Tổng quan về các mô hình nghiên cứu tác dụng chống loét dạ dày tá tràng của thuốc - Pdf 29

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC D ược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH MINH
TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN c ú u
TÁC DỤNG CHỐNG LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
CỦA THUỐC
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC 2001- 2006)
Người hướng dẫn; Ths Đào Thị Vui
Ths Nguyễn Thuỳ Dương
Nơi thực hiện: Bộ môn Dược lực
Thời gian thực hiện; 9/2005 - 5/2006
HÀ NỘI, 6 - 2006
(ú.
M i c m . t z
e k t qxt %j^ eỏj& n^q, kjm tuiMff tộ i ổifL ehỷtt ihAnớt l%, t
lng, liõ ộfL ớự u ia t i:
ầợh ^Cb^ ầợhi (Zui
ầ ợiui O ớg M n . ầ ợh u i^ (D i n .
jÊ nhrt, ti ớ th ớn tỡn h d iu dl^ eh %ụ- nhng, , kitL qu,
Ă%ỏjớ, hiới ớ t iỳ ft tũ i ớt ihn- thớớ itỳtL. itcutf e eỏ i n h ltt %O% q u ỏ t
tui m hj*L o eAớớ tn õ hỡnh. nglựn eu tỳjfi djUitg, chn. Lt ớL tUỳf tỏ
tfọtijg
ầợối ổht ehTL th n ii ent tớ*t th. e iỏj& trỳtig, ờ- m*L ^^iớ Uif ó
tớo% nil ixi kiờn ix nhit tin h giỳp, ^ tờ i ớmnjQ. tk i qèUL lm khA
lutL.
ầẻM ổht ehõn ớh tih ent ri tõfi. thờ, th oiờft ầẻMùd^ig. ^ '7 0 HDiớL a
giỳp, ^ t i hựt th n h kha. Lun.
^ i oA eựn. ự õ n. g ia Uih, tiUềi th õn ix lut nhtig, tti
lu*i ittt. lự&tL, iỳp, it& tụ i tmn. u i i qiA hink. he. ifi oự. nhng, k h i
ti g fi kớt khAn.
MỤC LỤC

1.6.4. Điều trị ngoại khoa 15
2. THUỐC ĐIỂU T R Ị
16
2.1. Hoá dược điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng 16
2.1.1. Thuốc kháng acid (antacid) 16
2.1.2. Thuốc chống bài tiết acid dịch vị 16
2.1.3. Thuốc áiệi Helicobacter pylori 18
2.1.4. Thuốc tăng cường yếu tố bảo vệ 19
2.1.4. Các thuốc khác 21
2.2. Đông dược điều trị loét dạ dày tá tràng

21
2.2.1. Các vị thuốc điều tĩỊ loét dạ dày tá tràng

12
2.2.2. Một số bài thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng

23
3. MÔ HÌNH NGHIÊN cứ u TÁC DỤNG CHỐNG LOÉT DẠ DÀY
TÁ TRÀNG CỦA THUỐC 25
3.1. Nghiên cứu in-vitro 25
3.1.1 Nghiên cứu tác dụng kháng acid 25
3.1.2. Nghiên cứu khả năng ức chế hoạt động pepsin

26
3.1.3. Nghiên cứu tác dụng ức chế bơm proton27
3.1.4. Nghiên cứu tác dụng kháng cholinergic

5.2. Đề xuất 65
TÀI LIÊU THAM KHẢO
CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT
DDTT
AMP
HCL^^
NaOH
PG
NO
Dạ dày tá tràng
(adenim^ mono phosphat
acid hyđrodoric
Natri hydroxyd
Prostaglandin
Nitơ oxyd
ĐẶT VÂN ĐỂ
Trong những năm thập niên 70- 80, bệnh loét dạ dày tá tràng là một bệnh
thời sự và thường đứng hàng đầu về các bệnh tiêu hóa. Trên thế giới ước tính
10% hiện mắc và hàng năm tăng chừng 0,2%. Tại Việt Nam loét dạ dày tá
tràng chiếm 26% trong các bệnh nội khoa [2 0 ].
Theo thống kê 2002 ở Mỹ, có gần 4 triệu người hiện mắc, hàng năm có
thêm 350.000 ca mới, có khoảng 180.000 bệnh nhân đang điều trị trong bệnh
viện, mỗi năm có 5000 người bị chết do loét dạ dày tá tràng [80]. Tại bệnh
viện Hữu Nghị, bệnh loét dạ dày tá tràng chiếm tỷ lệ 47,2 % trong các bệnh
về tiêu hóa [28]. Như vậy, loét dạ dày tá tràng là một bệnh phổ biến trên thế
giới và cũng như phổ biến của Việt Nam. Do đó, ngày càng có nhiều nghiên
cứu về thuốc có tác dụng chữa loét dạ dày tá tràng mới ra đời. Một thuốc mới
ra đời, phải trải qua rất nhiều giai đoạn nghiên cứu, trong đó giai đoạn tiền
lâm sàng- thử tác dụng dược lý là giai đoạn quan trọng. Vấn đề đặt ra là phải
thử thuốc theo mô hình nào? Hiện có bao nhiêu mô hình đang được ứng dụng

