Bộ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LINH CHI
B ư ớc ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG
KHÔNG MONG MUÓN TRÊN
CHUYỂN HÓA TRÊN BỆNH NHÂN sử
DỤNG THUÓC AN THẦN MNH t ạ i
VIỆN SỨC KHOẺ TÂM THẦN- BỆNH
VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP Dược sĩ
KHÓA 61 (2006-2Ò11)
Người hướng dẫn:
1. TS.BS. Nguyễn Văn Tuấn
2. ThS.DS. Phạm Thị Thúy Vân
Nơi thực hiện:
1. Viện Sức khỏe tâm thần-BV Bạch Mai
2. Bộ môn Dược Lâm Sàng-
Trưòng Đại học Dược Hà Nội
HÀ NỘI - 2011 t r uồ n g đh Được hà nội
Lòì cảm ơn
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc
tới TS.BS Nguyễn Văn Tuấn- Giảng viên trưòng Đại học Y Hà Nội, trưỏng phòng
Khám và điều trị ngoại trú, Viện Sức khỏe tâm thần-Bệnh viện Bạch Mai và
ThS.DS. Phạm Thị Thúy Fff«-giảng viên bộ môn Dược lâm sàng trường Đại học
Dược Hà Nội, với kiến thức, kinh nghiệm và sự nhiệt tình đã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu. Tôi đã học hỏi được rất nhiều ở
Thầy cô phong cách làm việc, phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như các kỹ
năng giao tiếp trên lâm sàng cũng như trong cuộc sống.
Tôi cũng xin cảm ơn tập thể các bác sĩ điều trị, y tá, cán bộ công nhân viên,
các bệnh nhân và người nhà tại viện Sức khỏe tâm thần- bệnh viện Bạch Mai đã tạo
điều kiện, hợp tác và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài.
1.3.3. Chủng tộc 16
1.3.4. Thói quen sinh hoạt 16
C H Ư Ơ N G 2 . Đ Ó I T Ư Ợ N G V À P H Ư Ơ N G P H Á P N G H I Ê N c ứ u ^ ^
2.1.ĐỐÌ tượng nghiên cứu 18
2.2.Phu’ơng pháp nghiên cứu
18
2.2.1 .Phương pháp chọn mẫu 18
2.2.2. Quy trình nghiên cứu 18
2.2.3. Một số phương pháp đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
20
2.2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu 21
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu 22
C H Ư Ơ N G 3 . K É T Q U Ả N G H I Ê N c ứ u 2 3
3.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 23
3.1.1 .Đặc điểm tuổi, giới tính và nghề nghiệp của B N
23
3.1.2. Đặc điểm chẩn đoán hiện tại và tiền sử của bệnh nhân và gia đình 24
3.1.3. Thuốc ATK và liều dùng 25
3.1.4. Thuốc dùng kèm 27
3.2. Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến TDKMM gây tăng cân 29
của ATK
3.2.1.Cảm giác thèm ăn, ngon miệng
29
3.2.2.Năng lượng đưa vào 30
3.2.3.Chế độ ngủ và vận động
31
3.3. Tác dụng không mong muốn trên chuyển hóa
4.2.2.Năng lượng đưa vào 47
4.2.3.Chế độ ngủ và vận động 48
4.3. Tác dụng không mong muốn trên chuyển hóa
48
4.3.1. Đánh giá TDKMM gây tăng cân của ATK
48
4.3.2. Chỉ số khối cơ thể BMI 50
4.3.3. Đánh giá TDKMM gây béo phì trung tâm của thuốc ATK trong 50
thời gian nghiên cứu thông qua chỉ số eo mông ( WHR)
4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến TDKMM gây tăng cân của ATK
51
4.4.1 .Ảnh hưởng của thuốc ATK được chỉ định
51
4.4.2. Tuổi 52
4.4.3.GÌỚĨ tính 53
C H Ư Ơ N G 5 . K É T L U Ậ N V À Đ È X U Ấ T 5 4
5.1 Kết luận 54
5.2. Đề xuất
55
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIÉT TẤT
5-HT: Serotonin
ADA-APA: (Hiệp hội đái tháo đường- Hiệp hội tâm thần Mỹ (American
Diabetes Association- American Psychological Association)
ApoA5: Apolipoprotein A-V
ApoC3: Apolipoprotein C-III
26
Bảng 1.5.Liều điều trị của các thuốc ATK.
