BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ VÂN LY
NGHIÊN CỨU
THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ THỬ
ĐỘC TÍNH CẤP CỦA CÂY SÂM CAU
(Curculigo orchioides Gaertn.) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SỸ KHÓA 65
HÀ NỘI -2015
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ VÂN LY
NGHIÊN CỨU
THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ THỬ
luôn động viên, khích lệ và hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Ly
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 2
1.1. VỊ TRÍ PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT, PHÂN BỐ CỦA CHI
CURCULIGO GAERTN. 2
1.1.1. Vị trí phân loại của chi Curculigo Gaertn. 2
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố chi Curculigo Gaertn. 2
1.2. CÂY SÂM CAU CURCULIGO ORCHIOIDES GAERTN. 4
1.2.1. Đặc điểm thực vật và phân bố cây sâm cau 4
1.2.2. Thành phần hóa học 5
1.3. ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CURCULIGO
ORCHIODES GAERTN. 10
1.3.1. Độc tính 10
3.3.1. Kết quả xác định hàm ẩm dƣợc liệu và cao dƣợc liệu 40
3.3.2. Kết quả thí nghiệm 41
BÀN LUẬN 43
VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC 43
VỀ CHẤT PHÂN LẬP ĐƢỢC 43
VỀ ĐỘC TÍNH CẤP 45
KẾT LUẬN 46
ĐỀ XUẤT 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Kết quả định tính các nhóm chất có trong thân rễ sâm cau bằng phản ứng
hóa học 26
Bảng 2: Kết quả định tính cắn các phân đoạn bằng phản ứng hóa học 28
Bảng 3: Bảng giá trị R
f
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Hình ảnh Curculigo orchioides Gaertn. [phụ lục 1] 4
Hình 2: Sơ đồ chiết xuất và phân đoạn các chất từ thân rễ sâm cau 27
Hình 3: Sắc kí đồ sắc kí lớp mỏng định tính cắn phân đoạn n-hexan với hệ III 29
Hình 4: Sắc kí đồ sắc kí lớp mỏng định tính cắn phân đoạn ethyl acetat với hệ II 31
Hình 5: Sắc kí đồ sắc kí lớp mỏng định tính cắn phân đoạn n-butanol với hệ III 32
Hình 6: Sắc kí đồ sắc kí lớp mỏng định tính sự có mặt của hợp chất phenolic trong 2
cắn n-hexan và ethyl acetat 33
Hình 7: Sắc kí đồ sắc kí lớp mỏng thể hiện sự có mặt của alcaloid trong thân rễ sâm
cau 34
Hình 8: Quy trình phân lập hợp chất SC1 từ cắn n-hexan của thân rễ sâm cau 35
Hình 9: Sắc kí đồ định tính sự có mặt của SC1 phân lập đƣợc trong cắn phân đoạn
n-hexan và hợp chất β - sitosterol chuẩn 35
Hình 10: Công thức cấu tạo hợp chất SC1 β-sitosterol 36
Hình 11: Quy trình phân lập hợp chất SC2 từ cắnethyl acetat của thân rễ sâm cau 37
Hình 12: Sắc kí đồ định tính sự có mặt của SC2 phân lập đƣợc trong cắn phân đoạn
ethyl acetat 38
Hình 13: Công thức cấu tạo SC2 Orcinol-3-O-β-D-glucosid 40
m-RNA : ARN thông tin
r-RNA : ARN ribosome
SKLM, TLC : Sắc ký lớp mỏng
TT : Thuốc thử
UV : Phổ tử ngoại
VEGF : Yếu tố tăng trƣởng nội mô mạch máu
δ : Độ dịch chuyển hóa học (đơn vị tính là ppm)
d : Đỉnh đôi
s : Đỉnh đơn
a
: Đo trong CD
3
O
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) thuộc họ Tỏi voi lùn
(Hypoxidaceae). Trong y học cổ truyền Trung Quốc, thân rễ sâm cau đƣợc tán
thành bột hoặc, sắc nƣớc làm thuốc bổ, trị suy nhƣợc cơ thể, đau lƣng, viêm khớp
và viêm thận mạn tính. Ở Ấn Độ, Nepal và Philippin thân rễ sâm cau dùng làm
thuốc lợi tiểu, tăng cƣờng chức năng tình dục, chữa bệnh ngoài da, loét dạ dày tá
tràng, trĩ, lậu…Sâm cau còn là thành phần chính trong bài thuốc cổ truyền điều trị
sỏi tiết niệu của Ấn Độ [16], [56].
