MỤC LỤC
Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy
muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại
chúng một cách có khoa học. 22
1.3.1.1 Nguyên nhân khách quan 28
1.4.1.2 Lợi ích của việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
41
3.2.1 Hệ thống hóa lại các loại thủ tục và qui trình giải quyết. 106
3.2.2 Xây dựng phần mềm “Một cửa" 107
3.2.3 Hướng đến thực hiện “Một cửa liên thông” 108
3.2.4 Nộp hồ sơ trực tuyến 109
3.2.5 Phát triển các dịch vụ trực tuyến 111
3.2.6 Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức bộ phận “Một cửa”
112
B. ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 124
ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 130
VÀ CÓ THỂ TRẢ LỜI BẤT KỲ CÂU HỎI NÀO TRONG CÁC CÂU
HỎI SAU 130
B. ĐỀ NGHỊ ĐỌC KỸ PHẦN HƯỚNG DẪN ĐIỀN MẪU 132
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Yến Ngọc
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
CBCC Cán bộ công chức
CBVC Cán bộ viên chức
chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y tế gồm 291 thủ
tục thuộc các lĩnh vực Dược-Mỹ phẩm, Khám chữa bệnh, Y dược cổ truyền,
An toàn vệ sinh thực phẩm, Y tế dự phòng, quản lý môi trường, trang thiết bị
và công trình y tế, sức khỏe sinh sản, khoa học đào tạo Toàn bộ các thủ tục
hành chính này đã được đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử của
Bộ Y tế và trên cơ sở dữ liệu Quốc gia phục vụ việc rà soát, kiểm soát thủ
tục hành chính. Qua đó các cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp
tham gia góp ý trực tiếp nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ những thủ tục
hành chính không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh và đời
sống nhân dân.
Năm 2011, theo thống kê của các Vụ, Cục của Bộ Y tế, Bộ Y tế tiếp
nhận khoảng 450.000 hồ sơ thủ tục hành chính từ các doanh nghiệp và cá
nhân nhưng chỉ giải quyết được khoảng 296.000 hồ sơ thủ tục hành chính,
4
154.000 hồ sơ thủ tục còn lại chưa giải quyết được do các doanh nghiệp và cá
nhân chưa thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục hành chính. Chi phí để
người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính do Bộ Y tế quản lý
mất khoảng 300 tỷ đồng/năm. Để các thủ tục hành chính được thực hiện một
cách hiệu quả, tránh gây rào cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống
nhân dân, gây tốn kém, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng các quy định về thủ tục hành chính,
đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin về thủ tục hành chính và tạo
điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thực
hiện các thủ tục hành chính thì công tác cải cách thủ tục hành chính tại cơ
quan Bộ Y tế là việc làm cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Lý luận về thủ tục hành chính và một số nội dung của cải cách thủ tục
hành chính là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, chuyên gia,
nhà quản lý. Đề tài này được nêu và thảo luận ở nhiều buổi hội thảo, trong
nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về quá trình cải cách hành chính ở
Trong năm 2010, Chính phủ đã ban hành 25 Nghị quyết để đơn giản hóa
gần 5.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 Bộ,
Ngành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ, Ngành, địa phương đơn giản
hóa các thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh
nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý của Nhà nước. Kết quả này
đã được Quốc hội, nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận,
đánh giá cao. Khi các phương án đơn giản hóa được thực thi, cắt giảm thời
gian, chi phí và rủi ro cho các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục
hành chính, với tổng chi phí tiết kiệm được lên tới gần 30.000 tỷ đồng mỗi
năm. Bên cạnh đó, Đề án đã nâng cao khả năng tiếp cận thông tin về thủ tục
hành chính của mỗi cá nhân, tổ chức; tạo điều kiện cho nhân dân giám sát việc
thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính các cấp. Đề án đã
thành công trong thực hiện hợp tác công - tư và khẳng định tính đúng đắn trong
việc huy động người dân và doanh nghiệp tham gia cải cách thủ tục hành
chính. Đây là minh chứng rõ nét về việc phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân
6
dân, gắn bó với dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để
nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước và xã hội, tham gia vào quá
trình hoạch định chính sách pháp luật của Nhà nước. Đề án đã phát huy được
tính tích cực chính trị của nhân dân, là yếu tố cơ bản để phát huy nội lực của
đất nước.