27
Bảng 3.6. Các thuốc dùng kèm trong nghiên cứu
28
Bảng 2>.l.Cảm giác thèm ăn, ngon miệng
29
Bảng 3.^.Đảnh giá cân bằng năng lượng của nhóm bệnh nhân
30
Bảng 3.9.Năng lượng đưa vào theo thời gian điều trị
31
Bảng 3.10. Chế độ ngủ của nhóm BN nghiên cứu 31
Bảng 3.11. Chế độ vận động của nhóm BN nghiên cứu
32
Bảng 3.12. Tỷ lệ bệnh nhân tăng cân sau 4 tuần 32
Bảng 3.13. Mức độ tăng cân sau 4 tuần sử dụngATK.
33
Bảng 3.14. Xu hướng tăng cân qua từng tuần theo dõi
35
Bảng 3.15. Chi số BMI qua 4 tuần điều trị
•
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tỷ lệ mắc các bệnh về tâm thần
có xu hưÓTig ngày càng gia tăng. Trong đó tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực
là những bệnh tâm thần nặng được điều trị bằng các thuốc an thần kinh. Ngoài ra
ATK cũng là một thuốc đầu tay được chỉ định cho nhiều rối loạn tâm thần khác.
Thuốc ATK là có tác dụng không mong muốn trên ngoại tháp, đặc biệt ở các ATK
thế hệ 1 gây ảnh hưởng nhiều đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Với các ATK thế
hệ
2 , các tác dụng phụ trên ngoại tháp đã giảm hẳn, nhưng lại xuất hiện một nguy
cơ bệnh tật mới do tác dụng không mong muốn trên chuyển hóa của các thuốc này
gây ra. Mặc dù hiện nay đã có những khuyến cáo về nguy cơ cao của tác dụng
không mong muốn này nhưng việc theo dõi các tác dụng phụ trên chuyển hóa của
các ATK chưa được quan tâm đúng mức. ở một số bệnh viện tâm thần, các bệnh
nhân trước khi bắt đầu điều trị được làm xét nghiệm thường quy trong đó có các xét
nghiệm về đường huyết và lipid huyết, đồng thời có đo chỉ số BMI. Tuy nhiên sau
đó, trong quá trình điều trị bằng thuốc an thần kinh, việc giám sát hoặc theo dõi lại
định kỳ các thông số về chuyển hóa trên chưa được thực hiện.
Cho đến nay tại Việt Nam đã có một số đề tài tổng quan nhưng chưa có nghiên
cứu thực nghiệm nào đánh giá đầy đủ về tác dụng không mong muốn trên chuyển
hóa của các thuốc an thần kinh. Xuất phát từ thực tế đó,cần thiết phải có các nghiên
cứu thực nghiệm đế theo dõi, khẳng định, đánh giá mức độ, nguy cơ của các
TDKMM trên, đồng thời làm cơ sở để có thể đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế
các TDKMM này.