Theo Y học cổ truyền Việt Nam, sâm cau có vị cay, tính ấm, có tác dụng trợ
dƣơng, trừ hàn, cƣờng dƣơng, mạnh gân xƣơng. Đồng bào các dân tộc thƣờng sử
dụng thân rễ cây sâm cau (thƣờng gọi là tiên mao) nhƣ một loại thuốc bổ - có thể
dùng riêng hoặc kết hợp cùng với các vị thuốc khác - để điều trị các bệnh nhƣ: liệt
+ Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)
+ Lớp Hành (Liliopsida)
+ Phân lớp Hành (Liliidae)
+ Bộ Haemodorales
+ Họ Tỏi voi lùn (Hypoxidaceae)
+ Chi Curculigo Gaertn.
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố chi Curculigo Gaertn.
Đặc điểm thực vật chi Curculigo G.
Cây thảo, sống lâu năm thƣờng có thân rễ củ. Lá hình ngọn giáo hoặc hình dải,
thƣờng xếp nếp, thƣờng mọc từ rễ. Cụm hoa chùm, hình trứng hoặc hình đầu, ở
ngọn một cán hoa mọc từ rễ, dài nhiều hay ít. Hoa có cuống hoặc không, màu vàng,
bao hoa đính trực tiếp trên bầu hoặc trên một mỏ dài nằm trên bầu. Lá đài 3, tràng
3, rời, hầu nhƣ giống nhau về hình dạng và kích thƣớc, trải ra thành hình sao. Nhị 6
xếp hai dãy, không có chỉ nhị hoặc trên một chỉ nhị dài; bao phấn dài có 2 ô sát
nhau, song song, hƣớng trong. Bầu hạ, 3 ô có nhiều noãn. Quả không mở, có vỏ quả
mỏng có mỏ hoặc không [6].
Phân bố của chi Curculigo G.
3
Trong chi Curculigo thì loài Curculigo orchioides Gaertn đƣợc phân bố rộng
rãi, nó đƣợc tìm thấy ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia,
Malaixia, Philippin, Indonexia, Pakistan, Papua New Guinea…Trong “Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Đỗ Tất Lợi chỉ đề cập đến 1 loài là Curculigo
orchioides Gaertn. Ở nƣớc ta, Curculigo orchioides Gaertn hay còn gọi là sâm cau
(ngải cau…) phân bố ở Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ba Vì, Hòa Bình, Ninh Bình,
Hà Nam, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Lâm Đồng, Bà Rịa-Vũng Tàu [12],
[17], [6].
Trong “Cây cỏ Việt Nam” theo Phạm Hoàng Hộ, chi CurculigoGaertn. ở Việt
thẳng, thót lại hai đầu, mang nhiều rễ phụ [18], [37]. Lá 3-6 hình , mọc tụ họp thành
túm, xếp nếp tựa nhƣ lá cau, dài 20 -30 cm, rộng 2,5 – 3 cm, gốc thuôn, đầu nhọn,
hai mặt nhẵn gần nhƣ cùng màu, gân song song rất rõ, bẹ lá to và dài, cuống lá dài
khoảng 6 -10 cm.
