BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ MINH TRANG
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG
THUỐC ARV VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
Ở BỆNH NHÂN HIV ĐƢỢC QUẢN LÝ
TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI – 2015
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG
THUỐC ARV VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
Ở BỆNH NHÂN HIV ĐƢỢC QUẢN LÝ
Hà Nội, những người đã cùng sát cánh, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua giai đoạn
thử thách và khó khăn này.
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình tôi, nơi đã cho
tôi một điểm tựa vững chắc nhất cũng như luôn cổ vũ động viên tôi trong học tập và
trong cuộc sống.
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Minh Trang MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 2
1.1. Tổng quan về dịch tễ 2
1.2. Tổng quan về điều trị ARV 2
1.2.1. Khái niệm về điều trị 2
1.2.2. Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV ở người lớn 3
1.2.3. Các phác đồ điều trị ARV 5
1.2.3.1. Phác đồ bậc 1 5
1.2.3.2. Phác đồ bậc 2 6
1.2.4. Theo dõi trong quá trình điều trị ARV 6
1.2.4.1. Tác dụng không mong muốn 6
1.2.4.2. Thất bại điều trị 7
1.3. Tổng quan về tuân thủ điều trị 8
1.3.1. Khái niệm, vai trò của tuân thủ điều trị đối với điều trị ARV 8
3.2.1.4. Hỗ trợ của gia đình, bạn bè và người hỗ trợ 35
3.2.1.5. Kiến thức của bệnh nhân về điều trị ARV 36
3.2.2. Khảo sát về việc tuân thủ của bệnh nhân đối với điều trị ARV 37
3.2.2.1. Tuân thủ về số lần uống thuốc 37
3.2.2.2. Đánh giá tỷ lệ tuân thủ về thời điểm uống thuốc và chế độ ăn của các
bệnh nhân sử dụng phác đồ chứa EFV 38
CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN 39
4.1. Về việc sử dụng thuốc ARV 39
4.1.1. Về đặc điểm bệnh nhân 39
4.1.2. Về việc lựa chọn các phác đồ 40
4.1.3. Hạn chế của nghiên cứu 42
4.2. Về tuân thủ của bệnh nhân đối với điều trị ARV 43
4.2.1. Về tỉ lệ tuân thủ của bệnh nhân đối với điều trị ARV 43
4.2.2. Về phương pháp nghiên cứu 45
KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
3TC
Lamivudin
ABC
Abacavir
AIDS
Acquired immunodeficiency syndrome – Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải
ALAT
Alanin aminotransferase
ARV
Antiretroviral – thuốc kháng retrovirus
NTCH
Nhiễm trùng cơ hội
NVP
Nevirapin
PI
Protease inhibitor – Thuốc ức chế protease
SL
Số lượng
TB
Tuberculosis – Bệnh lao
TCĐT
Tiêu chuẩn điều trị
TDF
Tenofovir
TDKMM
Tác dụng không mong muốn
TL
Tỷ lệ
WHO
World Health Organization – Tổ chức y tế thế giới
XN
Xét nghiệm
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bắt đầu điều trị ARV ở người bệnh lao chưa điều trị ARV [3] 4
Bảng 1.2. Mức liều TDF theo độ thanh thải creatinin [3] 5
Bảng 1.3. Các TDKMM có thể gặp phải của các thuốc ARV [3] 6
gian 4 ngày và 4 tuần 37
Bảng 3.22. Đặc điểm sai lệch về thời gian uống thuốc nhỏ hơn 1 giờ 38
Bảng 3.23. Tỷ lệ tuân thủ về thời điểm uống thuốc và chế độ ăn của bệnh nhân sử
dụng phác đồ chứa EFV 38
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Số liệu thống kê cho thấy kể từ thời điểm bùng phát đại dịch HIV/AIDS, thế
giới đã có khoảng 78 triệu người mắc bệnh. Căn bệnh này cũng cướp đi sinh mạng
khoảng 39 triệu người trên thế giới [55]. Trong những năm gần đây, tỷ lệ người chết
do HIV/AIDS đang có xu hướng giảm xuống. Điều trị ARV góp phần quan trọng
trong thành tựu đó.
