BỘYTẼ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
❖ ❖❖
TRẦN THỊ LÊ NA
KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỂU TRỊ
NHIỂM KHUẨN HÔ HÂP CẤP TÍNH CHO BỆNH NHI
DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA HÔ HÂP BỆNH VIỆN NHI
TRUNG ƯƠNG TỪ 01/01/2005 ĐẾN 31/12/2005
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 2001- 2006)
Người hướng dẫn : ThS. Bùi Đức Lập
Bác sỹ Nguyễn Thị Thu Nguyệt
Nơi thực hiện : Bộ môn Dược Lâm Sàng
Trường Đại Học Dược Hà Nội
Khoa hô hấp - Bệnh viện Nhi Trung ương
Thời gian thực hiện: 01/2/2006 - 19/5/2006
LỜI CẢM ƠN
Sau năm năm dưới mái trường Đại học Dược Hà Nội, được sự quan tâm
của các thầy cô trong Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo, các phòng
ban, cùng sự nhiệt tình giảng dạy của thầy cô ở các bộ môn trong tnỉồiig đã
truyền đạt cho em kiến thức chuyên môn phục vụ công việc, cho em nhiều điều
quý giá trước khi ra trường, em xin chân thành cảm ơn.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thẩy cô
trong Bộ môn Dược lâm sàng.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, Phòng K ế hoạch tổng hợp, cctc
bác sỹ ở Khoa Hô hấp, phòng vi sinh, các cô ởphònẹ Hồ sơ lưu trữ Bệnh viện
Nhi Trung ương đã tạo điều kiện cho em thực hiện khoá luận
Cho em bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới:
ThS. Bùi Đức Lập
Bác sỹ Nguyễn Thị Thu Nguyệt- Bệnh viện Nhi Trung ương
đã dẫn dắt và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành khoá luận.
VTPQ Viêm tiểu phế quản
WHO Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT YẤN ĐỀ.
1
PHẦN 1. TỔNG QUAN 3
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỂ NKHHCT 3
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu đường hô hấp 3
1.1.2. Đại cương về bệnh NKHHCT
4
1.1.3. Tinh hình NKHHCT hiện nay ở thế giới 6
1.1.4. Tinh hình NKHHCT ở Việt Nam 7
1.1.5. Căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em 8
1.1.6. Các yếu tố liên quan đến căn nguyên gây NKHH
10
1.2. NHỮNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN ĐẾN ĐlỂU TRỊ NKHHCT
11
1.2.1. Nguyên tắc điều trị
11
1.2.2. Các phác đồ điều trị 12
1.2.2.1. Viêm đường hô hấp trên 12
1.2.2.2. Viêm đường hô hấp dưới 13
1.2.3. Tình hình sử dụng kháng sinh hiện nay 16
1.2.4. Tmh hình kháng KS của các chủng V K 17
PHẦN 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúu
19
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u 19
3.2.2.2. Phác đồ điều trị viêm đường hô hấp dưới 33
3.2.3. Liều dùng của các kháng sinh hay sử dụng trong ỉ ngày
42
3.2.4. Hiệu quả điều trị NKHHCT 43
3.2.5. Thời gian sử dụng thuốc
44
3.2.6. Đánh giá chung việc sử dụng thuốc trên tiêu chí an toàn, hiệu quả, hợp lý
PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ ĐE XưẤT 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHU L ư c
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nhóm bệnh rất phổ biến ở trẻ em đặc
biệt là trẻ nhỏ hơn 5 tuổi. Bệnh có tỷ lệ mắc cao, tần suất mắc nhiều lần trong
năm và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ. Theo số liệu của WHO,
hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em chết (95% ở các nước đang
phát triển) thì có tới 4 triệu trẻ em chết do bệnh này [18].
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển. Nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính ở trẻ em cũng có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong cao, đứng đầu trong
các bệnh nhiễm khuẩn. Trung bình mỗi năm trẻ có thể mắc từ 3 đến 8 lượt và
là nguyên nhân khiến trẻ được đưa khám bệnh [18].
Căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em rất phong phú và
đa dạng có thể do virus hoặc do vi khuẩn (Str.Pneumoniae, H.influenzae, )
gây nên.Theo WHO, khoảng từ 60% đến 80% căn nguyên gây nhiễm khuẩn
hổ hấp cấp tính ở các nước đang phát triển là vi khuẩn, đặc biệt vi khuẩn là
căn nguyên chính gây viêm phổi nặng dẫn đến tử vong ở trẻ em. Các cỏn2
trình nghiên cứu gần đây cho thấy rằng nguyên nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính ở trẻ em hay thường gặp là: Str.Pneumoniae, H.influenzae, Moraxella
catarrhal is [IS].
Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý như tự ý mua, dùng thuốc của
>Ì3ang phế mạc
Cơ hoảnh
Tiểu phế quản
Họng
|lTianh quản
K^li quản
Fhổi Irái
R-iế quân
V
•Ptiế nang vầ liểu phế nang
Hình 1.1. Cấu tạo bộ máy đưòìig hô hấp
Bộ máy hô hấp là một cơ quan rất quan trọng của cơ thể, nó cấu tạo liên
tục thành một hệ thống từ mũi, qua họng, thanh quản, khí phế quản và tới
phổi. Chức năng của nó là cung cấp oxy và thải khí cacbonic. Vì thế nếu tổn
thương bất kỳ một thành phần nào trong hệ thống này đều ảnh hưởng đến toàn
bộ thống và chức năng hô hấp của cơ thể [18],
Về giải phẫu các chuyên gia của WHO lấy nắp thanh quản làm ranh giới
để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới (nếu tổn
thương phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên, tổn thương dưới
nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới) [18],
- Viêm đường hô hấp trên: viêm mũi, viêm họng, viêm amidal, VA, viêm
tai giữa.
- Viêm đường hô hấp dưới: viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi.
Thực tế, phân loại theo mức độ nặng nhẹ hay dùng để đánh giá xử trí kịp
thời các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ;
- Không viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ)
- Viêm phổi (nhiễm khuẩn hô hấp thể vừa)
- Viêm phổi nặng (Nhiễm khuẩn hô hấp thể nặng).
- Bệnh rất nặng.
Bộ phận hô hấp trẻ em khác với người lớn không những nhỏ hơn về kích
l- Viêm thanh khí phê quản cấp
Nguyên nhân: chủ yếu là do virus Para influenzae
1.1.2.2, Viêm đường hô hấp dưới [1], [5], [6], [8], [15], [19], [20].
Thường gặp ít hơn, nhưng tiên lượng nặng hơn, dễ tử vong do đó phái
phát hiện sớm và điều trị đúng.
ị- Viêm phổi
Viêm phổi là tổn thương cấp diễn, lan toả cả phế nang, mô kẽ lãn phế
quản, chủ yếu do virus khởi đầu, sau đó bội nhiễm do vi khuẩn hoặc cả hai.
Thường vi khuẩn qua đường hô hấp, ngoài ra vi khuẩn qua đường máu,
bạch huyết, không điều trị kịp thời dễ dãn đến tử vong.
• Viêm tiểu phê quản cấp tính
Viêm tiểu phế quản cấp tính hay gặp ở trẻ nhỏ, dưới 1 tuổi thường do
virus hợp bào hô hấp gây ra.
Trẻ đẻ non, có bệnh tim bẩm sinh, có thiểu sản phổi dễ có nguy cơ bị bệnh,
i- Viêm thanh quản cấp
Viêm thanh quản cấp thường do virus Para influenza, hay xảy ra ở trẻ từ
6 tháng - 3 tuổi, vào mùa Đông.
1.1.3. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ỷ trẻ em trên thê giói
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi
chiếm vị trí hàng đầu về tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong trên toàn thế giới.
