Nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái - Pdf 29

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hồ Anh Thái thuộc vào số “các nhà văn nổi bật của thế hệ hậu chiến ở
Việt Nam” [6;437]. Ông sinh năm 1960. Từng tham gia quân đội, viết văn, làm
báo, tiến sĩ Đông phương học, từng được mời thỉnh giảng ở một số trường Đại
học Mỹ như Đại học tổng hợp Washington, là chuyên viên ở Bộ ngoại giao đã
từng được đi nhiều nơi nhưng Hồ Anh Thái vẫn thích sáng tác hơn. Ông tâm sự
“Tôi thích sáng tác hơn, thứ ngôn ngữ văn học không bị phủi bụi kinh viện quyến
rũ tôi. Những ý tưởng táo bạo, những cảm xúc mê đắm, những nhân vật sống
động, những tình huống khác lạ. . . vẫn làm tôi say mê hơn là những trang nghiên
cứu” và “viết văn tôi được giãi bày, tâm sự nhiều hơn” [Dẫn theo 87;1]. Chính
niềm đam mê ấy đã đem đến cho Hồ Anh Thái nhiều thành công trong sự nghiệp
sáng tác. Hồ Anh Thái được coi là một trong những cây bút trẻ xuất sắc của văn
học hiện đại và là nhà văn tiêu biểu của thời kỳ đổi mới. Sáng tác của Hồ Anh
Thái phần nào đã đóng góp cho sự đổi mới và phát triển của nền văn học hiện
đại nước nhà.
Tác phẩm của Hồ Anh Thái, đặc biệt là các tập truyện Tiếng thở dài qua
rừng kim tước, Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười… đã được dịch ra nhiều
thứ tiếng trên thế giới. Nhìn chung, truyện ngắn Hồ Anh Thái luôn được độc giả
thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau đón nhận nồng nhiệt và được đánh giá cao.
Truyện của nhà văn này, đặc biệt là những truyện ngắn quả là có sức hấp dẫn
người đọc mạnh mẽ.
1.2. Hồ Anh Thái thu hút độc giả không phải bằng những chấn động dư luận
làm thành dông bão trong đời sống văn học nước nhà như trường hợp Nguyễn
Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài. . . mà chính bằng sự thể nghiệm độc đáo các thủ pháp
trần thuật mới.
Sự độc đáo mới lạ của truyện Hồ Anh Thái nói chung, truyện ngắn nói riêng
thực tế đã được bạn đọc chú ý. Tuy nhiên, sự chú ý của dư luận cũng chỉ mới
dừng lại ở những bài viết đăng trên các báo, tạp chí, gần đây cũng có một vài luận
1
văn, khoá luận của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia. .

nói riêng chính là ở chỗ Hồ Anh Thái luôn tạo được những nét mới lạ trong
các tác phẩm của mình. Mỗi tác phẩm là một hiện thực và không gian nghệ
thuật riêng với một cách xử lý riêng, một giọng điệu riêng, một văn phong
riêng. Chính Hồ Anh Thái cũng rất năng động, mới mẻ khi bàn về phong
cách. Ông cho rằng: “Có phong cách tức là phải đa giọng điệu dù anh có đổi
giọng đến thế nào thì vẫn là trên cái nền tảng văn hoá của anh, trên tầm nhìn
của anh vào thế giới và nhân sinh. Cho rằng thay đổi giọng điệu sẽ làm loãng
phong cách của chính mình là một cách hiểu đơn giản và làm cho người sáng
tạo lười biếng, ngại làm mới mình” [7;242].
Trong sáng tác văn học nói về điều gì không quan trọng bằng việc nói
như thế nào. Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong
truyện ngắn Hồ Anh Thái là một việc làm cần thiết để tiếp cận và đánh giá
một tác giả được khẳng định trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội
nhập, cũng từ đó có thể hiểu sâu sắc hơn đặc điểm thể loại truyện ngắn nói
chung.
Với tất cả những lý do nêu trên, đề tài luận văn của chúng tôi sẽ đi vào
vấn đề: “Nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái”.