Cụm hoa nằm trên một trục ngắn và mảnh giữa các bẹ lá, gồm 3– 5 hoa màu
vàng. Lá bắc hình trái xoan nhọn, lá đài 3 có lọng dài ở lƣng; tràng 3 cánh nhẵn; nhị
6 xếp thành hai dãy, chỉ nhị ngắn; bầu hình thoi có lông rậm kéo dài thành mỏ; đầu
nhụy hình trái xoan, chia 3 nhánh mập [2], [12], [16], [6]. Quả nang, thuôn, dài 1,2
– 1,5 cm chứa 1 – 4 hạt. cây sinh trƣởng tốt trong mùa mƣa ẩm, ra hoa quả hàng
năm, mùa hoa là tháng 5 -7 [16].
Bộ phận dùng: thân rễ.
Phân bố: ở nhữngvùng núi cao 1600m, phía Nam và Tây Nam Trung Quốc;
Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Myanmar, Pakistan, Papua New
Guinea, Philippines, Thái Lan, Việt Nam. Ở Việt Nam: cây mọc trên các đồi cỏ nơi
ẩm mát vùng núi nhƣ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng [6].
Hình 1: Hình ảnh Curculigo orchioides Gaertn. [PL1]
5
1.2.2. Thành phần hóa học
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của sâm
cau, các hợp chất đƣợc công bố bao gồm: phenolic glycosid [75], [81], [83]; một
hợp chất lignan [25]; các hợp chất aliphatic hydroxyl ketones [49], [50], [51], [53];
các saponin thuộc nhóm cycloartan và nhóm ursan [52], [62], [76], [77], [78], [79],
[80], [84]; flavone [56]; alkaloid [55], [56], [62]. Bên cạnh đó cây còn chứa các
thành phần khác: steroids; đƣờng tự do nhƣ glucose, manose, xylose; mucilage;
hemicelluloses; polysaccharid và glucoronic acid [28], [56].
1
R
3
R
5
Tài liệu
Curculigoside (1)
OH
H
OCH
3
[40]
Curculigoside B (2)
OH
H
OH
[33]
Curculigoside C (3)
OH
OH
OCH
3
[33], [68]
Curculigoside D (4)(Orchioside A)
H
OH
OCH
3
Curculigine E (C
14
H
18
Cl
2
O
7
) (10)
R
1
= OCH
3
; R
2
= CH
32
Curculigine F (C
14
H
18
Cl
2
O
7
) (11)
R
2
O
8
) (13)
R
1
= H ; R
2
= Cl
5
Curculigine G (14)
R
1
= OCH
3
; R
2
= Cl ; R
3
= H
6
Orcinoside H (15)
R
1
= OCH
3
; R
2
= H ; R
8
Các triterpens tìm thấy trong thân rễ sâm cau đa số là thuộc nhóm
cycloartene, có duy nhất một triterpen thuộc nhóm ursan có tên là: 31-methyl-3-
oxo-20-ursen-28-oic acid (24) [16], [55].Misra Triguna N., (1990) đã phân lập
đƣợc curculigol từ thân rễ C.orchioides Gaertn và xác định cấu trúc của hợp chất
này là:(24-methylcycloart-7-en-3 β, 20-diol) (25) [16], [52].
Xu Junping và Xu Rensheng (1992) đã xác định đƣợc cấu trúc của aglycon
mới là curculigenin A, B, C [78]. Sau đó 13 curculigosaponin đƣợc tìm ra và đƣợc
ký hiệu từ A đến M, trong đó curculigosaponin A J đều mang khung chung của
curculigenin A; curculigosaponin K M có phần genin là curculigenin B [76], [78]. STT
Hợp chất
R
1
R
2
Tài liệu
1
Curculigenin A (26)
H
H
[78]
8
Curculigosaponin G (33)
Glc(2-1)Rham
H
[78]
9
Curculigosaponin H (34)
Glc(2-1)Rham
Ara(p)
[78]
10
Curculigosaponin I (35)
Glc(2-1)Rham(3-1)Glc
H
[78]
11
Curculigosaponin J (36)
Glc(2-1)Rham(3-1)Glc
Ara(p)
[78]
Curculigenin A
9
một hợp chất lignan [25].
Tiwari và Misra (1976) tìm thấy trong thân rễ loài C.orchioides hai hợp chất
flavonoid, chúng đều thuộc nhóm flavon[55], [56]. (R = α-L-Xyl-(4-1)-β-D-Glc) 5,7-
dimethoxymyricetin-3-O-α-L-xylopyranosyl-
3’,4’,5’-trimethoxy-6,7-
methylendioxyflavon (51)
Curculigenin C (37)
Curculigenin B
10
(4 1)-β-D-glucopyranoside (50)
Có 1 alcaloid duy nhất đƣợc Rao và cộng sự (1978) phân lập đƣợc từ thân rễ sâm
cau là lycorine. Tuy nhiên, hàm lƣợng alcaloid này ở chi Curculigo vẫn chƣa đƣợc
nghiên cứu kỹ. Ngoài ra còn có các hợp chất chứa nitơ khác cũng đã đƣợc tìm thấy
ở loài C.orchioides.
STT
Hợp chất
Công thức
Tài liệu
1
Lycorine (52)
[16],
[62][55].
2
Thông thƣờng khi uống sâm cau ở liều khuyến cáo không gây ra bất kỳ tác
dụng phụ hay độc tính nào. Tuy nhiên nếu uống nhiều trong khoảng thời gian dài có
thể xuất hiện một số tác dụng nhƣ ra mồ hôi lạnh, tê cóng chân tay. Vì vậy, chỉ sử
dụng ở mức liều mà đã chắc chắn tính an toàn của chế phẩm. Chống chỉ định với
những ngƣời thiếu âm, nội nhiệt, những ngƣời bị nhiễm lạnh do các tác nhân ngoại
cảnh [56].
Jiao và cộng sự cho rằng tác dụng gây độc cho gan có thể do thành phần
triterpenoid ketone có trong dịch chiết ethanol [39].
Nghiên cứu về độc tính của C.orchioides tại Việt Nam còn chƣa nhiều và đa số
các nghiên cứu đều thực hiện với dạng trà tan Tiên mao 3 g/gói, do khoa Dƣợc bệnh
viện YHCT Trung ƣơng sản xuất. Đề tài do Dƣơng Minh Sơn và cộng sự thực hiện
(2007) cho kết quả nghiên cứu độc tính cấp trên 5 nhóm chuột trong 7 ngày với
mức liều tăng dần từ 10 g/kg tới 30 g/kg là đa số các chuột chỉ giảm hoạt động, nằm
và ngủ trong 2-3 giờ, sau đó tất cả đều hoạt động và ăn uống bình thƣờng, không có
chuột nào chết. Do đó nghiên cứu vẫn chƣa xác định đƣợc liều LD
50
bằng đƣờng
uống. Kết quả thử độc tính bán trƣờng diễn trên thỏ với mức liều uống 9 g/3
lần/ngày, theo dõi trong 6 tuần, chƣa thấy có các dấu hiệu thay đổi về các thành
phần máu và chức năng gan, thận có ý nghĩa thống kê so với trƣớc điều trị [14].
Kết quả “Khảo sát tính an toàn của trà Tiên mao trên bệnh nhân bị rối loạn cƣơng
dƣơng.” của Trần Quốc Bình và Dƣơng Minh Sơn thực hiện (2011) trên 31 bệnh
nhân bị mắc bệnh rối loạn cƣơng dƣơng tại khoa ngoại bệnh viện Y học cổ truyền
Trung ƣơng trong 3 tháng cho thấy uống trà tiên mao với liều 9 g chia 3 lần/ngày
không gây ra tác dụng không mong muốn, không làm thay đổi các chỉ số cận lâm
sàng, huyết học, sinh hóa [4].
1.3.2. Tác dụng sinh học
Tác dụng chống oxy hóa
Trong nghiên cứu in vitro của Bafna và Mishra (2005) đã thấy dịch chiết
methanol của thân rễ C. orchioides có hiệu quả rất tốt trong việc dọn sạch các gốc
, sau đó cho dùng dịch chiết methanol từ thân rễ C.orchioides cho thấy:
nồng độ của AST, ALT, ALP, GGT, lipid, triglyceride, cholesterol trong huyết
thanhgiảm tới mức bình thƣờng [70]. Ngoài ra, Venukurma còn chỉ ra cơ chế bảo vệ
gan của dịch chiết methanol là thông qua các tác dụng ổn định màng tế bào gan;
ngăn chất độc từ ngoài nhiễm vào; tăng cƣờng tổng hợp rRNA và protein nhằm thúc
đẩy phục hồi các tế bào gan bị tổn thƣơng, kích thích sự phát triển các tế bào gan
mới; ức chế sự biến đổi gan thành tổ chức xơ, giảm sự hình thành các sợi collagen
[66], [69].
Rajesh và cộng sự (2000) cũng nghiên cứu về Kamilari có chứa thành phần là
C.orchioides, có hiệu quả tốt trong hỗ trợ điều trị xơ gan do rƣợu [61].
13
Tác dụng điều hòa miễn dịch
Nghiên cứu của Bafna và cộng sự chỉ ra rằng dịch chiết methanol của thân rễ
C.orchioides có tác dụng làm tăng số lƣợng bạch cầu, tăng lƣợng kháng thể dịch thể
ở những chuột đƣợc điều trị ức chế miễn dịch bằng cyclophosphamide [20].
Cácglucosid phenolic từ sâm cau đóng vai trò khá quan trọng trong việc điều hòa
miễn dịch cơ thể do chúng có tác dụng làm tăng hàm lƣợng kháng thể dịch thể [42].
Lacaille-Dubois và Wagner cũng nghiên cứu tác dụng sinh học của các
curculigosaponin – cycloartane từ thân rễ sâm cau, kết quả cho thấy các
curculigosaponin kích thích sự tăng sinh tế bào lympho ở lách chuột nhắt trắng, tác
dụng của curculigosaponin trên kháng thể vẫn chƣa rõ rệt [41], [56]. Các
curculigosaponin C và F thúc đẩy sự tăng sinh tế bào lympho ở lách chuột nhắt
trắng, còn curculigosaponin G làm tăng trọng lƣợng tuyến ức in vivo ở chuột nhắt
trắng [16], [66], [77].
Hoạt tính tăng cường chức năng sinh lý
Dịch chiết ethanol của thân rễ Curculigo orchioides có tác dụng kích thích sinh
dục đáng kể thỏ đực, làm tăng lƣợng glycogen, tăng độ ẩm ở tử cung của chuột cái
newport, Staphylococcus aureus và một số chủng nấm nhƣ Fusarium moniliforme,
Fusarium solani, Aspergillus flavus, Cladosporium spp. [38].
Dịch chiết nƣớc của C.orchioides có tác dụng chống lại tác dụng gây bệnh của
một số chủng tụ cầu Gram (+) nhƣ: Staphylococcus aureus, Staphylococcus
epidermidis; các chủng Gram (-) nhƣ: Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa,
Salmonella typhimurium và có tác dụng chống nhiễm trùng nhƣ một thuốc kháng
khuẩn [54].
Tác dụng kháng histamine
Dịch chiết ethanol của thân rễ sâm cau có tác dụng chống co thắt hồi tràng cô lập
ở chuột lang gây bởi histamine. Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng dịch chiết có
tác dụng bảo vệ chống lại cơn co thắt khí quản trên chuột lang. Các tiêu chí này
phần nào cho thấy hiệu quả trong việc điều trị hen [16], [58].
Tác dụng hạ đường huyết
Dịch chiết nƣớc và dịch chiết ethanol sâm cau đều có tác dụng chống tăng đƣờng
huyết trong điều kiện bình thƣờng và trong điều kiện tăng đƣờng huyết do alloxan
trên chuột cống. Tác dụng hạ đƣờng huyết phụ thuộc liều của dịch chiết đã đƣợc so
15
sánh với glimepiride - thuốc điều trị tiểu đƣờng đƣờng uống, liều 500 µg/kg [26],
[46].
Tác dụng trợ đẻ
Sharma và cộng sự (1975) đã quan sát, nghiên cứu tác dụng trợ đẻ của các hợp
chất flavon glycoside từ sâm cau [67]. Các thử nghiệm trên chuột cống, chuột lang
và thỏ đã cho thấy hợp chất flavon glycoside có tác dụng kích thích, co bóp tử cung
mạnh, vì vậy có tác dụng hỗ trợ trong quá trình sinh đẻ của phụ nữ [31], [66]
Hoạt tính chống ung thư:
Dịch chiết sâm cau đã đƣợc Gupta (2005) phát hiện có tác dụng ức chế tế bào
ung thƣ phổi dòng tế bào MCF-7 [35].
thích. Thân rễ sâm cau ép lấy nƣớc có tác dụng chống nhiễm trùng, làm lành vết
thƣơng, hoặc có thể trộn lẫn với nƣớc ép tỏi dùng nhỏ mắt để trị mù lòa [28], [56].
Lá của sâm cau đƣợc biết là có đặc tính chống ung thƣ [28], [56]. Các thầy lang Ấn
Độ đã sử dụng sâm cau để điều trị rối loạn niệu nhƣ tiểu khó, tiểu ra máu, lậu và
giang mai. Lấy thân rễ sâm cau đập nát cùng với quả ajwain (một loại quả của loài
Trachyspermum ammi, Fam. Umbelliferae) nghiền, đem sắc, có tác dụng chống bất
tỉnh ở trẻ em. Tại Mariana, sâm cau đƣợc sử dụng nhƣ một loại thực phẩm. Tại
Philippin, thân rễ sâm cau đƣợc sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với các loại thuốc
khác và đƣợc dùng nhƣ một loại thuốc bổ, lợi tiểu và kích thích tình dục; thân rễ giã
nát đắp trên da để trị ngứa [56].
Tại Việt Nam, cây sâm cau đƣợc trồng làm cảnh, thân rễ đƣợc dùng làm thuốc
[6].Thƣờng dùng chữa nam giới tinh lạnh, liệt dƣơng, phụ nữ đái đục, bạch đới;
ngƣời già đái són, lạnh dạ, kém ăn; thần kinh suy nhƣợc; phong thấp, lƣng gối lạnh
đau, vận động khó khăn [2], [9], [16], [6] Ngày dùng 6 -12 g phối hợp với các vị
khác dạng thuốc sắc hay ngâm rƣợu.
Phụ chú: Tiên mao dùng nhiều gây cƣờng dƣơng, làm tinh hao kiệt sức, ngƣời hƣ
yếu cấm dùng. Uống tiên mao thì kiêng ăn thịt trâu bò [9], [6].
Bài thuốc có sâm cau:
BT1: Chữa liệt dƣơng do rối loạn thần kinh chức năng [16].
17
Sâm cau 8g, sâm bố chính, hoài sơn, trâu cổ, kỷ tử, ngƣu tất, tục đoạn, thạch hộc
mỗi vị 12 g, cam thảo nam, cáp giới, ngũ gia bì mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một
thang
BT2: Chữa phong thấp, lƣng lạnh đau, thần kinh suy nhƣợc, liệt dƣơng
[12], [16].
Sâm cau 50g thái nhỏ sao vàng, rƣợu trắng 650 ml, ngâm trong 7 ngày hơn. Mỗi
ngày uống 2 lần vào trƣớc bữa ăn chính mỗi lần 25-30 ml.