Theo số liệu của WHO hàng năm có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
chết thì có tới 4 triệu trẻ em tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính mà trên
90% số đó ở các nước đang phát triển. Theo số liệu của Wajula (1991) tỉ lệ
đến khám vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở Etiopia là 25,5%; ở Batda Irak
39,9%; ồ Sao Palo- Brazin là 41,8%; ở Luân Đôn- Anh là 30,5% và ở Herslon
- Australia là 34%. Số trẻ vào bệnh viện điều trị vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính ở Daka - Bangladest là 35,8%; ở Rangun - Mianma 31,5%; ở Ixlamabat -
Pakistan là 33,6% và ở Nadóla - Zambia là 34% [9], [13], [14], [18], [23],
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không những có tỉ lệ mắc cao mà còn bị
mắc nhiều lần trong năm. Tại hội nghị Washington (1991) những số liệu sau
Việt Nam có khoảng 7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Qua ước tính có thể thấy
mỗi năm có gần 800 nghìn đến 1 triệu trường hợp trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính cần được điều trị và số tử vong ước tính không dưới 20.000 trẻ mỗi
năm. Đây là một lý do rất đáng quan tâm trong việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em
ở cộng đồng [18].
Trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thì nhiễm khuẩn hô hấp trên chiếm
2/3, chủ yếu là thể nhẹ. Nhiễm khuẩn hô hấp dưới thường là thể vừa và nặn«,.
Theo thống kê của bệnh viện Bảo Vệ Sức Khoẻ Trẻ Em: tử vong do nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính chiếm 28% trong số tử vong và tử vong do viêm phổi
chiếm từ 8 -12%. Theo nghiên cứu của Bùi Thị Loan trong nhiễm khuẩn hô
hấp thì nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính chiếm tỷ lệ cao nhất mà chủ yếu là
viêm phổi. Sau viêm phổi là viêm tiểu phế quản [9]; nghiên cứu của Lê Thị Nga
trong tổng số 45,67% trẻ dưới 12 tháng tuổi nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thì viêm
tiểu phế quản là 4,68%, viêm phổi là 50,48% [9], [14]. [23].
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. Thời tiếl
thay đổi thường xuyên và đột ngột cho nên trẻ có thể mắc bệnh quanh năm.
Bệnh có xu hướng tăng lên ở cuối mùa thu. Cùng với việc chăm sóc trẻ chưa
đầy đủ, sự thiếu hiểu biết về y tế, điều kiện kinh tế thấp kém, dẫn đến nhiễm
khuẩn hô hấp cấp tính ờ trẻ em chiếm tỷ lệ cao đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi.
1.1.5. Căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em
Đường thở là một trong những cơ quan thường xuyên tiếp xúc với môi
trường bên ngoài nên các vi sinh vật có khả năng gây bệnh như virus, vi khuẩn,
nấm, Mycoplasma, ký sinh vật đều có thể xâm nhập hoặc cư trú ở đường thở.
Phần lớn nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em là do nguyên nhân virus
vì virus có ái lực với đường hô hấp cao, khả năng miễn dịch của virus ngắn và
yếu. Những virus thường gặp là virus hợp bào hô hấp, virus cúm A,B,C; virus
á cúm. ở các nước đang phát triển như nước ta, nguyên nhân vi khuẩn vẫn
chiếm vị trí quan trọng trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em. Có rất
nhiều loại vi khuẩn có khả năng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nhưng các
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các vi khuẩn thường gây
s.
pneumoniae,
H.
influenzae,
s.
aureus, và trực khuẩn Gr(-) [10 .