Do hạn chế về mặt thời gian thực hiện trong khuôn khổ của một khóa luận tốt
nghiệp Dược sỳ đại học nên chúng tôi không theo dõi và đánh giá một cách đầy đủ
và toàn diện các tác dụng không mong muốn trên chuyển hóa, đặc biệt là các chỉ số
xét nghiệm cận lâm sàng . Do vậy, chúng tôi xin đề xuất đề tài '"Bước đầu đánh giá
tác dụng không mong muốn trên chuyển hóa trên bệnh nhăn sử dụng thuốc an
thần kinh tại Viện Sức khoẻ tâm thần-Bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu cụ
thể là:
6277, rs 1079598, rs 1800497 và sự tăng cân. Các gen khác chủ yếu là không ảnh
hưởng [25],
Một giả thiết khác khá phổ biến về cơ chế di truyền gây tăng cân của các
ATK liên quan đến gen mã hóa thụ thể serotonin 2C (5HT2C) là HTR2C. Thụ
thể 5 HT2C được cho rằng có liên quan đến những thay đổi trong thói quen ăn
uống cũng như gây tăng cân. Mặt khác các thuốc an thần kinh có nguy cơ cao
gây rối loạn chuyển hóa (như olanzapin và clozapin) có ái lực tương đối cao với
thụ thể này so với các an thần kinh khác [24],
- Vai trò của các thụ thể.
Ái lực của các thuốc an thần kinh khác nhau với các thụ thể là khác nhau,
do đó khả năng gây tăng cân của các an thần kinh cũng khác nhau.
Các thụ thể được cho là có ảnh hưỏng đến khả năng gây tăng cân của thuốc an
thần kinh là 5-HT2C, Hl, H3, a2 và B3-adrenergic. Với cơ chế tác dụng đối
kháng trên thụ thể 5-HT2C là nguyên nhân gây ra sự kích thích thèm ăn và dẫn
đến tăng cân trên bệnh nhân dùng thuốc [40].
Các thụ thể histamin cũng có vai trò quan trọng trong tác dụng gây tăng
cân của an thần kinh. Hai thụ thể được tập trung nghiên cứu là HI và H3. Thụ thể
HI đã được nghiên cứu khá nhiều trước đây. Olanzapin và clozapin có ái lực cao
với thụ thể H I, đó là lý do dẫn đến nguy cơ gây tăng cân cao ở hai thuốc này.
Ngoài ra điều trị bằng olanzapin làm giảm biểu hiện gen của thụ thể HI ở vùng
dưới đồi gây tăng cảm giác thèm ăn, tăng sự ngon miệng và cản trở hoạt động
gây chán ăn của leptin [17]. Gần đây, ngoài HI ra thì thụ thể H3 cũng rất được
quan tâm với vai trò trong vấn đề kiểm soát cảm giác đói, từ đó ảnh hưởng đến
vấn đề lượng thức ăn đưa vào [1 1 ].
Các thụ thể adrenergic, gồm có a2 và B3-adrenergic với vai trò quan trọng
trong việc cung cấp năng lượng cho cơ thể được chứng minh có liên quan đến cơ
chế gây tăng cân của các ATK. Khi được kích hoạt, hệ thống adrenergic sẽ làm
tăng quá trình phân giải glycogen ở gan và cơ, tăng tân tạo glucose ở gan và tăng
phân giải lipid ở mô mỡ. Sự đối kháng của ATK trên a2-adrenergic gây tăng cân
được giải thích bằng cơ chế tự điều hòa ngược trong đó sự giải phóng
Clozapin [26], [31], [42], Tăng cân với olanzapin không phụ thuộc liều nhưng
phụ thuộc vào tuổi và giới tính [15], Bên cạnh đó còn có các thuốc khác hay
được dùng trên lâm sàng cũng gây tăng cân nhiều như chlorpromazin, risperidon.
6
Một số thuốc có nguy cơ tăng cân thấp hơn như amisulprid, quetiapin,
haloperidol.