Năm 2013, nước ta đã có khoảng 250 000 người nhiễm HIV [53]. Trong đó,
83 000 bệnh nhân đang điều trị ARV, chiếm khoảng 33% số bệnh nhân nhiễm HIV
trên cả nước [54]. Theo dự đoán, tỷ lệ này sẽ tăng lên cao hơn trong những năm tới.
Quyết định 4139/QĐ-BYT về việc sửa đổi bổ sung Hướng dẫn về chẩn đoán và
điều trị HIV/AIDS của Bộ Y tế năm 2011 đã dẫn tới hai thay đổi lớn trong điều trị
ARV. Thứ nhất, bệnh nhân nhiễm HIV được điều trị sớm hơn, ngay khi số lượng tế
bào CD4 bắt đầu suy giảm tiến triển. Thứ hai, quyết định này cũng đưa ra hướng
dẫn ngừng lựa chọn các phác đồ ARV chứa AZT và d4T như lựa chọn đầu tay cho
điều trị bậc 1 và thay thế bằng các phác đồ chứa TDF.
Tuân thủ điều trị cũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong điều trị ARV, là
yếu tố quyết định ảnh hưởng tới hiệu quả của việc điều trị cũng như nguy cơ kháng
thuốc của virus [43]. Trong quyết định 471/QĐ-BYT về việc cải tiến chất lượng
chăm sóc và điều trị HIV/AIDS, tuân thủ điều trị được đặt ra như một chỉ tiêu đánh
giá chất lượng của hệ thống chăm sóc và điều trị [1]. Tại Việt Nam, nhiều nghiên
cứu về tuân thủ điều trị đã được tiến hành, tuy nhiên, các kết quả về tỷ lệ tuân thủ
thu được còn có nhiều khác biệt [5], [6], [8], [22].
Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát việc sử dụng thuốc
kháng với ít nhất một thuốc ARV [16].
1.2. Tổng quan về điều trị ARV
1.2.1. Khái niệm về điều trị
Trước những năm 1990, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV chỉ tập trung vào
quản lý, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Sự ra đời của liệu pháp kháng
retrovirus phối hợp (combination antiretroviral therapy) đã mở ra một hướng mới để
3
điều trị căn bệnh này. Liệu pháp này phối hợp các thuốc kháng retrovirus (ARV) có
cơ chế tác dụng khác nhau, nhằm duy trì tác dụng ức chế sự sao chép của virus
HIV, làm chậm quá trình tiến triển tới giai đoạn AIDS, khôi phục chức năng miễn
dịch, giảm lây truyền virus HIV và kéo dài thời gian sống cho người bệnh [42].
Hiện nay, có 4 nhóm thuốc kháng retrovirus [42]:
Các thuốc ức chế sao chép ngược:
- Các thuốc ức chế sao chép ngược nucleosid (NRTI – Nucleoside
reserve transcriptase inhibitors)
- Các thuốc ức chế enzym sao chép ngược không nucleosid (NNRTI –
Non-nucleoside reserve transcriptase inhibitor)
Thuốc ức chế protease (PI – Protease inhibitor)
Ức chế integrase (II – Integrase inhibitor)
Ức chế quá trình xâm nhập (Entry inhibitor):
- Ức chế hòa màng (FI – Fusion inhibitor)
- Đối kháng CCR5
Mỗi nhóm thuốc tác dụng tới một bước khác nhau trong chu trình sống của
virus. Tuy nhiên, không nên sử dụng đơn độc các thuốc ARV do làm gia tăng nguy
cơ xuất hiện đột biến kháng thuốc [42].
Phác đồ điều trị chuẩn hiện nay bao gồm ít nhất 3 thuốc ARV, thường được gọi
là liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao (Highly active antiretroviral therapy -
HAART), có hiệu quả trong việc giảm tải lượng virus và cải thiện tình trạng lâm
sàng. Phác đồ này thường phối hợp 2 thuốc nhóm NRTI với 1 thuốc nhóm NNRTI
[2]. Tiêu chuẩn điều trị
này có sự tương đồng với khuyến cáo của WHO năm 2013.