ở một số nước đang phát triển, trẻ em phải chịu sự cư trú của 2 loại tác
nhân gây bệnh là s.pneumoniae và H.influenzae từ rất sớm ngay những ngày
đầu sau khi sinh. Một điều tra tại Goroka, Papua New Guinea ỏ’ 22 trẻ em từ khi
mới sinh cho thấy tỷ lệ mang s.pneumoniae và H.influenzae ở trẻ từ 0-10 ngày tuổi
là 36,4% và 9%; vào lúc 2 tháng tuổi, tỷ lệ này đã là 95,4% và 81,5% [9], [23],
Theo tác giả, s.pneumoniae và H.influemae phân lập được ở mọi lứa tuổi,
nhưng ở lứa tuổi từ 6-12 tháng là cao nhất. Kết quả này phù hợp với kếl quả
nghiên cứu của Đoàn Mai Phương và của Hoàng Thu Thủy [10 .
Các nghiên cứu về căn nguyên gây viêm phổi ở trẻ em các nước đang
phát triển cho thấy s.pneumoniae và H.influenzae là nguyên nhân hầu hết gây
viêm phổi ở trẻ em dưới 3 tuổi, S.aureus thường gây bệnh ở trẻ dưới 6 tháng
và cũng là nguyên nhân gây bội nhiễm sau sởi. Các trực khuẩn Grị-) là căn
nguyên chính gây viêm phổi ở trẻ sơ sinh.
1.1.6. Các yếu tô liên quan đến căn nguyên gây nhiễm khuẩn hô hấp
1.1.6.1. Tuổi
Trẻ em càng nhỏ thì có những đặc điểm giải phẫu sinh lý khác so với
người lớn. Sự nhỏ hẹp của khẩu tính đường thở, sự mỏng manh của niêm mạc
đường hô hấp, sự chưa hoàn chỉnh của các bộ phận hô hấp là các yếu tố có thể
dẫn đến viêm tiểu phế quản cấp và mãn. Các chất nhầy miễn dịch và các yếu
tố bảo vệ khác của trẻ còn kém cũng là nguyên nhân thường dẫn đến nhiễm
khuẩn nặng ở trẻ em.
Ngoài ra, yếu tố gel cũng rất quan trọng. Khả năng chống nhiễm khuẩn
có thể giảm do thiếu sót tại gel để sản xuất ra các yếu tố bảo vệ. Tuy nhiên cơ
chế bảo vệ cũng rất phức tạp. Vì vậy, khi 2 đứa trẻ cùng điều trị tác nhân trong
tính cả sự kém chức năng gan thận của chính lứa tuổi này [3], [18
1.2.2. Các phác đồ điều trị [1], [18], [25], [26], [32].
11
ị- Viêm họng cấp hoặc viêm amỉđan có mủ
- Điều trị bằng PenicillinV hoặc Amoxicillin
PenicillinV: 25- 50mg/kg/24h, chia 3-4 lần, thời gian điều trị 10 ngày.
- Hoặc Erythromycin 500mg uống 30- 50mg/kg/24h, chia 3-4 lần, thời
gian điều trị 10 ngày.
ở Việt Nam Str.pyogenes nhạy cảm với các Penicillin nhưng thường
kháng lại các Tetracycline và các Macrolid. Điều trị với PenicillinV 500mg
(trẻ em lOmg/kg, tối đa 500mg) bằng đường uống, 12h/ll/10 ngày hoặc dùng
liều duy nhất 900mg Benzathin Penicillin tiêm bắp.
WHO hướng dẫn dùng kháng sinh trong viêm họng liên cầu ở trẻ em như sau;
- Benzanthin- penicillin tiêm bắp 1 liều duy nhất 600.000UI
- Hoặc uống Amoxicillin, Ampicillin, PenicillinV trong 10 ngày
- Làm dịu họng bằng thuốc ho không độc hại
- Uống Paracetamol khi đau họng [5], [6], [8].
4- Viêm amidal tái phát
- Điều trị bằng Penicillin V
• Viêm thanh khí phê quản cấp [7]
- Không có chỉ định dùng kháng sinh.
- Những trường hợp nhẹ và vừa không gây tắc nhiều đường thở, điều trị
đầu tiên bằng Dexamethason 0,15 - 0,25mg/kg.