Vấn đề vị trí tích lũy mỡ đổi với bệnh nhân béo phì do sử dụng ATK cũng
rất được quan tâm. Một số nghiên cứu đã nhận định ở các bệnh nhân tâm thần
phân liệt sử dụng thuốc ATK đều có tỷ lệ mỡ bụng cao (béo bụng hay béo phì
trung tâm). Hiện tượng này có thể gia tăng nguy cơ đái tháo đường do tăng kháng
insulin [46], Béo phì đã được công nhận là yếu tố nguy cơ cao của bệnh tim
mạch. Tuy nhiên không chỉ khối lưọTig mà sự phân bố mỡ cũng rất quan trọng
trong việc đánh giá nguy cơ này. Sự lắng đọng mô mỡ ở nội tạng được đánh giá
bằng chu vi vòng eo là yếu tố nguy cơ tim mạch cao của vấn đề rối loạn chuyển
hóa [30]. Béo bụng được chứng minh là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với thiếu
máu cục bộ. Để đánh giá mức độ béo phì trung tâm, hiện nay hay sử đụng nhất là
chỉ số eo/mông WHR, và chỉ số này được cho là có ý nghĩa đánh giá nguy cơ tim
mạch chính xác hơn BMI [37].
Như vậy, tăng cân là yếu tố nguy cơ dẫn đến rất nhiều biến chứng và bệnh
tật, đặc biệt trên tim mạch và các bệnh chuyển hóa. Do vậy kiểm soát cân nặng
của các bệnh nhân có sử dụng thuốc an thần kinh là hết sức cần thiết.
1.1.2. Tăng đường huyết và kháng insulin
1.1.2.1. Cơ chế gãy tăng đường huyết trên bệnh nhân sử dụng A TK
Nguyên nhân của tình trạng tăng đường huyết ở bệnh nhân sử dụng thuốc
ATK là do sự kháng insulin, ở bệnh nhân đái tháo đưÒTtig, sự kháng insulin dẫn
đến tăng nồng độ glucose trong máu và để điều hòa lại nồng độ glucose, quá
trình tiết insulin của tế bào 15-đảo tụy tăng lên, dần đạt mức tối đa từ đó dần làm
gia tăng sụr thiếu hụt insulin. Thêm vào đó, sự gia tăng ổn định nồng độ glucose
trong máu lại làm tăng sự kháng insulin, dẫn đến rối loạn chức năng của tế bào 13-
đảo tụy tạo một vòng tuần hoàn bệnh lý mô tả ở hình 1.1. Bệnh béo phì được cho
Ngược lại, một số thuốc chống trầm cảm được nghiên cứu như fluoxetin với cơ
chế kích thích 5-HT2c và gây giảm cân, thuốc này có khả năng cải thiện độ nhạy
cảm của insulin thông qua cơ chế gây giảm cân và kích thích sự tổng hợp
glycogen tại các mô cơ xương [1 2 ].
Nguy cơ đái tìiáo đường typ 2 trên bệnh nhân dùng ATK cũng được chứng
minh có liên quan đến thụ thể muscarinic M3. Ái lực với thụ thể M3 của ATK
được xem như một yếu tổ dự báo tốt nhất xu hướng gây ĐTĐ typ 2 [38].
8
- Sự kháng insulỉn
Thuốc ATK ảnh hưởng trực tiếp đến sự giải phóng insulin của tế bào beta
đảo tụy. Một số nghiên cứu cho rằng đái tháo đưÒTig trong trường họfp này là do
tăng kháng insulin. Nghiên cứu trên những bệnh nhân sử dụng olanzapin và
clozapin cho thấy có hiện tưọng tăng giải phóng insulin và kích thích giai đoạn
kháng insulin [1 0 ].
Cũng có nghiên cứu cho rằng các ATK gây ra hiện tượng giảm dung nạp
glucose, tăng tiết insulin độc lập với hiện tưọfng tăng cân (mức độ gây tăng
đưÒTig huyết của clozapin>quetiapin>haloperidol). Tuy nhiên, ở nồng độ được
nghiên cứu tiến hành trên chuột (haloperidol 0.25 mg/kg, quetiapin 10 mg/kg,
Clozapin 10 mg/kg) thuốc không ảnh hưởng đến hoạt động của insulin trong tế
bào cơ và tế bào mỡ cũng như độ nhạy cảm của insulin. Sự tăng nồng độ glucose
sau tăng pyruvat và glycerol là do tăng nồng độ đường trong gan. Tăng glucose
trong gan sẽ làm tăng giải phóng insulin tương tự như hiện tượng kháng insulin.