2. Lịch sử vấn đề
Như đã nói ở phần trên, Hồ Anh Thái được dư luận trong và ngoài nước
đánh giá rất cao nhưng các bài viết chủ yếu mới điểm qua hoặc nhắc tới để
khẳng định chứ chưa thật sự đi sâu vào những vấn đề cụ thể một cách kỹ
lưỡng. Chúng tôi thấy, những bài viết đã có về Hồ Anh Thái tập trung vào
một số vấn đề sau:
2.1. Đánh giá về giá trị chủ đề tư tưởng của từng tác phẩm
Cả tiểu thuyết và truyện ngắn Hồ Anh Thái đều nhận được sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước. Bàn về tiểu thuyết Hồ
Anh Thái, đáng chú ý là các ý kiến của Wayne Karlin, Nancy Pearl, Philip
3
Gambon, Michael Harris… Điểm gặp nhau của các ý kiến này là nhận định
mà như Philip Gambone trong Tạp chí Giới thiệu sách - Thời báo Newyork

nhãn quan phật giáo, nhãn quan đầy yêu thương và bình đẳng” [8;318]. Cũng
về tập truyện này, Mai Sơn phát hiện mỗi một truyện ngắn trong tập truyện
“đều ẩn chứa cái cốt lõi của vấn nạn triết học hoặc xã hội học chờ đợi được
chạm tới, đòi hỏi khám phá thêm” [8;322].
Phạm Quốc Ca gọi Hồ Anh Thái là “người hướng dẫn du lịch có văn
hoá đưa ta thám hiểm vào chiều sâu cuộc sống và con người trên đất nước ấn
Độ” [8;331]. Đây cũng là “hành trình đi vào thân phận những người bất
hạnh luôn đưa tới những tiếng thở dài sâu tận bên trong, nhất là khi những
hình ảnh được phản ánh kia dường như thấp thoáng gương mặt của chính
mình, gương mặt Việt Nam” [8;318]. Đỗ Hải Ninh đã nhận định rất xác đáng
về điều này: “ý thức về đời sống tâm linh làm nên chiều sâu triết học trong
truyện ngắn Hồ Anh Thái. Mỗi truyện ngắn của anh đều mong muốn mở ra
một nhận thức nào đó về thân phận con người, bản chất sự tồn tại, ý nghĩa
cuộc sống” [8;345].
Có thể thấy Tiếng thở dài qua rừng kim tước và Người đứng một chân
là những truyện ngắn viết về ấn Độ thành công nhất và rất đáng trân trọng
của Hồ Anh Thái. Những tác phẩm này đã gây tiếng vang lớn trong và ngoài
nước. Tiến sĩ Pandey (người ấn Độ) đã phát biểu cảm nghĩ: “Những dòng
chữ của Hồ Anh Thái là những mũi châm cứu á Đông đã điểm trúng huyệt
tính cách ấn Độ” [Dẫn theo 8;322].
Tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Hồ Anh Thái đã tập trung khắc họa
chân dung kẻ sĩ thời đại và những vấn đề nổi cộm trong đời sống hiện đại:
“Tất cả một loạt truyện ngắn đều phác vẽ những chân dung trí thức, kẻ sĩ thời
đại. Nhưng chúng được nhìn gần đến mức khi được đặc tả thì không tránh khỏi
những nết thô lậu khó coi mà thông thường người khác vẫn thường lướt qua
5
bởi họ cần những chân dung trơn nhẵn, đèm đẹp, mặc kệ chúng có nhạt thếch
đến mức nào” [9;231].
Nguyễn Chí Hoan thì đánh giá: “Mỗi truyện đều bày ra một bối cảnh
phông màn khác nhau nhưng tấn bi kịch cuộc đời gần như một: đây là một

át của thói chuộng hình thức phù phiếm, vô nghĩa. Gấp sách lại có cảm giác
như vẫn bước đi trong nhà cười và nhìn thấy chính mình trong những nhân vật
của Hồ Anh Thái” [11;230]; “Từ những câu chuyện mất còn của cuộc đời,
những câu chuyện nhân tình thế thái đầy chua xót đắng cay trong những trang
viết về cuộc sống theo kiểu như vậy, Hồ Anh Thái muốn rung tiếng chuông báo
động trước sự xuống cấp của đạo đức bởi đây là một trong những nơi cho cái
ác nương náu, gieo mầm” [11;236]. . . . Còn Hồ Anh Thái thì thừa nhận:
“Trong cuốn sách này, tôi chỉ muốn đưa ra trước người đọc một tấm gương lồi
để cho họ soi vào và tự hỏi: Đấy là ta hay không phải là ta? Tôi cũng không
muốn làm cho ai phải khóc. Chỉ vì cuộc đời nhiều khi buồn quá, thấy nhiều cái
buồn thì phải tìm cách mà cười vậy thôi” [11;214].