Triển khai thực hiện Đề án 30, Bộ Y tế đã có một số hội nghị, hội thảo
và các cuộc họp chuyên đề đề cập đến công tác đơn giản hoá thủ tục hành
chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế nhằm nâng cao nhận thức
của đội ngũ cán bộ công chức thông qua việc thực hiện giai đoạn thống kê
(điền biểu mẫu 1)(Phụ lục 1) và giai đoạn rà soát (điền biểu mẫu 2, 2a, 2b)
(Phụ lục 2) và xác định rõ thế nào là một thủ tục hành chính; vai trò của
TTHC trong đời sống xã hội; những ảnh hưởng của TTHC đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân và kỹ năng, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công chức trong việc giải quyết
hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Y tế quản lý
Đề tài tập trung nghiên cứu vào các văn bản quản lý Nhà nước do các
cơ quan Nhà nước ban hành quy định về các thủ tục hành chính do Bộ Y tế
quản lý từ năm 2004 đến nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tình hình hệ thống văn bản qui phạm pháp luật có qui định các TTHC
và việc thống kê rà soát các TTHC.
Nội dung này được thể hiện thông qua việc sẵn có các văn bản qui định
các TTHC hiện hành của Bộ Y tế thông qua việc tìm kiếm, tra cứu các văn
bản. Sự quan tâm và hỗ trợ của các Vụ, Cục của Bộ Y tế, các Tỉnh là những
yếu tố cơ bản để đánh giá tính khả thi và tính bền vững của hoạt động này.
- Tình hình thực thi các TTHC và các văn bản qui định các TTHC trong
lĩnh vực Dược-Mỹ phẩm
8
Nội dung này sẽ được thể hiện qua Sở Y tế các tỉnh có thực hiện các
TTHC, có lưu giữ các VBQPPL qui định các TTHC, đánh giá thông qua việc
thực thi các TTHC của các Sở Y tế các tỉnh và sự quan tâm của các doanh
nghiệp đối với các nhóm TTHC, nguồn cung cấp TTHC và các văn bản qui
định TTHC, việc thực hiện các TTHC có những khó khăn thuận lợi nào.
- Nội dung của các TTHC có được qui định rõ ràng, dễ hiểu và hợp lý
không?
Sự rõ ràng minh bạch và hợp lý của các TTHC được tìm hiểu và đánh
giá thông qua việc thực thi các TTHC (đối với cả cơ quan giải quyết và đối
tượng thực hiện TTHC) với các nội dung cụ thể như: trình tự và cách thức
thực hiện, thành phần và số lượng hồ sơ có được qui định cụ thể không? thời
gian giải quyết, cơ quan giải quyết TTHC có qui định rõ không, các yêu cầu
điều kiện của TTHC… Đặc biệt các nội dung của TTHC có tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh hay còn gây khó
khăn và cản trở cho các doanh nghiệp? Qua đó có thể thấy được các TTHC
này có cần thiết và hợp lý không.
vi quản lý Nhà nước của Bộ Y tế;
- Đề xuất những kiến nghị có tính khoa học, phù hợp với thực tế về
đánh giá và rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế;
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết Luận, danh mục ký tự viết tắt và danh mục
tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày thành 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về cải cách hành chính và
cải cách thủ tục hành chính
- Chương 2: Thực trạng cải cách TTHC hiện nay ở cơ quan Bộ Y tế
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp về cải cách hành chính và cải
cách thủ tục hành chính tại Cơ quan Bộ Y tế
10
PHẦN II. NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH
1.1. Lý luận chung về quản lý hành chính nhà nước
1.1.1 Khái niệm về quản lý hành chính Nhà nước
Có rất nhiều khái niệm quản lý khác nhau. Khái niệm Quản lý nói
chung là sự tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất
định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, tập thể
và các tổ chức xã hội nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng
theo những mục tiêu đã đề ra.