- Những trường hợp vừa và nặng có triệu chứng tắc nghẽn đường thở rõ,
tiêm tĩnh mạch Dexamethason với liều 0,5 - Img/kg (tối đa là lOmg), cộng
thêm khí dung Adrenalin với liều 0,05ml/kg/lần (tối đa là 0,5ml) dùng dung
dịch 1% đă pha loãng thành 3ml và khí dung Budesonid hoặc Beclomethason.
1.2.2.1 Viêm đường hô hấp trên trên
12
I.2.2.2. Viêm đường hô hấp dưới
chậm chia 2 lần trong ngày và Amikacin: Liều 15mg/kg/24giờ, tiêm bắp chia
làm 2 lần trong ngày.
• Nếu nghi là do tụ cầu vàng
- Cloxacillin loại 0,5g: Liều lượng lOOmg - 200mg/kg/24giờ. Tiêm tĩnh
mạch, chia 2 lần trong ngày.
- Hoặc Oxacillin loại Ig: Liều lượng lOOmg - 200mg/kg/24giờ. Tiêm tĩnh
mạch chia 2 lần trong ngày.
- Hoặc Vancymycin loại 0,5g: Liều dùng 30 - 50mg/kg/24giờ, pha vào
huyết thanh mặn đẳng trương 9%0 vừa đủ truyền trong 1 giờ (tốc độ từ 15 - 20
giọt trong 1 phút).
- Hoặc Cefoperazon loại Ig: Liều dùng 100mg/kg/24giờ, chia 2 lần trone
ngày, pha loãng tiêm tĩnh mạch chậm.
• Nếu nghi viêm phổi do Haemophylus influenzae
Tuổi thường từ 3 tháng đến 4 tuổi
Chloramphenicol loại 0,5g hoặc Ig: Liều lượng 30- 50mg/kg/24giờ, pha
loãng tiêm tĩnh mạch chậm (trong vòng 5 phút), chia làm 2 lần trong ngày.
4- Viêm tiểu phế quản cấp tính
> Điều trị hỗ trợ [lĩ
- Làm thông ngay đường thở, hút đờm dãi, đặt trẻ nơi thoáng khí.
- Cho thở oxy
- Cho thở khí dung có thuốc giãn phế quản, vỗ rung ngực và dãn lưu tư
thế để thông thoát đờm xuất tiết.
- Cho thuốc giãn phế quản nếu cơn co thắt phế quản rõ, Theophylin hay
Salbutamol 2 -4 mg/kg/ 6-8h cho 1 lần hay Epinephrin 1 %, tiêm dưới da 0,01 ml/kg.
14
- Corticoid: Prednisolon 3-5mg/kg/ngày ttmc trong ngày có khó thở nặng,
các ngày sau cho Prednisolon 2mg/kg/ngày, uống.
- Khi có cơn ngừng thở đặt nội khí quản, hô hấp hỗ trợ.
- Điều trị nhiễm toan bằng Natribicacbonat
- Cung cấp cho trẻ đủ dịch bằng đường miệng hay truyền.
lliều duy nhất hàng ngày.
- Hoặc Ceíotaxim 100 - 150 mg/kg Gân nặng, tiêm tĩnh mạch, chia liều
này làm 4 lần tiêm trong 24h.
- Hoặc Chloramphenicol 80mg/kg cân nặng, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh
mạch, chia liều này làm 4 lần tiêm trong 24h/10 ngày. Có thể dùng
Amoxicillin nếu có tác dụng.
1.2.3. Tình hình sử dụng kháng sinh hiện nay
Hiện nay có nhiều loại kháng sinh mới có hiệu lực cao ra đời và đã được
đưa vào sử dụng. Hệ thống dịch vụ y tế góp phần không nhỏ vào việc chăm
sóc sức khỏe cộng đồng, song cũng ảnh hưởng nhiều đến các chương trình y lế
trong đó có chương trình ARI [23].