2.2. Đánh giá về nét độc đáo trong phong cách văn xuôi Hồ Anh Thái
Trước hết là những đánh giá về phong cách tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
Đọc Người đàn bà trên đảo, Wayne Karlin cho rằng Hồ Anh Thái đã
“thể nghiệm với hình thức và ngôn ngữ” từ đó tạo ra một kết quả “góp phần
đưa văn học Việt Nam đương đại đi theo hướng mới” [6;392]. Còn khi đọc
Trong sương hồng hiện ra và các tiểu thuyết khác của nhà văn này, Wayne
Karlin đã chú ý đến “chất hài hước, chất lạ quyện với chất Kafka dường như
gây bất ngờ cho người phương Tây khi họ tìm hiểu văn học Việt Nam” [6;425].
Khá nhiều người chú ý đến chất huyền thoại trong sáng tác của Hồ Anh
Thái. Tạp chí Kirkus Revié, 15-9-1998 đã viết về Trong sương hồng hiện ra:
“Nhà văn đã khám phá đời sống sau chiến tranh ở đất nước Việt Nam của
mình, hoà trộn ở tầm cao giữa chủ nghĩa hiện thực nghiệt ngã và yếu tố kì ảo
7
mang tính biểu tượng” [6;441]. Tuần báo Nhà xuất bản Publishers Weekly,
28-9-1998 cũng khẳng định: “những yếu tố siêu thực tràn đầy trong cuốn hợp
tuyển. Giọng điệu chuyển từ châm biếm sang xúc động thấm thía, từ hài hước
sang đau xót. Việc sử dụng tinh tế các huyền thoại và sự phản ánh hập dẫn đời
sống Việt Nam sau chiến tranh của Hồ Anh Thái đã mang đến những tác phẩm
tao nhã và đầy sức lay động” [6;455].

người Việt, và những trang viết là sự nhào nặn tiếng Việt, trân trọng tiếng
Việt. Đối với tác giả, một dấu phẩy cũng đáng để nhà văn phải trăn trở”
[7;281].
Lê Hồng Lâm thì nhận thấy sự chuyển biến rất rõ rệt về giọng điệu
của Tự sự 265 ngày so với những tác phẩm trước đó, tác giả cho rằng:
“Hồ Anh Thái rất dụng công để tạo ra giọng điệu mới. Câu cú đã vượt qua
cấu trúc ngữ pháp thông thường, những dấu phẩy, dấu chấm được đặt vào
vị trí mới một cách sáng tạo” [9;223].
Đọc tập truyện Bốn lối vào nhà cười, các ý kiến gần như thống nhất
và đều cho rằng: giọng điệu hài hước đang trở thành căn tính viết của Hồ
Anh Thái và nó rất nhất quán với Tự sự 265 ngày. Khi được phỏng vấn,
Hồ Anh Thái cũng xác nhận: “Tôi thích nhại giọng thị dân, đúng hơn là
giọng tiểu thị dân bởi vì hầu như người ta đang bê nguyên lối sống kiểu thị
dân và quê mùa vào đô thị. Đáo để, chua chát, ác khẩu, kiểu tiểu thị dân
đang trở thành giọng điệu lấn át” [11;213].
Một số ý kiến khác cũng đều cho rằng Hồ Anh Thái thuộc diện
“gừng càng già càng cay, vì có một nền tảng văn hoá được chuẩn bị và tạo
lập vững chắc. Bằng chứng là những cuốn sách viết rất có nghề, thông
minh, hài hước, tinh quái và ngày càng hiện đại” [11;213].
2.3. Nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật của Hồ Anh Thái
Tập truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tước đã sử dụng một cách khéo léo
lối trần thuật khách quan với điểm nhìn bên ngoài và lối trần thuật tham dự với vai
9
trò nhân vật trong truyện. Đặc biệt, sự di chuyển linh hoạt điểm nhìn đã giúp cho
nhà văn khám phá được vẻ đẹp kì diệu tiềm ẩn và những nỗi đau do những hủ tục
nghiệt ngã của con người ấn.
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp chỉ ra những yếu tố tạo nên sức hẫp dẫn trong
sáng tác của Hồ Anh Thái: “Sức hút của văn phong Hồ Anh Thái còn nằm ở chỗ
anh biết phủ lên thế giới nghệ thuật của mình những màu sắc tượng trưng, siêu
thực và gắn nó là khả năng tổ chức nhiều kiểu giọng điệu khác nhau: khi hài

nhấn mạnh và lối nói bình dân thông tục” [11;230].
Ngoài ra, còn một số luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp Đại học Sư Phạm
Hà Nội cũng đề cập đến truyện ngắn Hồ Anh Thái như: Nghệ thuật trần thuật
trong truyện ngắn Hồ Anh Thái (Khoá luận tốt nghiệp của Phạm Thị My năm
2004), Nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái (Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ
văn của Nguyễn Thị Vân năm 2005). Những khoá luận, luận văn này đã đề cập
đến nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn
chọn vấn đề trần thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái làm đối tượng nghiên cứu với lý
do những khoá luận, luận văn này đã tìm hiểu nghệ thuật trần thuật truyện ngắn
Hồ Anh Thái dưới góc độ văn học sử. Còn luận văn của chúng tôi nghiên cứu vấn
đề này dưới góc nhìn của chuyên ngành lý luận văn học. Sự khác biệt chuyên
ngành đó đã quy định những khác biệt cơ bản về mục đích nghiên cứu (các khoá
luận, luận văn trên hướng tới tìm hiểu phương diện “nghĩa”, chúng tôi lại hướng
tới tìm hiểu “cách tạo nghĩa” trong trần thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái). Do mục
đích nghiên cứu khác nhau nên đối tượng, phạm vi nghiên cứu khác nhau (dù
cùng chung tên đề tài), cấu trúc luận văn khác nhau và các phần mục cũng khác
nhau.
11
Như vậy, qua thống kê, phân tích những bài viết, những công trình nghiên
cứu trên, chúng tôi thấy các ý kiến đánh giá tập trung vào hai mảng sáng tác tiểu
thuyết và truyện ngắn Hồ Anh Thái. Riêng ở thể loại truyện ngắn, các ý kiến
đều có chung những đánh giá sau:
thứ nhất, Hồ Anh Thái biết phủ lên thế giới nghệ thuật của mình nhiều
mầu sắc tượng trưng, siêu thực, sử dụng nhiều hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ
(Tiêu biểu là tập truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tước). đây cũng là đặc
điểm mà Hồ Anh Thái đã sử dụng trong sáng tác tiểu thuyết.
Thứ hai, truyện ngắn thể hiện khả năng tổ chức nhiều giọng điệu khác
nhau, dụng công tạo ra giọng điệu mới của tác giả. Câu cú vượt qua cấu trúc
ngữ pháp thông thường với lối viết tràn câu, tràn dòng. đọc tác phẩm Hồ
Anh Thái, người đọc dễ dàng nhận ra “sự tái hiện ngôn ngữ đường phố đầu

Hồ Anh Thái.
5. Đóng góp của luận văn
Hi vọng đây là công trình nghiên cứu có hệ thống, cụ thể, tỉ mỉ hơn về
nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái dưới góc độ thi pháp học
để vừa làm sáng tỏ những vấn đề về lý thuyết nghệ thuật trần thuật vừa có cái
nhìn sâu sắc cụ thể hơn về thể tài truyện ngắn, về phong cách nhà văn. Qua
đó, hiểu sâu hơn về những đổi mới trong nghệ thuật trần thuật của truyện
ngắn Việt Nam đương đại, một thể tài đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng
trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp hệ thống
- Hệ thống các tác phẩm của Hồ Anh Thái để rút ra những vấn đề có tính quy
luật, tính hệ thống, từ đó phân tích để khái quát thành đặc điểm về nghệ thuật trần
thuật trong sáng tác của Hồ Anh Thái nói chung, truyện ngắn nói riêng.
13
- Hệ thống với những người cùng thời: muốn nghiên cứu Hồ Anh Thái
thì chí ít cũng phải đặt trong tương quan với các nhà văn cùng thời, với xu
hướng sáng tác chung của văn học.
6.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp này nhằm làm rõ những nét đặc trưng khác biệt của nghệ
thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái so với các tác giả khác (so
sánh lịch đại, so sánh đồng đại); so sánh giữa truyện ngắn với tiểu thuyết Hồ
Anh Thái.
6.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ các truyện
ngắn và thống kê phân loại theo phạm vi đề tài, chủ đề, theo phương thức trần
thuật, giọng điệu trần thuật…
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chương như sau:

nội dung, tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người, về thế giới: “nhân
vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một
quan điểm nhất định và qua các đặc điểm mà anh ta lựa chọn. Nhân vật văn
học chính là mô hình về con người của tác giả” [Dẫn theo 87;43].
15
“Nhân vật là đơn vị cơ bản khi tìm hiểu truyện ngắn, truyện ngắn sống
bằng nhân vật” [62;30]. Do đó, nhân vật đóng vai trò quan trọng trong truyện
ngắn. về vấn đề này, Nguyễn Tuân cho rằng qua nhân vật, nhà văn thể hiện
suy nghĩ của mình về cuộc sống “và cũng dựa vào nhân vật để biểu hiện tư
tưởng của mình. Nhân vật là sứ giả truyền đi cái thế giới quan, nhân sinh quan
của mình” [Dẫn theo 87;43].
Trong truyện ngắn, nhân vật là đơn vị cơ bản để người đọc tìm hiểu
truyện và truyện ngắn sống được cũng bằng nhân vật.
Nguyễn Minh Châu cho rằng, ở truyện ngắn điều cốt yếu là “qua nhân
vật mà người viết đàm luận với người đọc về vai trò và số phận con người
sống giữa xã hội và cuộc đời” (Trang giấy trước đèn, tập phê bình tiểu luận -
Tôn Phương Lan tuyển chọn và giới thiệu, Nxb KH, 1994). Qua nhân vật,
truyện ngắn có thể miêu tả, khắc họa sắc nét, đầy ấn tượng chiều sâu tính
cách, tâm hồn và số phận con người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện
những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. nói cách
khác, nhân vật là phương tiện khái quát những tính cách, số phận con người
và các quan niệm về chúng.
Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện
hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện
ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.
Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn”, mà vì cách
nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc
hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay
đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít
nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và

Thế giới nhân vật trong những sáng tác đầu tay (Tập truyện ngắn Mảnh
vỡ của đàn ông) chủ yếu là tầng lớp thanh niên trí thức có nhu cầu cá nhân
17
muốn thể hiện cái tôi cá tính. Họ là những cá thể độc lập, một mặt muốn thể
hiện nhân cách, tạo lập sự khác biệt về cá tính của mình, một mặt lại khao
khát hoà nhập vào tập thể, vào cộng đồng. Đó là những người dám nghĩ, dám
làm, luôn thể hiện mình dù có thể phải bất chấp nguyên tắc và luật lệ như
Hiếu (Nằm ngủ trên ghế băng), như Biên (Cuộc săn đuổi)… Đó là những
người biết tự nhận thức, phán xét hành động của mình để có thể hoàn thiện
mình hơn như Khải (Chàng trai ở bãi đỗ xe). Đó còn là những người sống có
nội tâm sâu sắc dưới cái vẻ bề ngoài nhiều khi vụng về, lập bập như Long
(Nói bằng lời của mình) hoặc của nhân vật tôi (Mảnh vỡ đàn ông)…
Đọc truyện Nằm ngủ trên ghế băng, người đọc thật ấn tượng với nhân vật
Hiếu, một nhân vật đầy cá tính. Trong vòng kỷ cương của ông bố, Hiếu cảm
thấy mình như con mãnh thú bị nhốt trong chuồng, nó phá phách, hòng sổng ra.
Một lần, toàn trường tham gia Hội tổng kết hoạt động thể thao của quận,
Hiếu và hai đứa bạn đã bí mật đổi tấm biển của Công ty gia cầm thành Công
ty giả câm. Bộ phận diễu hành của công ty này không biết, lúc diễu hành cứ
trương tấm biển lên hàng đầu, rồi diễu qua lễ đài. đám trẻ con cười phá lên,
làm nhộn nhạo cả một góc sân. Bị phát hiện, Hiếu lần mò ra người tố giác
mình. Nó tìm cậu bạn lớp trên, bàn tay như cái càng cua bóp tay cậu kia đau
ứa nước mắt “Dám giở trò ton hót hả?”. Rồi nắm tay đứa bạn, dắt đi như hai
người bạn thân. Tới bên hồ nước, Hiếu cởi quần áo ngoài bảo cậu kia làm
theo. Cả hai xuống nước, Hiếu dìm cho cậu ta một trận “lấp đầy dạ dày”.
Trước khi ra về, Hiếu kẻ cả nói: “Từ giờ mày sẽ biết căm ghét trò tố giác. Một
thằng con trai phải sống cho đàng hoàng, nghe chưa?” [3;30].
Đến khi vào bộ đội, Hiếu không chịu được khi thấy tiểu đội trưởng chỉ là
một thanh niên sức vóc thuộc loại “thấp bé nhẹ cân”, văn hoá mới hết lớp bảy,
nghĩa là nhiều mặt đều không bằng Hiếu, chỉ vì hơn một tuổi và nhập ngũ
trước một năm mà có quyền hò hét, điều khiển mười mấy chiến sĩ. Sáng chủ

19
Thái lộ ra ở chỗ ông dám nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch
nhân sinh, mổ xẻ nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo. Con người được quan
niệm toàn diện hơn, không đơn giản một chiều. Nhà văn đã nhìn thấy con
người phi chuẩn, nhưng đó lại đúng như nó tồn tại trong thực tế. Tác giả không
bái vọng đối tượng mà như đang trò chuyện cùng nhân vật. Nhà văn đã “nhập”
vào đời sống bên trong phức tạp, đa chiều của các nhân vật để hiểu và cảm
thông, chia sẻ với các nhân vật đó. Đằng sau những bi kich nhân sinh, nhà văn
không mất đi niềm hy vong vào con người. Đây cũng là sự thể hiện của một
cách nghĩ, cách nhìn giàu tính nhân văn của Hồ Anh Thái mà người đọc rất trân
trọng.
Thế giới nhân vật trong tập truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tước, là
những con người của một ấn Độ xa xôi, xứ sở của nền văn minh sông Hằng
nhiều tôn giáo. Trong thời gian sống, học tập và làm việc tại đây, Hồ Anh Thái
có điều kiện tiếp xúc, khám phá, phát hiện ra cái thế giới tâm linh sâu thẳm của
con người. Đây cũng là bình diện mà văn xuôi sau 75 rất chú ý khi xây dựng
nhân vật. Đọc các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Bảo
Ninh, Nguyễn Huy Thiệp…ta thấy rất rõ biểu hiện này. Chiều sâu tâm linh
tiềm ẩn trong mỗi con người ấy được khai thác để thể hiện quan niệm mới mẻ
về hiện thực và con người. Từ những con người đã đi vào huyền thoại như
Đức Phật (Chuyện cuộc đời Đức Phật), tên cướp Ahimsaka (Kiếp người đi
qua), thi sĩ Kalidasa (Thi nhân), Ananda (Người đứng một chân)… đều được
nối kết với nhau bằng niềm tin tín ngưỡng tâm linh. Người đọc không khỏi giật
mình ngạc nhiên trước ý chí quyết tâm và sức chịu đựng đáng kinh ngạc của
Ananda cũng như trước quan hệ huyết thống thiêng liênng mang tính tâm linh
của Navin. Cái gì có thể làm nên điều đó ngoài niềm tin bất diệt của họ trước
sức mạnh huyền bí của thần linh.
Thế giới tâm linh sâu thẳm của con người được Hồ Anh Thái tái hiện
bằng quan niệm mới mẻ: đó là niềm tin. Niềm tin cho con người sức mạnh để
20

khiến cách nhìn, cảm hứng và sự thể hiện con người cũng thay đổi. Xuất hiện
chủ yếu trong sáng tác của Hồ Anh Thái giai đoạn này là những loại người hám
danh lợi, cơ hội và hãnh tiến (Phòng khách, Sân bay, Bóng ma trên hành
lang, Chim anh chim em…), những loại người nhỏ nhen, ích kỷ, đố kỵ (Mây
mưa mau tạnh, Tự truyện…), những loại người luôn ảo tưởng, kỳ vọng về tài
năng, nhan sắc của mình (Trại cá sấu, Tin thật lòng…), những loại người tha
hoá, biến chất, giả dối, đơm đặt (Cây hoàng lan hoá thành cây si, Chợ, Cả một
dây theo nhau đi…).
Sự xuất hiện với mật độ dày đặc kiểu loại nhân vật trên đã cho thấy Hồ
Anh Thái rất quan tâm đến thực trạng xuống cấp của đạo đức, nhân cách con
người trong xã hội hiện đại. Cái xã hội với nhiều người giàu lên nhanh chóng
nhưng cũng sa sút về đạo đức nhanh chóng, vì thế đã xảy ra bao chuyện bi hài.
Đây quả là vấn đề đáng lo ngại. Để có thể đạt được mục đích cá nhân, mà mục
đích đó nhiều khi tương phản với lợi ích xã hội, thậm chí còn là đối trọng với
những người gần gũi mình, con người sẵn sàng làm mọi việc. Sự nhố nhăng
của những kiểu người đó gợi cho chúng ta nhớ đến ngòi bút hoạt kê của Vũ
Trọng Phụng trong Số đỏ. Những Xuân tóc đỏ thời nay không phải tiến thân
bắt đầu từ việc nhặt banh ở sân quần vợt. Có trong mình phẩm chất du xuân
cho nên họ có thể thể hiện mình một cách xuất sắc ở hội hoạ, điện ảnh, ở việc
ham đi nước ngoài để tìm miền đất hứa, ở phòng khách, ở sân bay…
Chua xót đau đớn trong tiếng cười sắc lạnh, cười ra nước mắt. Song toát
lên từ những câu chuyện mất còn của cuộc đời, những câu chuyện nhân tình
thế thái dưới cái vỏ phê phán giễu cợt kia là niềm tin của tác giả vào cuộc đời.
Đó là điều Hồ Anh Thái muốn gửi gắm và cũng muốn gợi lên từ phía người
đọc.
Như vậy có thể thấy rằng, truyện ngắn của Hồ Anh Thái có một thế giới
nhân vật phong phú, đa dạng, trải ra trong một không gian rộng lớn, trên một
trục thời gian khá dài: có nhân vật thật của cuộc sống đời thường, có nhân vật
22
kỳ ảo; có nhân vật thuộc về quá khứ lịch sử, có nhân vật thuộc hiện tại hôm

nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn,
chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn” [Dẫn theo 22;3].
1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Khi được hỏi :“Người ta cho rằng cái cuối cùng còn lại của văn xuôi là
nhân vật. Anh thấy có vấn đề gì không trước quan niệm phải có nhân vật “ở
lại” với người đọc…”, Hồ Anh Thái trả lời: “Nếu ta vẫn tiếp tục sử dụng
phương pháp truyền thống thì quan niệm phải có nhân vật là rất đúng. Nhưng
nhiều kiệt tác của văn xuôi hiện đại không có nhân vật theo đúng quan niệm
truyền thống… đâu còn “nhân vật đáng nhớ” theo kiểu cổ điển nữa… có
những cuốn chỉ khiến người ta nhớ một cảm giác: lang thang vô định, hoặc
ngột ngạt hoặc trong trẻo tuyệt vời. Có cuốn lại phảng phất một hương vị,
cuốn khác thì văn chương thay cho nhân vật…” [11;215].
Từ câu trả lời phỏng vấn trên, chúng ta có thể thấy được quan niệm của
Hồ Anh Thái về vấn đề xây dựng nhân vật trong tác phẩm có rất nhiều mới
mẻ. Xây dựng nhân vật là một quá trình tìm tòi và sáng tạo của nhà văn. Để
có được những nhân vật ấn tượng, có được chỗ đứng trong trái tim khối óc
của bạn đọc không phải dễ. M. Gorki có lần đã khuyên một nhà văn trẻ: “Anh
hãy bỏ nghề viết đi. Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế.
Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy
lại là điều chủ yếu” [88;6].
Để xây dựng được một thế giới nhân vật sinh động, phong phú, hấp dẫn,
Hồ Anh Thái đã sử dụng nhiều phương tiện, nhiều thủ pháp nghệ thuật và tất
nhiên có một phần là năng khiếu (tài năng) nữa. Sau đây là những thủ pháp
tiêu biểu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của truyện ngắn Hồ Anh Thái.
1.2.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình, diện mạo và tên
gọi của nhân vật.
1.2.1.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình, diện mạo.
24
Chân dung- ngoại hình nhân vật là diện mạo của con người được miêu tả qua
trang phục và các yếu tố thể chất có tính đặc thù biểu hiện ra bên ngoài, như dáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status