Đối với các bệnh nhân HIV có nhiễm lao khi chưa bắt đầu điều trị ARV, điều
trị lao được ưu tiên thực hiện trước. Thời điểm bắt đầu điều trị ARV cho các bệnh
nhân này được trình bày chi tiết trong bảng 1-1.
Bảng 1.1. Bắt đầu điều trị ARV ở người bệnh lao chưa điều trị ARV [3]
Số lƣợng CD4 (TB/mm
3
)
Thời gian so với thời điểm bắt đầu điều trị lao
<250
2 – 8 tuần
a
250 – 350
Sau khi kết thúc điều trị lao tấn công
b
> 350
Đánh giá lại chỉ định điều trị ARV sau GĐ
tấn công hoặc kết thúc điều trị
b
a
ngay khi bệnh nhân đã dung nạp thuốc lao
b
bắt đầu điều trị ngay khi đã dung nạp thuốc lao (2-8 tuần) nếu bệnh nhân ở GĐLS 4
5
1.2.3. Các phác đồ điều trị ARV
≥ 50
Liều
Không có chỉ
định điều trị
600 mg/tuần
150 mg/ngày
300 mg/ngày
Khi bệnh nhân có chống chỉ định với TDF, phác đồ bậc 1 được lựa chọn là
AZT/3TC/EFV hoặc AZT/3TC/NVP. Do nguy cơ thiếu máu do AZT, trước khi
điều trị, bệnh nhân phải được xét nghiệm nồng độ hemoglobin (Hb) trong máu. Nếu
nồng độ Hb<80 g/l, không sử dụng phác đồ chứa AZT cho bệnh nhân.
Đối với các bệnh nhân đồng nhiễm HBV và HCV hoặc có biểu hiện lâm sàng
viêm gan hoặc men gan tăng, phác đồ chứa EFV được ưu tiên sử dụng. Khi không
có EFV có thể sử dụng NVP và theo dõi chặt chẽ. Nếu trong quá trình sử dụng,
6
nồng độ ALAT của bệnh nhân tăng gấp 5 lần trở lên so với giá trị bình thường,
NVP phải được thay thế bằng EFV, TDF hoặc LPV/r.
Cũng do nguy cơ gây độc tính tính trên gan, NVP không được ưu tiên sử dụng
trên bệnh nhân đang điều trị lao với phác đồ chứa rifampicin.
1.2.3.2. Phác đồ bậc 2
Khi thất bại điều trị với phác đồ bậc 1, bệnh nhân sẽ được chuyển sang phác đồ
bậc 2. Điều trị bậc 2 nên sử dụng phối hợp 2 thuốc nhóm NRTI và 1 thuốc nhóm PI
(kết hợp ritonavir). Hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế năm 2011 và WHO năm 2013
đều thống nhất lựa chọn phác đồ bậc 2 dựa theo nguyên tắc: nếu thất bại với phác
đồ phối hợp TDF + 3TC (hoặc FTC) thì chuyển sang phác đồ bậc 2 chứa AZT +
3TC; ngược lại nếu thất bại với phác đồ chứa AZT/d4T + 3TC thì chuyển sang phác
đồ bậc 2 chứa TDF + 3TC [2], [49].
1.2.4. Theo dõi trong quá trình điều trị ARV
1.2.4.1. Tác dụng không mong muốn
chẩn đoán và khẳng định thất bại điều trị. Tuy nhiên, ở những nơi xét nghiệm tải
lượng virus không được thực hiện thường quy, số lượng tế bào CD4 và các dấu hiệu
lâm sàng có thể được sử dụng để chẩn đoán thất bại điều trị [49].