Loét dạ dày có xu hướng tăng trong những năm gần đây, thường gặp ở
những người cao tuổi, những người hay dùng thuốc chống viêm không steroid
(NSAIDs). Loét dạ dày có tỷ lệ thấp hofn loét tá tràng nhưng có nguy cơ
chuyển hoá thành ung thư trong khi loét tá tràng đa số là lành tính. 60% loét
dạ dày xảy ra ở hang vị, 25% ở mối nối hang vị, thân vị dạ dày và trên bờ
cong nhỏ. Tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori ở bệnh nhân loét dạ dày là 80-
85%. Những người loét dạ dày không có tăng acid, lượng acid tiết ra có khi
còn thấp hơn bình thường, nguyên nhân gây loét là do giảm yếu tố bảo vệ nên
dịch vị có điều kiện tấn công niêm mạc.
Loét tá tràng xảy ra khi nồng độ acid dịch vị quá cao vượt quá khả năng
chống đỡ của niêm mạc tá tràng bình thường. Trên 90% loét tá tràng nằm ở
đoạn đầu của tá tràng. Tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori ở loét tá tràng trên
90%^ Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác như: thuốc chống viêm không
steroid (NSAIDs), thuốc lá, rượu, stress [21, 46].
1.3. Chức năng sinh lý dạ dày
Dạ dày có 2 phần: thân vị- phần đứng ở trên- chiếm 80% diện tích dạ
dày và hang vị- phần ngang ở dưới,
Thành dạ dày có cấu tạo 4 lớp: thanh mạc, lớp cơ (gồm 3 lớp cơ nhỏ là
cơ dọc, cơ vòng, cơ chéo), hạ niêm mạc và niêm mạc. Niêm mạc dạ dày có
cấu tạo đặc biệt (có các tế bào tuyến, tổ chức đệm giàu mạch máu) đảm bảo
chức năng nội- ngoại tiết hỗn hợp.
Hai dây phế vị (gồm nhánh thân vị và nhánh môn vị) phân bố vào dạ
dày. Các đoạn tận cùng của thần kinh đan kết vào nhau tạo thành 2 mạng lưới,
gọi là “đám rối”. Qua các sợi hậu hạch tiết acetylcholin, đám rối Meissener đi
trong lớp dưới niêm mạc để chi phối tiết dịch còn đám rối Auerbach phân bố ở
các lớp cơ, chi phối co bóp.
Tế bào tuyến và tế bào cơ dạ dày nhận hai loại tín hiệu phế vị: loại từ
trung tâm phế vị (ngoài dạ dày) đi vào, loại tại chỗ phát ra từ các sợi của hai
đám rố i[ll,3 1,32 ].
1.3.1. Chức năng tiết dịch

