THẢO LUẬN VĂN TỰ CHỮ HÁN - Pdf 29

THẢO LUẬN VĂN TỰ CHỮ HÁN
Giảng viên: Phạm Thị Gái
Tên đề tài thảo luận: Hình Thanh trong Lục Thư
I. Cơ sở để Hình Thanh ra đời:
Tượng hình, chỉ sự, hội ý đều thuộc loại chữ biểu ý thuận tuý. Nếu chỉ dung
ba phép tạc tự này thì không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển ngày càng cao
của xã hội. Người ta cho rằng, văn tự muốn phát triển tất phải liên hệ đến thanh âm
và ngữ ngôn. Ở các nước trên thế giới, chữ viết đều phát triển theo khuynh hướng
từ biểu ý đến biểu âm. Do đó, chữ hán cũng không ra ngoài lệ đó. Nhưng ở đây, nó
không phát triển thuần tuý theo con đường biểu âm mà lại sinh ra một hình thức
trung gian vừa biểu ý, vừa biểu âm. Đó là cơ sở đầu tiên để chữ Hình thanh ra đời.
Chúng ta thấy rằng, có nhiều sự vật và hiện tượng không thể dung phép
tượng hình hoặc hội ý để diễn tả được. Như “ngựa” và “lừa” có hình dạng rất giống
nhau, thì khồn biết phái vẽ thế nào để đặt ra 驢 (lư: lừa). Dùng phép hội ý để biểu
thị khái niệm “lừa” cũng khó. Điều đó, bắt buột người ta phải nghĩ ra một phép
mới để đáp ứng nhu cầu trên.
Ngoài ra, có nhiều ý kiến cho rằng phép giả tá là một lối “tạo chữ mà không
thêm chữ” bằng cách mượn chữ này để ghi chữ kia. Khi đó xét về mặt văn tự khi
tiến hành vay mượn. Như thế người ta đã vay mượn toàn bộ một chữ và với kết cấu
hình thể trọn vẹn của nó. Khi vay mượn người ta chú ý đến mặt âm đọc của chữ và
cơ sở của việc vay mượn chính là dựa vào nguyên tắc đồng âm. Nhưng theo Đặng
Đức Siêu, với loại ô chữ vuông tượng hình biểu ý như văn tự Hán, hình thể kết cấu
trọn vẹn của chữ được vay mượn vẫn tác động đến quá trình nhận thức của người
sử dụng chữ vay mượn. Ở đây ông cho rằng, do thói quen đồng nhất tự với từ và
với quan niệm nghĩa từ tiềm tang trong chữ, người sử dụng văn tự Hán dễ đi đến
quan niệm không chính xác “một chữ mang nhiều nghĩa”. Cái chữ đó vốn là chữ
tượng hình hoặc chỉ sự hay hội ý (là những loại chữ đã hình tượng hoá nội dung ý
tưởng của từ chứ không phải là một ký hiệu ghi âm đơn giản thuần nhất nên rất dễ
gây ra nhầm lẫn).
Ví dụ: Những người đã quen văn tự tượng hình biểu ý, khó có thể quan niệm
rằng: “馬 mã: chữ tượng hình miêu tả con ngựa lại mang nhiều nghĩa khác nhau,