Bệnh nhân được đánh giá thất bại điều trị về mặt virus học khi kết quả xét
nghiệm tải lượng virus trong 2 lần liên tiếp cao hơn ngưỡng quy định. Ngưỡng đánh
giá này được khuyến cáo khác nhau trong hướng dẫn của Bộ Y tế và WHO: ngưỡng
HIV RNA chỉ điểm cho thất bại điều trị của WHO thấp hơn so với hướng dẫn của
Bộ Y tế. Tuy nhiên, ngưỡng đánh giá thấp này cũng đi kèm với khoảng cách giữa 2
lần xét nghiệm dài hơn [3], [49].
Các tiêu chí để xác định thất bại điều trị ARV theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y
tế và WHO được trình bày cụ thể trong bảng 1-4.
Bảng 1.4. So sánh tiêu chuẩn đánh giá thất bại điều trị ARV theo khuyến cáo của
Bộ Y tế năm 2009 và WHO năm 2013
Bộ Y tế 2009 [3]
WHO 2013 [49]
Thất bại về virus học
HIV RNA > 5000 copies/ml
trong 2 lần XN liên tiếp cách
nhau ít nhất 1 tháng
HIV RNA > 1000 copies/ml
trong 2 lần XN liên tiếp cách
nhau 3 tháng
Thất bại về lâm sàng
Bệnh lý ở GĐLS 4 mới hoặc tái phát (trừ lao hạch, lao
màng phổi, nấm Candida thực quản, viêm phổi tái phát)
Bệnh lý ở GĐLS 3 (lao phổi, nhiễm vi khuẩn nặng) kèm
thất bại về miễn dịch học hoặc virus học sau 6 tháng điều
trị.
8
toàn virus HIV ra khỏi cơ thể, mà chỉ có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus. Tuy
nhiên, ngay cả khi nồng độ virus trong máu rất thấp, dưới ngưỡng phát hiện của các
kỹ thuật xét nghiệm hiện nay, sự sao chép của virus vẫn được diễn ra. Do đó, bệnh
nhân cần tuân thủ đầy đủ và liên tục để duy trì tác dụng ức chế virus ngay cả khi tải
lượng virus rất thấp. Paterson và cộng sự thấy rằng mức tuân thủ thấp hơn 95% làm
tăng nguy cơ nhập viện, nhiễm trùng cơ hội và giảm tác dụng ức chế virus [41].
9
Tuân thủ kém với việc điều trị ARV không chỉ gây hại với bản thân bệnh nhân
mà còn gây ra vấn đề nghiêm trọng với sức khỏe cộng đồng. Đột biến kháng thuốc
có thể truyền từ người này sang người khác thông qua các hành vi có nguy cơ cao,
dẫn tới hậu quả là thu hẹp các lựa chọn điều trị [17], [31], [46].
Hiện nay, Bộ Y tế cũng rất quan tâm tới vấn đề tuân thủ điều trị ARV của các
bệnh nhân nhiễm HIV. Trong quyết định số 491/QĐ-BYT về hướng dẫn cải tiến
chất lượng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS với hoạt động khám ngoại trú, có 2 chỉ
số nhằm đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân đang điều trị ARV trên tổng số 4
chỉ số đánh giá điều trị [1].
1.3.2. Phân loại tuân thủ của bệnh nhân với điều trị ARV
Hiện nay, trên lâm sàng cũng như trong các nghiên cứu, chưa có sự đồng thuận
về chỉ tiêu phân loại tuân thủ điều trị “tốt” và “kém” nào được đưa ra. Một số
nghiên cứu cho rằng, do tốc độ sao chép và đột biến nhanh của virus HIV, bệnh
nhân cần đạt mức độ tuân thủ cao để duy trì tác dụng ức chế tải lượng virus [38],
[41]. Tuy vậy, cho tới nay, các nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được đầy đủ bằng chứng
về mốc tuân thủ mục tiêu bệnh nhân cần đạt được khi điều trị ARV. Các nghiên cứu
về tuân thủ điều trị của của bệnh nhân HIV thường sử dụng mốc 95% để phân loại
nhóm tuân thủ “tốt” và “kém” – đây là con số được đưa ra theo theo kết quả thu
được từ nghiên cứu của Paterson và cộng sự. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ thực
hiện trên phác đồ chứa PI (không phối hợp ritonavir). Phác đồ này được chứng
minh có hiệu quả thấp, và đã được thay thế trong điều trị bằng các phác đồ phối hợp
NNRTI với NRTI hoặc với PI/ritonavir. Mặt khác, chỉ tiêu đánh giá thất bại về mặt
giá dựa vào kết quả xét nghiệm.
Biện pháp đếm thuốc có thể thực hiện tại thời điểm tái khám hoặc tại thời điểm
bất kỳ thông qua các buổi tới thăm bệnh nhân tại nhà. Mức độ tuân thủ được đánh
giá dựa vào số thuốc còn dư, số thuốc đã lĩnh và liều hàng ngày. Điểm yếu của
phương pháp là kết quả thu được có thể bị ảnh hưởng khi bệnh nhân không uống
thuốc mà bỏ thuốc đi; gây bất tiện cho bệnh nhân do phải mang theo hộp thuốc mỗi
lần tái khám; tạo tâm lý không thoải mái cho bệnh nhân; yêu cầu nhân lực, chi phí
11
đi lại nếu thực hiện các buổi tới thăm tại nhà; và không đánh giá được thời điểm và
cách sử dụng thuốc của bệnh nhân.
Sử dụng thiết bị theo dõi điện tử trên nắp hộp thuốc có hiệu lực cao trong việc
dự đoán diễn biến về tải lượng virus của bệnh nhân. Số lần và thời điểm bệnh nhân
mở nắp hộp thuốc sẽ được ghi lại, và sử dụng để tính tỷ lệ tuân thủ so với liều dùng
được hướng dẫn. Tuy nhiên, kết quả có thể không chính xác nếu bệnh nhân thường
xuyên mở nắp hộp thuốc với mục đích khác (ví dụ: để đếm số thuốc còn lại), không
uống thuốc nhưng vẫn mở nắp, hoặc trường hợp thiết bị theo dõi bị hỏng. Mặt khác,
sử dụng phương pháp này cũng đòi hỏi chi phí lớn cho việc trang bị hộp thuốc có
thiết bị theo dõi.
Đánh giá tuân thủ theo dữ liệu về việc lĩnh thuốc của bệnh nhân tại hiệu thuốc
là phương pháp đơn giản, đòi hỏi chi phí thấp. Một số nghiên cứu cho thấy kết quả
về tuân thủ đánh giá bằng phương pháp này cho mức độ tương quan khá cao với tải
lượng virus. Tuy vậy cũng như các phương pháp ở trên, nó không thể xác nhận
bệnh nhân có uống thuốc hay không và không thể theo dõi thời điểm uống thuốc
của bệnh nhân. Mặt khác để áp dụng phương pháp này, các nhà thuốc cần có một hệ
thống lưu trữ thông tin hiệu quả. Do đó, không phải tất cả các hệ thống y tế đều phù
hợp để thực hiện phương pháp này.
Mục tiêu của việc điều trị ARV là ức chế sự nhân lên của virus, duy trì tải
lượng virus thấp trong máu. Do đó, có thể sử dụng tải lượng virus để theo dõi, đánh
giá việc tuân thủ điều trị. Tuy nhiên, tải lượng virus trong máu không chỉ chịu ảnh
Mặc dù đã có một số bộ câu hỏi được xây dựng để áp dụng trong nghiên cứu
cũng như thực hành lâm sàng, chưa có bộ câu hỏi nào được sử dụng như bộ công cụ
mẫu để đánh giá tuân thủ điều trị. Các bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thường có cấu
trúc gồm 2 phần chính: phần câu hỏi về tuân thủ của bệnh nhân và phần câu hỏi về
một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới tuân thủ.
Phần câu hỏi về tuân thủ
Phần này thường được các nghiên cứu kế thừa từ một số bộ câu hỏi sẵn có. Một
số công cụ thường gặp trong các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV gồm: Visual
Analog Scale (VAS), Case Adherence Index Questionnaire (CASE), Swiss HIV
13
Cohort Study Adherence Questionnaire (SHCS-AQ), Adult AIDS Clinical Trials
Group instrument (AACTG).