pepsin hoạt động [8 ].
- Tế bào chính (chief cell) tiết pepsinogen tiền thân của pepsin có tác
dụng tiêu hoá protein. Do vậy tế bào này có tên là “tế bào tiêu” [8 ].
- Tế bào gốc (stem cell) có khả năng phân bào mạnh, biệt hoá tạo thành
các loại tế bào tuyến. Tốc độ thay thế khiến tổn thương cơ học, hoá học ờ dạ
dày bình thường không thể tạo ra vết loét mạn tính, trừ khi yếu tố phá hủy
mạnh hơn hẳn yếu tố hàn gắn suốt trong một thời gian đủ dài [8 ].
- Tế bào ECL (Entero Chromaphile Like) tiết histamin. Lượng
histamin khuy ếch tán ra xung quanh với hai tác dụng: kích thích tế bào thành
tiết ra acid và góp phần làm co cơ trơn dạ dày [8 ].
- Tế bào G (G cell) tiết gastrin vào máu. Tác dụng của gastrin là kích
thích tế bào thành tiết ra acid. Trường hợp tế bào G phát triển thành u (trong
hội chứng Zollinger- Ellison) làm cho 95% bệnh nhân có ổ loét [8 ].
- Tế bào D (delta cell) tiết ra somatostatin với vai trò: tại hang vị kìm
hãm tế bào G tiết gastrin; tại thân vị nó có tác dụng kìm hãm tế bào ECL tiết
histamin, đồng thời kìm hãm tế bào thành tiết acid. Như vậy, vai trò của tế bào
D là kìm hãm tiết acid khi đã đủ hay quá thừa [8 ].
- Tế bào ruột bắt màu Ec bài tiết serotonin.
- Tế bào A bài tiết glucagon.
1.3.2. Sự điều hoà tiết dịch dạ dày
Khi bị kích thích tối đa, tế bào thành có khả năng tiết ra dung dịch acid
HCl với nồng độ 150- 160 mmol/1, pH hạ đến 0,8; nghĩa là nồng độ ion ở
dịch vị gấp 3 triệu lần ở mạch máu động mạch.
Trong điều kiện sinh lý bình thường luôn có sự điều hoà để lượng acid
tiết ra phù hợp. Đó là nhờ sự phối hợp các kích thích dương tính và âm tính tác
dụng trực tiếp trên các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt của tế bào thành.
Sự điều hoà tiết dịch dạ dày chịu tác dụng của 2 cơ chế: cơ chế thần
kinh và cơ chế nội tiết.
* Cơ chế thần kinh
Phản xạ không điều kiện (khi thức ăn chạm lưỡi) thông qua đường dẫn

tổn thương cơ học bằng cách bôi trơn thức ăn. Do tồn tại ở dạng gel và do
mang tính kiềm, nó không thích hợp cho sự tiêu huỷ của pepsin, đồng thời
không cho phép acid từ dịch vị tự do khuyếch tán sâu vào trong. Như vậy, lớp
chất nhày như là một hàng rào chắn thành dạ dày và dịch vị, giữ cho thành dạ
dày không bị tổn thương hoá học.
- Muối kiềm bicarbonat trung hoà nhanh acid HQ bài tiết ra trong dịch vị.
- Sự tưới máu phong phú mang đi các ion và cung cấp vật liệu hàn
gắn tổn thưcíng.
- Prostaglandin được sản xuất tại chỗ. Prostaglandin có tác dụng
khuy ếch đại và điều phối các yếu tố bảo vệ khác, giúp quá trình tái tạo xảy ra
nhanh hơn.
- Sự toàn vẹn và tái tạo của tế bào biểu mô niêm mạc và bề mặt niêm
mạc dạ dày tá tràng có vai trò bảo vệ. Tốc độ tái sinh của tế bào biểu mô niêm
mạc nhanh nên niêm mạc khi bị tổn thương được hàn gắn tức khắc, kể cả khi
nồng độ trong dịch vị tăng gấp 5 lần. Ngoài ra còn kể đến vai trò của yếu
tố tăng trưởng EGF (epidermic growth factor). EGF được bài tiết trong nước
bọt và tá tràng, có tác dụng giảm tiết acid, kích thích sự xâm nhập và tăng sinh
tế bào ở vùng tổn thương [8 , 10 ].
1.4.2. Các yếu tô tấn công
* Acid chlorhydric
Schwartz nói: “không có acid- không có loét”. Thực tế đã chứng minh
có sự khuyếch tán ngược của ion từ lòng dạ dày thấm qua lớp gel vào tận
cấu trúc dưới niêm mạc [8 , 2 1 ]. lon có gây được tổn thương hay không còn
tuỳ thuộc vào nồng độ thấm vào lớp gel và khả năng bảo vệ. Các cấu trúc
bị tổn thương do gây ra gồm, biểu mồ niêm mạc, các noron, mạch máu, kết
hợp với sự xâm nhiễm các tế bào viêm để gây một chuỗi hậu quả:
- Giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh (làm tăng tiết acid).
- Xâm nhập các thành phần máu vào nơi tổn thương, tạo ra hỗn hợp
peptid và acid amin gây kích thích tiết thêm acid HCl.
- Hoạt hoá các tế bào viêm (có cả vai trò histamin) trực tiếp kích thích

lượng lớn. Nó gây loét dạ dày tá tràng nếu nhiễm kéo dài hay làm viêm
chuyển sang loét vì làm tăng tiết acid đồng thời làm giảm khả năng bảo vệ.
Hậu quả muộn là teo niêm mạc dẫn đến giảm toan, vô toan. H.p được phát
hiện ở 90- 96% người loét dạ dày tá tràng và 70% người loét dạ dày. Số người
lành nhiễm vi khuẩn tăng theo tuổi, nhất là ở nơi môi trường ô nhiễm (vùng
lạc hậu, nước nghèo).
- Cơ chế gây loét của H.p
Enzym urease của H.p sản xuất ammoniac không những giúp vi khuẩn
tạo ra vi môi trường trung tính xung quanh nó, giúp H.p sống được trong môi
trường acid (pH=l- 2) mà còn làm tổn thương niêm mạc do NỈỈ4^ cùng với các
sản phẩm khác sẽ phân huỷ chất nhày dạ dày. Dạ dày thường tăng tiết acid khi
nhiễm H.p, tạo điều kiện cho loét.
Các enzym tiêu huỷ protein (catalase, lipase, protease) cũng có vai trò
trong bệnh sinh, và đặc biệt là một protein có tên gọi “độc tố tế bào gây hốc”
(vacuolating cytotoxin- VaC) gây ra các không bào trong tế bào biểu mô niêm
mạc. Gen liên quan với chất protein độc này được gọi là VaC- A. Một protein
khác là sản phẩm của “gen A liên kết với độc tố tế bào” (Cytotoxin associated
gen A_ Cag- A) cũng có vai trò lớn trong bệnh sinh. Tất cả các yếu tố trên gây
tổn thương niêm mạc qua phản ứng viêm tại chỗ với sự lôi kéo bạch cầu đơn
nhân, bạch cầu đa nhân và đại thực bào. Quá trình viêm nhiễm nặng lên: tế
bào biểu mô phù nề, hoại tử nong tróc, tiếp đến là sự tác động của acid và
pepsin gây trợt rồi tạo thành ổ loét. Nhiều bằng chứng cho thấy H.p gây tổn
thương qua sự kích thích lympho bào tiết IgE, hoạt hoá tế bào mast và ổ loét là
hậu quả của quá mẫn.
Như vậy, quan niệm về loét dạ dày tá tràng thay đổi hẳn: từ một bệnh
chủ yếu do cơ chế “thần kinh” thành một bệnh chủ yếu do nhiễm khuẩn; từ
không lây trở thành lây: từ không dùng kháng sinh trở thành nhất thiết phải
dùng; từ rất dễ tái phát trở thành bệnh khỏi hẳn; tỷ lệ phải mổ giảm đáng kể
[3, 8 , 2 1 ].
1.4.3. Các yếu tô nguy cơ

- Dùng NSAIDs đồng thời với các corticoid, dùng liều cao; dùng phối
hợp với các thuốc trong nhóm NSAIDs; dùng đồng thời với các thuốc chống
đông máu.
- Khi bệnh nhân có những rối loạn hệ thống nặng.
- Dùng NSAIDs khi có H.p kí sinh trong dạ dày.
- Khi có hút thuốc lá và/hoặc uống rượu trong đợt điều trị, nhất là khi
đã nghiện [25].
* Thuốc corticoid
Một trong các tác dụng mong muốn của thuốc corticoid là tác dụng gây loét
dạ dày tá tràng. Cơ chế gây loét là do thuốc có khả năng ức chế enzym
phospholipase A2 ức chế tổng hợp acid arachidonic nên sẽ ức chế
prostaglandin có vai trò bảo vệ dạ dày [5].
* Di truyền
- Nhóm máu o, sau đó là nhóm máu A có tỷ lệ loét cao trong cộng
đồng.
- Nhóm kháng nguyên HLA có B5 có tỷ lệ loét cao hơn nhóm kháng
nguyên HLA có DQ- AI
11
- Tinh trạng tăng tiết bẩm sinh HCl và pepsinogen có tính chất gia đình
và có tỷ lệ loét cao hơn cộng đồng.
- Yếu tố chủng tộc cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ loét dạ dày tá tràng.
- Sự nhạy cảm bẩm sinh đối với yếu tố nguy cơ của ngoại cảnh; có nhiều
người tiếp xúc với mọi yếu tố nguy cơ mà không bị loét; ngược lại, nhiều người
khác lại rất nhạy cảm vói một hay vài yếu tố nguy cơ gây loét [3, 8,25]
* Thuốc lá, rượu, cà phê
Một số nghiên cứu cho thấy: nghiện thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc
bệnh loét dạ dày tá tràng gấp 8 lần so với người không nghiện thuốc lá,
trong 1 0 bệnh nhân loét dạ dày có biến chứng thì có 8 người nghiện thuốc
lá [25, 52].
Rượu và cà phê cũng được chứng minh làm tăng tỷ lệ loét dạ dày tá