Trong các bộ Tự điển nổi tiếng của Trung Quốc đều lấy Thuyết Văn
Giải Tự (說文解字) của Hứa Thận (許青) để giải thích chữ hình thanh.
2. Quá trình hình thành và phát triển
Chữ hình thanh, loại chữ kết hợp được cả hai xu hướng biểu âm và
biểu ý trong cách cấu tạo, bao giờ nó cũng có hai bộ phận: Bộ phận chỉ ý nghĩa của
chữ (hình) và bộ phận chỉ âm đọc của chữ (thanh). Chữ hình thanh chiếm một phần
chủ yếu trong kho văn tự Hán, nhưng nó không phải là một cái gì riêng biệt, đọc
đáo của văn tự Hán. Hay nói cách khác, hình thanh không phải là xảnh phẩm của
văn tự Hán. Chúng ta thấy rằng, biện pháp tạo chữ mới này cũng đã được sử dụng
trong chữ Ai Cập cổ. Nhưng với văn tự Hán. Chữ hình thanh đã được xây dựng
thành một hệ thống khá hoàn chỉnh. Sau khi biện pháp giả tá được vận dụng rộng
rãi, tạo thành hiện tượng “một chữ nhiều nghĩa” gây ra khó khăn cho việc nhận
thức và sử dụng văn tự Hán, người ta đã hiệu chỉnh lại bằng cách thêm ký hiệu vào
chữ giả tá, tạo ra hàng loạt chữ mới thuộc loại hình thanh.
刃 nhận
青 認 青 忍 青
Nhận nhận nhẫn nhẫn nhẫn
刃 nhận: chỉ sự: Lưỡi dao, được dùng kèm với các ký hiệu có âm Nhận sau đây:
青 nhận: Đơn vị đo lường thời cổ (人 nhân ký hiệu liên quan đến con người)
青 nhận: Đông đúc, hàng đoàn ( ký hiệu liên quan đến động vật)
青 nhận: khâu vá, buột thắt (青 ký hiệu liên quan đến tơ chỉ)
青 nhận: lấy gỗ chèn bánh xe cho nó không đi được ( 車 chỉ xe cộ)
忍 nhẫn: chịu đựng (心 liên quan đến hoạt động tinh thần)
Các chữ hình thanh được nêu ra trên đây, qua khảo sát chúng ta thấy chúng
chỉ liên quan với nhau về một âm đọc (tức cùng một ký hiệu chỉ âm)
Trong quá trình vận dụng phép hình thanh để tạo chữ mới, một số hiện
tượng đã nãy sinh do tính nhiều nghĩa của từ, có những từ được sử dụng với nhiều
nghĩa liên quan với nhau trên những nét cơ bản nhưng khác nhau về một sắc thái,
ngọn ngành, phạm vi ứng dụng. Trên cơ sở những nghĩa này, một số từ mới đã
hình thành. Người ta cũng sử dụng phép hình thanh để tạo chữ cho những từ đó.

Thí dụ: 剛 cương 岡 ký hiệu chỉ âm (thanh)
青 ký hiệu chỉ ý (hình)
c. Hình (ký hiệu chỉ ý) bên trên, thanh (ký hiệu chỉ âm) bên dưới
Thí dụ:
芳 phương: cỏ thơm - chỉ ý:青, chỉ âm: 方
峯 phong: ngọn núi - chỉ âm:青, chỉ ý: 山
d. Hình (ý) bên dưới, thanh bên trên:
Thí dụ:
忠 trung - chỉ âm:中, chí ý: 心
婆 bà - chỉ âm: 波, chỉ ý: 女
e. Hình (ý) bên ngoài, thanh (âm) bên trong:
Thí dụ:
固 cố : vững bền- chỉ ý:青, chỉ âm: 古
閣 các: lầu, gác- chỉ âm:各, chỉ ý: 門
g. Hình (bên trong) thanh bên ngoài
Thí dụ:
鳳 phượng - chỉ âm:青, chỉ ý: 鳥
h. Chỉ ý ở giữa, chỉ thanh ở hai bên:
Thí dụ:
青 biện: bện, đan - chỉ ý:青, chỉ âm ở hai bên:
k. Hình ở hai bên, thanh ở giữa:
Thí dụ: 術 thuật: đường đi trong ấp - 朮 truật: chỉ âm ( tr – ch),行: chỉ ý ở
hai bên.
3.Nhận xét:
- 6 kiểu trên chưa phản ánh được sự liên hệ về mặt hình thể giữa thanh
và hình trong chữ hán
Ví dụ:
寶 bảo: quý báu
疆 cương: biên giới: thổ:土
Trong đó kiểu 1 phổ biến nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status