VAS là phương pháp đánh giá tuân thủ đơn giản dựa trên thang điểm từ 0-
100%, bệnh nhân được yêu cầu đánh dấu vào một điểm trên đường tỷ lệ tương ứng
với mức độ tuân thủ của mình trong một khoảng thời gian nào đó (ví dụ 1 tháng
hoặc thậm chí là từ khi bắt đầu điều trị) [22], [25], [32], [35], [44].
Bộ câu hỏi AACTG được xây dựng bởi Adult AIDS Clinical Trials Group để
áp dụng trong các thử nghiệm lâm sàng về điều trị ARV. Tuy nhiên hiện nay nhiều
nhà khoa học đã áp dụng công cụ đánh giá tuân thủ được xây dựng trong bộ câu hỏi
này vào các nghiên cứu dịch tễ [19], [22], [35]. Công cụ này đánh giá việc sử dụng
thuốc của bệnh nhân trong khoảng thời gian 4 ngày [18], bao gồm các câu hỏi về số
lần bệnh nhân đã bỏ thuốc trong từng ngày, đối với từng thuốc (một lần uống thuốc
không đầy đủ như hướng dẫn cũng được tính là bỏ thuốc).
Bộ công cụ SHCS-AQ bắt nguồn từ một nghiên cứu thuần tập lớn tiến hành tại
Thụy Sĩ (Swiss HIV Cohort Study). Nghiên cứu này đã sử dụng 2 câu hỏi trắc
nghiệm: “anh (chị) có thường xuyên bỏ lỡ một lần uống thuốc trong vòng 4 tuần
qua không? Các lựa chọn bao gồm: hàng ngày, nhiều hơn 1 lần/tuần, 1 lần/tuần, 2
tuần một lần, 1 lần/tháng, không bao giờ” và “Trong vòng 4 tuần qua, anh (chị) có
lần nào bỏ thuốc trong khoảng thời gian trên 24 giờ không? Có/Không” [26], [27].
nghĩa trên vào một nghiên cứu về tuân thủ điều trị trên 615 bệnh nhân từ 5 phòng
khám ngoại trú tại Việt Nam [22].
Phần câu hỏi về một số yếu tố có thể ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị
Các bộ câu hỏi thường phối hợp thu thập các thông tin để đánh giá về sự tuân
thủ điều trị và các thông tin để phát hiện các yếu tố có thể ảnh hưởng tới hành vi
tuân thủ của bệnh nhân. Một số yếu tố thường được đánh giá sự ảnh hưởng trong
các nghiên cứu và đã được chứng minh có mối quan hệ với hành vi thiếu tuân thủ
của bệnh nhân trong một số nghiên cứu [22] [5], [8], [26], [37]:
- Sử dụng rượu
- Sử dụng ma túy, chất gây nghiện
- Kiến thức về điều trị ARV
15
- Trầm cảm
- Hỗ trợ của gia đình, hòa nhập với xã hội.
1.4. Tình hình tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam
Phần lớn các nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam đều sử dụng
phương pháp phỏng vấn bệnh nhân. Các nghiên cứu này thu được các kết quả khác
nhau về tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân đối với các thuốc ARV [4], [5], [6],
[7], [8], [9], [22]. Tuy nhiên trong số các nghiên cứu đã công bố, chưa có nghiên
cứu nào được thực hiện trên quần thể bệnh nhân tại Phòng khám ngoại trú, thuộc
khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ của bệnh nhân đối với các thuốc ARV không
thống nhất giữa các nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Đỗ Mai Hoa và cộng sự được
thực hiện trên 615 bệnh nhân từ 5 phòng khám ngoại trú, các yếu tố ảnh hưởng tới
tuân thủ điều trị gồm trầm cảm, tiền sử gặp tác dụng phụ của thuốc ARV, sử dụng
nhiều rượu, thiếu thông tin về điều trị, kém hòa nhập với xã hội [22].
16