- Thể không điển hình: bệnh không có triệu chứng như trên, chỉ khi có
các biến chứng như chảy máu tại ổ loét gây nôn ra máu, đi ngoài phân đen,
thủng ổ loét mới phát hiện ra bệnh [4, 10].
1.5.2. Chẩn đoán cận lâm sàng
- Xét nghiệm dịch vị (có nhiều phương pháp) như: dịch vị đồ Kay (kích
thích bằng histamin), Hollander (kích thích bằng insulin). Thăm dò này cung
cấp một số tài liệu có ích trong chẩn đoán và điều trị: độ acid dịch vị (bình
thường, tăng hay giảm), những chất bất bình thường trong dịch vị, khả năng
bài xuất của dạ dày.
- Chụp X- quang dạ dày tá tràng: cho biết có hay không có ổ loét, số
lượng, vị trí. Hạn chế của biện pháp này là khó phân biệt những ổ loét nhỏ hay
ở tâm vị, ổ loét lành tính hay ác tính.
- Nội soi dạ dày tá tràng có một số tiện ích đáng kể như:
+ Phát hiện được các ổ loét với tỷ lệ cao, ngay cả ở những vùng mà
chụp X- quang khó phát hiện.
+ Theo dõi sự tiến triển của ổ loét, nhất là ổ loét dạ dày.
+ Soi sinh thiết giúp cho người thầy thuốc trong một thời gian ngắn
phân biệt chính xác ổ loét lành tính, ác tính,
+ Có thể điều trị qua nội soi: cầm máu ổ loét, cắt polyp
- Chẩn đoán phân biệt H.p
14
+ Xét nghiệm xâm lấn (thực hiện qua nội soi): thử nghiệm urease trên
mảnh sinh thiết, nuôi cấy, mô học, phương pháp phân tử học.
+ Xét nghiệm không xâm lấn (thực hiện không cần nội soi): huyết
thanh chẩn đoán, test urease qua hơi thở, phát hiện H.p trong phân [4, 10].
1.6. Điều trị
1.6.1. Nguyên tắc điều trị
- Dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh loét để loại trừ các yếu tố gây
bệnh: stress, Helicobacter pylori, tăng tiết acid, tăng hoạt tính pepsin
- Bình thường hoá chức năng dạ dày.