Quản lý hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh
bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động
của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực
hiện để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm
thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây
dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.[26]
Đối với một quốc gia thì vấn đề quản lý nhà nước bao giờ cũng giữ vai
có hiệu lực, hiệu quả. Ngược lại, bộ máy cồng kềnh, nhân sự yếu kém, cơ chế
quản lý phức tạp, sẽ làm cho nền hành chính cứng nhắc, kém năng động.
1.1.2. Nền hành chính Nhà nước và các bộ phận cấu thành
Nền hành chính Nhà nước là một hệ thống tổ chức và định chế có chức
năng thực hiện quyền hành pháp, tức là quản lý công việc hàng ngày của Nhà
nước. Nó được tạo thành bởi hệ thống các pháp nhân công quyền và các tổ
chức lệ thuộc vào nó, có thẩm quyền tổ chức và điều chỉnh mọi quá trình xã
hội và hành vi của các tổ chức (chính trị, văn hóa, kinh tế…) của mọi công
dân bằng các văn bản pháp quy thuộc quyền lập quy của quyền hành pháp.
Mục đích của nó là nhằm giữ gìn trật tự công và phục vụ lợi ích công và lợi
ích của mỗi công dân một cách có hiệu quả.
Tóm lại: Nền HCNN là một bộ phận của bộ máy Nhà nước, mang tính
12
chính trị của quyền hành pháp, thực thi quyền lực hành pháp bằng việc nghiên
cứu, đề xướng, thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực cao
nhất và cơ quan lập pháp (Quốc hội) quy định
1
Hình 1.1: Sơ đồ các yếu tố cấu thành nền hành chính
Có thể dẫn một ví dụ đơn giản như sau: Vận hành của nền HCNN ví
như một chiếc xe đang chạy trên đường.
Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính ví như con đường nó bao gồm:
chất lượng con đường, các chỉ dẫn, biển báo, đèn tín hiệu, hệ thống cầu
vượt mục đích là hướng dẫn người điều khiển xe tham gia giao thông thông
suốt, đảm bảo trật tự, kỷ cương, đúng luật.
Thứ hai, bộ máy hành chính ví như chiếc xe nó bao gồm hệ thống máy
móc, cơ chế vận hành, tính năng, tác dụng và trạng thái kỹ thuật . Nếu máy
móc tốt, xe chạy tốt.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức ví như tài xế, nó đòi hỏi tay nghề,
sức khoẻ, đạo đức, chấp hành luật giao thông. Nếu tài xế giỏi thì xe chạy an
toàn, không gây tai nạn, sự cố.
mới.[24]
Nền hành chính nước ta hiện vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết, trì trệ
do ảnh hưởng của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp cũ. Bộ máy hành chính
cồng kềnh, một bộ phận đội ngũ công chức hách dịch, cửa quyền. Trong khi
xu hướng chung của các nước là thu hẹp phạm vi của bộ máy QLHC, xây
dựng nền hành chính phục vụ. Việc chúng ta duy trì nền hành chính cũ sẽ dẫn
đến kìm hãm sự phát triển của kinh tế cũng như các mặt khác của đời sống xã
hội. Do đó CCHC phải được đẩy mạnh ở Việt Nam.
Mặt khác, tình hình thế giới ngày nay có nhiều thay đổi, tính quốc tế
hoá, khu vực hoá của các hoạt động kinh tế đã đòi hỏi hoạt động QLNN phải
thay đổi, phải áp dụng nhiều thông lệ quốc tế chung trong hoạt động QLNN…
không chỉ bó khuôn trong phạm vi khu vực và quốc gia riêng biệt. Xuất phát
từ xu thế hòa nhập nền kinh tế thế giới, mà đặt biệt khi Việt Nam trở thành
viên thứ 150 tổ chức thương mại quốc tế thì việc cải cách HCNN là một đòi
hỏi tất yếu.
14
Với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo
nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu
của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta xác định
CCHC phải được tiến hành toàn diện trên các nội dung sau:
1.1.3.1 Cải cách thể chế, pháp luật và thủ tục hành chính:
Cải cách thể chế nhằm vào hai mục tiêu chính là hoàn thiện nền dân
chủ, bảo đảm các quyền con người và quyền công dân trong thực tiễn cuộc
sống và trong quan hệ hàng ngày giữa Nhà nước và nhân dân theo quy định
của Hiến pháp và các đạo luật. Mặt khác, nó nhằm thúc đẩy và phục vụ đắc
lực cho công cuộc cải cách kinh tế và tài chính.[19]
Một trong các nội dung chính của cải cách thể chế hành chính chính là
cải cách TTHC. Đây được coi là khâu đột phá của CCHC nhằm cải thiện mối
hợp. Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết
công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất.
Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy
định chung phải tuân theo khi làm việc công.
Hoạt động QLNN được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước
đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước,
quản lý hoạt động của con người. Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này,
thủ tục là loại kế hoạch qui định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền
của từng cơ quan để giải quyết công việc. Khoa học pháp lý gọi đó là những
quy phạm thủ tục.
Quy phạm này gồm các bộ phận: Thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư
pháp và thủ tục hành chính.
Thủ tục lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật. Thủ tục tố tụng
tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi
các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử…Còn thủ tục hành chính là thủ tục thực
hiện thẩm quyền trong hoạt động HCNN.[24]
16
Để hiểu rõ hơn về TTHC, cần xem xét dưới giác độ quy phạm. Trong
khoa học pháp lý, tổng thể các quy phạm trong hệ thống pháp luật nói chung,
ngành luật hành chính nói riêng thường được chia thành hai loại quy phạm vật
chất và quy phạm thủ tục. Sự khác nhau giữa hai loại quy phạm này chính là
sự khác nhau trong đặc điểm của mệnh lệnh được chứa đựng trong mỗi loại
quy phạm. Mệnh lệnh trong quy phạm thủ tục là mệnh lệnh có tính chất "tổ
chức" để thực hiện mệnh lệnh trong quy phạm vật chất. Đây chính là sự phân
biệt giữa quy phạm thủ tục với quy phạm vật chất.
Một trong những vấn đề về TTHC gây nhiều tranh luận trong khoa học
Luật hành chính là vấn đề xác định phạm vi của TTHC. Về cơ bản có bốn
quan niệm như sau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng, TTHC là trình tự mà các cơ quan quản lý
Nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý vi phạm
riêng cho mình quyền đó mà phải tổ chức cho nó thành cấu trúc tổ chức của
quyền lực theo hình thức ủy lại cho tổ chức mà mình làm ra. Đây chính là sự
liên quan, liên đới “chủ - tớ” thông qua tổ chức quyền lực và sự trao quyền,
nắm quyền lực thực sự cho ai. Từ chỗ là quyền của mình, trao đi đổi lại thì
quyền của mình chỉ còn trong bản chất, còn sử dụng thực sự hàng ngày thì đã
được trao cho các cá nhân của bộ máy nhà nước. Họ có trách nhiệm ở vị thế
người phục vụ. (Hồ Chủ tịch không ít lần dạy chúng ta bằng nhắc nhở: cán bộ
từ Chính phủ đến xã, phường đều là công bộc của dân). Khi đó các cá nhân cụ
thể có trách nhiệm phải nhận thức quyền lực trong tay mình sử dụng là của
người dân. Về hình thức, quan hệ chủ sở hữu quyền lực (người dân) và người
sử dụng quyền lực (nhà nước giao cho những con người cụ thể) giống như
trong sở hữu và sử dụng bất động sản trên thương trường: chủ nhà và người
thuê nhà. Nhưng bản chất thì khác hẳn. Trong nhà nước (chính trị), vai trò
người chủ nói lên địa vị người dân trong tổ chức quyền lực, chứ không thể có
việc người dân đòi lại quyền để tự sử dụng nó như kiểu đòi nhà trong giao
dịch kinh tế được. Đó chính là nguồn gốc sâu xa của quá trình nhận thức trách
nhiệm và thiết kế thủ tục hành chính của nhà nước để phục vụ người dân.
Thủ tục hành chính theo bản chất tỉ lệ thuận với giá trị văn hóa trong
đời sống: thủ tục càng tốt (nhanh, gọn, đơn giản, rẻ tiền ), thì văn hóa hành
18
chính, văn minh công sở càng cao và ngược lại. Thủ tục hành chính và việc
vận hành nó mang tính phản chiếu đời sống xã hội. Nhẽ ra, nó phải thể hiện
tính nhân dân sâu sắc (qua sự đơn giản, lịch sự, hòa nhã, đáp ứng mọi hoàn
cảnh ); nhưng hiện nay nó đang phản chiếu nhiều biểu hiện tiêu cực của dịch
vụ, trách nhiệm của nhà nước. Điều đó làm mất đi sự hài lòng của người dân
khi họ cần sự phục vụ của cơ quan hành chính, làm phát sinh sự phàn nàn về
những phiền toái và tiêu cực; thậm chí làm giảm lòng tin ở chính những người
trong bộ máy cầm quyền đối với những người thực thi dưới quyền.[29]
Vậy, bản chất của thủ tục hành chính là gì và hình thức của chúng ra
sao, khiến nó “khó bảo” đến mức như hiện nay? Bản chất của thủ tục hành
các công việc thực hiện chu đáo. Nhưng nếu “quên” không đăng báo hoặc
đăng không đúng loại báo theo qui định, chưa đủ thời gian lưu thông tin trên
báo thì có thể dẫn đến kết quả kỳ thi bị hủy. Khác nhau chính là ở nhận
thức, dẫn đến quy định về quyền khác nhau giữa những người đứng đầu ở các
thể chế khác nhau, trong đó có quyền được chọn người giúp việc hay người
làm chuyên môn của người đứng đầu. [29]
1.2.2 Đặc điểm của Thủ tục hành chính
TTHC là một bộ phận cấu thành của ngành luật hành chính nhà nước, là
một thành tố của nền hành chính nhà nước. TTHC được coi là một công cụ
đắc lực trong quản lý hành chính nhà nước, giúp các cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình. [24]
TTHC được thiết lập trên mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước với mục
đích thiết lập trật tự trong hoạt động quản lý. Nhìn chung, thủ tục hành chính
có đặc điểm sau:
Trước hết, TTHC là công cụ để thực hiện các chính sách của Nhà nước.
Thứ hai, TTHC là tổng thể các hành động diễn ra theo trình tự thời gian,
TTHC được thực hiện bởi những cơ quan và công chức nhà nước.
Thứ ba, TTHC là thủ tục giải quyết công việc nội bộ Nhà nước và công
việc liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân. Do vậy,
đối tượng công việc cần thực hiện thường rất phức tạp.[32]
Thứ tư, quản lý HCNN chủ yếu là hoạt động cho phép ra mệnh lệnh có
tính chất đơn phương và đòi hỏi thi hành kịp thời nhằm giải quyết nhanh
20
chóng, có hiệu quả mọi công việc diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội.
Chính điều đó dẫn đến việc quy định TTHC phải kết hợp những khuôn mẫu
ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công
việc và đối tượng để đảm bảo kịp thời giải quyết công việc theo từng trường
hợp cụ thể.
Thứ năm, nền hành chính hiện nay đang chuyển từ hành chính cai quản
(hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho xã hội, từ
pháp quyền thì TTHC lại càng có vai trò quan trọng.