Sự lạm dụng kháng sinh ngày càng nhiều, ở Việt Nam, một cuộc điều tra
về việc sử dụng kháng sinh được tiến hành tháng 7/1994 tại 37 điểm bán thuốc
tại Hà Nội cho thấy chỉ có 18,4% người tiêu dùng mua thuốc kháng sinh theo
đơn bác sỹ và chỉ có 33% số người biết một số tai biến bất kỳ của kháng sinh.
Điều tra của chương trình ARI năm 1998, có 88,2% các bà mẹ tự mua thuốc
mà không hỏi ý kiến của cán bộ y tế. Kháng sinh có thể tự mua được ỏ’ bất cứ
đâu mà không cần phải có đơn thuốc, bệnh nhân tự dùng kháng sinh với liều
lượng và thời gian tuỳ thích mà không có sự chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngay cả khi
có đơn, nhiều loại kháng sinh cũng được thầy thuốc kê đcfn theo kinh nghiệm mà
không có chuẩn đoán vi khuẩn. Sử dụng kháng sinh không đúng sẽ gây nhiều
16
hậu quả : bệnh không khỏi, trầm trọng thêm và nhất là chọn lọc ra nhiều dòng vi
khuẩn kháng kháng sinh gây khó khăn cho điều trị nhiễm khuẩn sau này [23],
1.2.4. Tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn
Việc tự ý mua thuốc, dùng thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc đặc biệt
là kháng sinh trong điều trị là nguyên nhân gia tăng tính kháng thuốc của vi
khuẩn. Theo một số tác giả nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của chủng
vi khuẩn phân lập được tại Bệnh Viện Nhi trung ương năm 2003 thì tình hình
đề kháng của 3 loại vi khuẩn hay gặp trong NKHH như sau [23]
Erythomycin
90,0%
47,5%
0,0%
Gentamycin
-
40,0%
0,0%
Tobramycin
-
-
0,0%
Vancomycin
-
-
0,0%
s.
pneumoniae không còn nhạy cảm với Penicillin, ở một số nước phát
triển như: Anh, Hồng Kông, Italia, Mỹ, hệ
s.
pneumoniae kháng Penicillin
/ Ặ liồ .ồ '^ \
/r'/
I
J
tăng nhanh tại Mỹ từ 4% (1992 ) đến 37% (1999) và 55,7% năm 2001. Tại
Việt Nam theo nghiên cứu của một số tác giả của chương trình ASTS thì hệ
s.pneumoniae không những kháng Penicillin mà đã kháng lại nhiều kháng
sinh khác như : Erythromycin, Cloramphenicol và CTM [23], [9], [10], [14].
Người ta thấy rằng các chủng s.pneumoniae đã kháng Penicillin thì
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.2.1. Cỡ mẫu
Dựa trên phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên:
_ r y
1
,,
y i — Ả ( a ! 2 ) j2
d
Trong đó:
n; Cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
P; Tỷ lệ ước tính dựa trên nghiên cứu thử hoặc ước tính từ một nghiên
cứu trước đó.
d: Khoảng sai lệch cho phép giửa tỷ lệ thu được từ mẫu và quần thể
a; Mức ý nghĩa thống kê (a= 0,05 khi đó thì độ tin cậy bằng 95%)
19
2^ /2 • z /2 » z /2 *^^ỗ '^ới giá trị a
được chọn. Với mức ý nghĩa a= 0,05 thì 2^ /2 = 1-96
Trong công thức này, chúng tôi dự kiến sai số cho phép: d - 5%
Thay vào công thức ta có:
„ = l, 9 6 2 x M ì ầ ^ ) = 385
0,05^
- Phương pháp lấy mẫu:
Cỡ mẫu là 385 chiếm khoảng 8,3% tổng số bệnh án (4640), chúng tôi áp
dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, cứ 12 bệnh án lấy 1 cho đến
đủ 385 bệnh án.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Hồi cứu trên những bệnh án lưu tại phòng lưu trữ hồ sơ bệnh án
- Lập phiếu ghi thông tin khảo sát theo mẫu thống nhất (Phụ lục 1 )
2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
*1* Các yếu tố liên quan đến bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính