng hay
dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn.
Theo lý thuyết thương mại truyền thống, sức cạnh tranh được xem qua lợi
thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động.
9
9
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
Theo M.Porter, sức cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng
lực độc đáo của mình để tạo ra hàng hoá có giá phí thấp và sự khác biệt của
hàng hoá.
Muốn nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế
cạnh tranh của mình. Lợi thế cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là những thế
mạnh mà hàng hoá có hoặc có thể huy động để đạt thành công trong cạnh tranh.
Trên thực tế có hai nhóm lợi thế cạnh tranh của hàng hoá bao gồm:
Lợi thế về chi phí: Đó là tạo ra những hàng hoá có chi phí thấp hơn đối thủ
cạnh tranh. Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường xem là
nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh.
Và lợi thế thứ hai là lợi thế về sự khác biệt: Đó là dựa vào sự khác biệt của
hàng hoá làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng hàng
hoá hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng hàng hóa. Lợi thế này cho phép
thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu là khả
năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài về chất lượng, giá cả, kiểu
dáng, thương hiệu, bao bì về tính độc đáo hay sự khác biệt so với hàng hoá cùng
loại trên thị trường quốc tế. Ngoài các yếu tố về chất lượng, giá cả, kiểu dáng,
thương hiệu...có rất nhiều yếu tố liên quan đến sức cạnh tranh của hàng hoá nữa
như khả năng thâm nhập thị trường mới cũng như khả năng khuyến mãi, lôi kéo
khách hàng và phương thức kinh doanh ngày càng phong phú hơn.
1.2.2 Phân biệt sức cạnh tranh của hàng hoá và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp

phải có hàng hoá có sức cạnh tranh vì biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là tạo ra những hàng hoá có sức hút lớn với người tiêu dùng. Như
vậy,sức cạnh tranh của hàng hoá là cốt lõi năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Còn một hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường nhất là trong môi
trường quốc tế như hiện nay, thì cả doanh nghiệp và Chính phủ cùng phải phát
hiện, nuôi dưỡng, phát huy các lợi thế của hàng hoá đó.
11
11
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng
là những nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hóa.
1.2.3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì môi trường bên ngoài doanh
nghiệp luôn luôn biến đổi và đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh của
hàng hoá của doanh nghiệp. Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp có thể là
các nhân tố thuộc tầm vĩ mô ngoài ngành mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh,
cũng có thể là các nhân tố thuộc môi trường vi mô trong nội bộ ngành nghề lĩnh
vực mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh.
Thứ nhất: Các nhân tố vĩ mô
Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội,
tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất.
Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và sức
cạnh tranh của hàng hoá, tăng trưởng nhanh phụ thuộc vào khả năng của khu
vực tài chính trong việc huy động và phân bổ có hiệu quả tín dụng vào sản xuất
hàng hoá. Ngoài ra, lãi suất tín dụng cũng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn
của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất hàng hoá.
Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao sức cạnh tranh của các
hàng hoá. Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tích chất quyết định đến việc đẩy

13
13
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
Nguồn: Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
FDI( tập 2)
Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạt
động kinh doanh trong một ngành công nghiệp nhất định, những công ty, doanh
nghiệp này đã vượt qua được những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những
hãng muốn rút lui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội.
Khi phân tích các đối thủ cạnh tranh hiện tại, chúng ta cần tìm hiểu được
bốn vấn đề cơ bản sau: (1) mục đích tương lai, (2) các nhận định, (3) các tiềm
năng và (4) chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh.
Mục đích tương lai của đối thủ cạnh tranh: Khi hiểu được mục tiêu của đối
thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có thể dự đoán được mức độ hài lòng của họ về vị
trí hiện tại, những khả năng thay đổi chiến lược cạnh tranh của họ, sự phản ứng
của họ trước những thay đổi về môi trường và mức độ quan trọng của các sáng
kiến mà họ đưa ra.
Các mục tiêu của các đối thủ cạnh tranh cần xem xét là các mục tiêu về tài
chính, về tổ chức, về sản xuất, về thị trường, về nghiên cứu và phát triển, các
mục tiêu khác,…
Sản phẩm thay
thế
Nhà cung ứng Khách hàng
Đối thủ tiềm tàng
Đối thủ cạnh
tranh hiện tại
14
14
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập

15
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
Thực tế cho thấy rằng tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu doanh nghiệp nào càng
đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ
càng nhận được sự ủng hộ và sự trung thành từ phía khách hàng.
Về mặt lý thuyết, lợi ích của khách hàng và của nhà sản xuất thường mâu
thuẫn với nhau. Khách hàng mong muốn có được những chủng loại hàng hóa và
dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả thấp nhất. Còn nhà sản xuất lại mong
muốn khách hàng trả cho những hàng hóa của họ mức giá cao.
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách
hàng càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh nghiệp không
thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng. Cho nên, nhất thiết
các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên cơ
sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày
càng nhiều khách hàng về phía mình.
Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt
động của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản
xuất, nhân công, … Các nhà cung ứng có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt
động của công ty. Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn
đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh.
Các nhà cung cấp nguyên, vật liệu cho sản xuất: Những nhà cung ứng này
có thể vắt kiệt lợi nhuận của các hãng bằng cách tăng giá cung ứng hoặc giảm
mạnh chất lượng các yếu tố cung ứng. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà
cung ứng cũng tương tự như yếu tố làm tăng thế mạnh cảu khách hàng. Ví dụ
như yếu tố số lượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế khác và
không có nhà cung ứng chào bán sản phẩm có tính khác biệt. Nếu nhà cung ứng
có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần cải
thiện quan hệ của họ thông qua việc tác động vào các yếu tố nói trên.

Sản phẩm thay thế
Sức ép do xuất hiện sản phẩm thay thế làm hạn chế lợi nhuận tiềm năng
của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý đến các sản
phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại ở các thị trường nhỏ bé. Vì
vậy, các hãng không ngừng nghiên cứu và tung ra các mặt hàng thay thế.
Phần lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của sự phát triển bùng nổ về
công nghệ trong vài thập kỷ trở lại đây. Muốn đạt được thành công, các hãng
phải luôn ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất.
1.2.3.3 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Ngoài các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh
nghiệp thì các nhân tố thuộc bên trong doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới sức cạnh tranh của hàng hoá. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm
nguồn nhân lực, năng lực tài chính, năng lực về vật chất kỹ thuật, trình độ tổ
chức quản lý và một loạt các hoạt động Maketing, mạng lưới phân phối để đưa
sản phẩm tới khách hàng một cách tốt nhất.
18
18
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
Thứ nhất: Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia làm ba cấp:
- Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng ban.
Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nếu họ có
trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, có
khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh
tranh cao và ngược lại.
- Quản trị viên cấp trung gian: Là đội ngũ trực tiếp quản lý sản xuất hàng
hoá đòi hỏi phải có kinh nghiệm công tác, khả năng ra quyết định điều hành
công tác.
- Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố: năng suất lao động, trình

Trình độ tổ chức quản lý thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản
trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các
thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thì doanh nghiệp đó sẽ vững mạnh.
Đây là đòi hỏi của nhà quản trị cấp cao, để tạo ra một cơ cấu tốt. Một cơ cấu tốt
đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách
nhiệm được xác định rõ ràng. Bên cạnh đó, ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt
nề nếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định
của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược của doanh nghiệp.
Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôi kéo
họ vào quá trình đạt tới mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Thứ năm: Hoạt đông Marketing
Nhiệm vụ chính của Marketing là phát triển các nhu cầu thị hiếu, nhu cầu
thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, phân
phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang vươn tới. Từ đó, xây dựng
mạng lưới phân phối phù hợp để đưa hàng hóa tới người tiêu dùng một cách
nhanh nhất.
20
20
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
Thứ sáu: Mạng lưới phân phối
Để tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp cần lựa chọn các kênh phân phối, từ đó
có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả đúng nhu cầu của khách
hàng. Tuỳ vào chủng loại hàng hoá mà doanh nghiệp xây dựng cho mình kênh
phân phối riêng cho phù hợp.
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá
1.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Chất lượng
Chất lượng hàng hoá là hệ thống nội tại của hàng hoá được xác định bằng
thông số kỹ thuật có thể được đo lường hoặc so sánh được nhằm thoả mãn yêu