Nhìn một cách tổng quát, TTHC có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan
trọng giữa cơ quan Nhà nước với dân, với các tổ chức khác. Chiếc cầu nối
này có khả năng làm bền chặt các mối quan hệ, làm cho Nhà nước ta thực sự
là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa
học, áp dụng tùy tiện vào đời sống thì chính TTHC sẽ làm xa cách dân với
Nhà nước và hậu quả của nó là làm niềm tin của người dân với chính quyền
tiếp tục bị giảm sút.
TTHC trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện trình độ văn hóa
của tổ chức. Đây là văn hóa giao tiếp trong bộ máy Nhà nước. Nó cho thấy
mức độ văn minh của một nền hành chính phát triển. Chính vì lẽ đó, cải cách
TTHC sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đến pháp luật, pháp chế xã hội chủ
nghĩa của chúng ta mà còn liên quan đến sự phát triển chung của đất nước về
các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và sự mở rộng giao lưu giữa nước ta với
các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
1.2.4 Phân loại các Thủ tục hành chính
Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước khác cho thấy
muốn xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì cần phải phân loại
chúng một cách có khoa học.
1.2.4.1 Phân loại theo đối tượng quản lý HCNN
Theo cách phân loại này các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực
quản lý Nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản
lý hiện hành như: thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục trước bạ, thủ tục
trong hoạt động đăng ký kế hoạch…
22
Lợi ích của việc phân chia này là giúp người quản lý xác định được tính
đặc thù của lĩnh vực mà mình phụ trách. Từ đó mà đề ra yêu cầu xây dựng
cho lĩnh vực này những TTHC cần thiết, thích hợp, nhằm quản lý tốt các
nhiệm vụ đặt ra theo mục tiêu của nhà nước quy định[34].
1.2.4.2 Phân loại theo các loại hình công việc cụ thể mà các cơ quan
phân loại này có thể phân chia TTHC làm 3 nhóm:
- TTHC nội bộ: Thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quan,
công sở nhà nước, trong hệ thống cơ quan Nhà nước và trong bộ máy Nhà
nước nói chung. Nó bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của cơ
quan Nhà nước cấp trên đối với cấp dưới, quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước cùng cấp, ngang cấp, ngang quyền.
- Thủ tục thực hiện thẩm quyền: Thủ tục tiến hành giải quyết các công
việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa,
ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng mua, trưng thu các
động sản và bất động sản của công dân và của tổ chức. TTHC kể trên có đặc
điểm cơ bản là cơ quan hành chính và viên chức Nhà nước có thẩm quyền
thực hiện quyền lực Nhà nước bằng hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật để
giải quyết các công việc, tình huống cụ thể.
- Thủ tục văn thư: Toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp các
loại giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản liên quan chặt
chẽ với hoạt động văn thư, tạo thành thủ tục văn thư trong hoạt động HCNN.
Do mọi cơ quan đều hoạt động trong những mối quan hệ nhất định và
ảnh hưởng lẫn nhau nên việc phân loại TTHC theo các quan hệ đó là rất cần
thiết và có ý nghĩa thực tế quan trọng, có thể áp dụng rộng rãi.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại quá nhiều các loại thủ tục
ở nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí có nhiều loại không cần thiết. Điều đó
dẫn đến cản trở hoạt động của nền hành chính cũng như hoạt động của các
ngành, lĩnh vực liên quan, kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước. Một
yêu cầu cấp thiết được đặt ra đó là phải rà soát, loại bỏ bớt các loại thủ tục
24
không cần thiết cũng như đổi mới quy trình giải quyết các TTHC, nói cách
khác đó chính là cải cách TTHC.
1.2.5 Những hệ lụy của đời sống trong công vụ nhìn qua các TTHC
Tại sao cải cách thủ tục hành chính hay đơn giản hóa thủ tục hành
chính lại gian nan như vậy? Trước hết, phải nói rằng thủ tục hành chính là cái