Các thuốc trong nhóm này gồm: các muối và hydroxyd của magnesi, nhôm,
calci.
* Tác dụng và cơ chế:
- Các thuốc này có tác dụng trung hoà acid dịch vị, nâng pH của dạ dày
lên xấp xỉ bằng 4, ức chế hoạt tính của pepsin, tăng tác dụng của hàng rào chất
nhày, kích thích khả năng đề kháng của niêm mạc dạ dày.
- Tác dụng cắt cơn đau và giảm triệu chứng nhanh nhưng ngắn (15- 30
phút) nên phải dùng nhiều lần trong ngày.
* Liều dùng'.
- Khi dùng kéo dài, các thuốc kháng acid gây tác dụng không mong
muốn làitiêu chảy (thuốc chứa magnesi), táo bón (thuốc chứa nhôm).
Uống thuốc sau bữa ăn từ 1- 2 giờ, ban đêm hoặc khi đau, uống cách
các thuốc khác là 2 giờ [3,5, 16].
2.1.2. Thuốc chống bài tiết acid dịch vị
2.I.2.I. Thuốc kháng thụ thể lỈỊcủa histamin
Gồm: cimetidin, ranitidìn, /amotidin, nizatidin
16
* Cơ chế tác dụng
- Do công thức gần giống histamin nên các thuốc kháng H2 tranh chấp
với histamin tại receptor H2 (Rh2) ^ tế bào thành dạ dày, làm ngăn cản tiết dịch
vị bởi các nguyên nhân gây tăng tiết histamin ở dạ dày (cường phó giao cảm,
thức ăn, tăng tiết gastrin ).
- Thuốc làm giảm tiết cả số lượng và nồng độ HCl của dịch vị.
- Các thuốc kháng H2 không có tác dụng trên Rhi mà chỉ tác dụng chọn
lọc trên Rh2 ở dạ dày (mặc dù Rh2 có nhiều ở thành mạch, khí phế quản,
tim ).
* Tác dụng
- Thuốc làm giảm tiết cả số lượng và nồng độ HCl của dịch vị. Sự bài
tiết các dịch tiêu hoá khác và chức năng của dạ dày ít bị ảnh hưởng.
- Khả năng làm giảm tiết acid dịch vị tăng dần: cimetidin (50%) <

tố nội dạ dày và sự co bóp dạ dày.
* Liều dùng
Omeprazol 20- 40mg/ngày
Lansoprazol 30mg/ngày
Pantoprazol 40mg/ngày
Rabeprazol 20mg/ngày
Uống trước bữa ăn sáng và trước khi đi ngủ
Thuốc gây một số tác dụng không mong muốn: đau đầu, buồn nôn, ỉa
chảy, táo bón, đau bụng, mệt mỏi chóng mặt, có nguy cơ ung thư khi dùng lâu
dài [3, 5, 16, 49].
2.1.3. Thuốc diệt Helicobacter pylori
2.I.3.I. Kháng sinh
Các kháng sinh có tác dụng ức chế tổng hợp protein hoặc làm rối loạn
quá trình tổng hợp acid nucleic của vi khuẩn. Kháng sinh được dùng điều trị vi
18
khuẩn H.p: Amoxicylin, tetracyclin, clarythromycin, nhóm imidazol
(metronidazol, tinidazol).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh dùng đơn độc một kháng sinh
là ít có hiệu quả, dùng 2 loại kháng sinh kết hợp thuốc ức chế bài tiết thì tỷ lệ
diệt H.p đến hơn 90%. Hiện nay H.p đã kháng một số kháng sinh với tỷ lệ
khác nhau. Tỷ lệ kháng metronidazol ở Việt Nam là 33%, ở Ấn Độ là 50% [3,
1 0 , 16].
2.I.3.2. Các muối bismuth
Cơ chế diệt Helicobacter pylori của các muối bismuth là do gây đông vón
protein của vi khuẩn. Hiện nay để diệt H.p thường dùng muối bismuth dưới
dạng muối hữu cơ: Colloidal bismuth subnitrat (CBS) hay tripotassium
dicitrato bismuthat (TDB), liều thấp hơn và ít tác dụng phụ hơn do thuốc phân
tử lượng lớn chỉ tác dụng tại chỗ
Ngoài ra, muối bismuth còn có tác dụng tạo hàng rào bảo vệ niêm mạc dạ dày
tránh tác động của acid [3, 10, 16].

tiêu chảy.
Enprostil (Gardin): tác dụng kéo dài hơn misoprostol liều dùng 35
mg/lnf X 2 lần/ngày
Tác dụng không mong muốn: đau bụng, tiêu chảy (30%), chuột rút, sẩy
thai [5, 16, 49].
2.1.3.3. Carbenoxolon
* Cơ chế tác dụng
Carbenoxolon là dẫn xuất tổng hợp của acid glycyrrhizic, có tác dụng
tăng sản sinh, tăng bài tiết, tăng độ nhày của chất nhày dạ dày.
* Liều dùng
Liều dùng 50 mg/lần X 3 lần/ngày.
Tác dụng không mong muốn là tăng huyết áp, giữ nước, giảm
huyết [16].
20

Trích đoạn Các mô hình nghiên cứu tác dụng của thuốc Mô hình thử trên in-vivo Phương pháp gây loét bằng tác nhân hóa học Bước đầu lựa chọn một số mô hình thử tác dụng chống loét dạ dày tá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status