cho hàng hoá.
Uy tín thương hiệu
Uy tín thương hiệu được hình thành dựa trên chất lượng, giá trị sử dụng
của hàng hoá, các dịch vụ sau bán hàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu
có uy tín với khách hàng thì đồng nghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh.
Khách hàng khi đó tin rằng họ đang tiêu dùng một hàng hoá có chất lượng cao,
dịch vụ sau bán hàng tốt…Do đó, hàng hoá đưa ra thị trường có thể nhanh
chóng thu hút được người tiêu dùng. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm một
phần chi phí cho việc thu hút khách hàng, khách hàng sẽ trung thành với thương
hiệu hàng hoá hơn.
1.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
 Gía thành, giá cả
Gía thành hàng hoá là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành nên
hàng hoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương công nhân sản xuất… trên
cơ sở đó xác định giá cả của hàng hoá.
Gía thành sản phẩm Z = Z
1
+ Z
2
+..............+ Z
n
Trong công thức trên Z
1
,

Z
2
, ........., Z
n
là chi phí sản xuất của các bộ phận,

i
i=1
TR: Doanh thu
P
i
: Gía cả của một đơn vị hàng hoá i
Q
i
: Số lượng hàng hoá i được tiêu thụ
n: Số nhóm hàng hoá được tiêu thụ
Doanh thu của hàng hoá đạt mức cao trên thị trường chứng tỏ được thị
trường chấp nhận, khách hàng ưa chuộng. Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện
hàng hoá đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu cơ hội lựa chọn là như nhau, thì
23
23
GVHD: TS. Tạ Văn Lợi Chuyên đề thực tập
doanh thu là tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thoả mãn nhu cầu khác nhau
của khách hành đối với hàng hoá. Như vậy, tăng doanh thu nghĩa là hàng hoá
thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mức độ thoả mãn tốt hơn nhu cầu
khách hàng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá cao hơn.
Tăng doanh thu của hàng hoá có thể đạt được thông qua tăng giá bán,
trong khi giữ nguyên số lượng hàng may mặc cung ứng trên thị trường. Điều đó
khó có thể xảy ra đối với hàng hóa chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường
và trong môi trường tự do hoá thương mại. Hơn nữa, khi tự do hoá thương mại
diễn ra. Xu hướng chung của hàng hoá trên thế giới đều giảm giá bán.
Tăng doanh thu bán hàng bằng cách bán giá thấp hơn và đưa ra thị trường
số lượng hàng hoá lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại. Đây
chính là xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá trên thế
giới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá.
 Tốc độ tăng thị phần

Sức cạnh tranh của hàng may mặc có mối quan hệ chặt chẽ với doanh thu
và thị phần, khi nào doanh thu và thị phần tăng lên thì sức cạnh tranh của hàng
may mặc sẽ tăng lên và ngược lại. Trong các năm gần đây, doanh thu và thị
phần hàng may mặc của công ty tăng giảm không ổn định nhất là năm 2004,
2005 doanh thu và thị phần hàng may mặc của công ty trên thị trường EU liên
tục giảm. Việc sút giảm này, nguyên nhân chính là do sức cạnh tranh hàng may
mặc của công ty trên thị trường EU chưa cao so với đối thủ cạnh tranh.
1.3.2 Phát triển các hoạt động sản xuất của công ty
Hàng may mặc của công ty với sức cạnh tranh nhất định chỉ phù hợp với
một thời điểm nào đó khi tiến hành cạnh tranh, trong khi các đối thủ cạnh tranh
thì luôn luôn thay đổi cách thức cạnh tranh của mình điều đó buộc hàng may
mặc của công ty muốn tồn tại được trên thị trường EU thì buộc phải thay đổi
theo như tích cực đầu tư cho máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng hàng may
mặc tạo chất lượng đồng đều cho sản phẩm...Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh
hàng may mặc của công ty trên thị trường EU có tác động ngược trở lại đối với
công ty trong việc sản xuất và kinh doanh.
25
25

Trích đoạn Uy tín thương hiệu Gía thành, giá cả Những kết quả đạt được Nguyên nhân bên trong công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status