Theo nghiên cứu này, sự rối loạn glucose khi sử dụng ATK không phải trực tiếp
do giảm tính nhạy cảm của insulin mà thông qua sự tăng tiết glucagon dẫn đến
kích thích gan sản xuất glucose [39].
LL2.2.Biểu hiện lăm sàng, nguy cơ bệnh tật và các yếu tỏ ảnh hưởng đến
TDKMMgây tăng đường huyết trên BN sử dụng A TK
Đã có khá nhiều nghiên cứu về đái tháo đường trên bệnh nhân sử dụng
ATK. Đối với các bệnh nhân tâm thần nặng, bản thân người bệnh đã có nguy cơ
đái tháo đường lớn hơn so với người bình thường [13]. Với bệnh nhân tâm thần
gen này trên 189 bệnh nhân tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực sử dụng 3
thuốc ATK thế hệ 2 là olanzapin, Clozapin, risperidon và các thuốc ATK thế hệ 1
cho thấy ApoC3 có liên quan đến việc giảm nhẹ nồng độ lipid máu trên cả nồng
độ Cholesterol và triglycerid, đặc biệt với olanzapin và clozapin. ApoA5-1131
SPN có liên quan đến nồng độ Cholesterol cao hơn trên những bệnh nhân sử dụng
ATK thế hệ 1 và thấp hơn ở các bệnh nhân sử dụng ATK thế hệ 2 [32 .
10
1.1.3.2.Biểu hiện lâm sàng, nguy cơ bệnh tật và các yếu tề ảnh hưởng đến
TDKMMgây rối ỉoạn lìpìd huyết trên BN sử dụng ATK
Cùng với TDKMM của thuốc ATK về tăng cân, tăng đường huyết thì rối
loạn lipid huyết là một TDKMM đang rất được quan tâm nghiên cửu hiện nay.
Với lối sống và chế độ ăn chưa được kiểm soát thì nguy cơ rối loạn lipid máu và
hậu quả trên tim mạch của nó là rất cao đối với các bệnh nhân sử dụng thuốc
ATK [9].
Liên quan giữa tăng lipid máu và tăng cân hiện đang là vấn đề gây tranh
cãi và chưa thực sự rõ ràng. Sự tăng lipid máu có thể có liên quan hoặc độc lập
với tác dụng phụ gây tăng cân của thuốc ATK. Một nghiên cứu cắt ngang có đối
chứng trên 242 bệnh nhân được chia thành 3 nhóm dùng Clozapin, olanzapin,
dùng các an thần kinh khác và nhóm còn lại không dùng thuốc. Kết quả cho thấy,
mặc dù có chỉ số cân nặng của các đối tượng nghiên cứu là tương đương nhau
nhưng hai nhóm điều trị bàng Clozapin và olanzapin có tỷ lệ cao hơn đáng kể rối
loạn lipid máu so với nhóm không dùng thuốc. Nhóm bệnh nhân điều trị bằng
các ATK khác có mức tăng lipid trung gian. Điều này rất quan trọng trong việc
đánh giá cũng như tìm biện pháp hạn chế tác dụng phụ gây rối loạn lipid huyết
trong quá trình điều trị bằng các thuốc ATK [7].
Rối loạn lipid máu là tác dụng không mong muốn có tiến triển chậm nhất
so với tăng cân và tăng đường huyết nhưng lại là yểu tố nguy cơ trực tiếp nguy
hiểm nhất đến bệnh tim mạch. Do đó cần phải có sự theo dõi và kiểm soát chặt
chẽ ngay từ đầu và cũng cần được đánh giá lại định kỳ.
1.2. Đánh giá, theo dõi TDKMM trên chuyển hóa
> 140/90 mmHg
2.Triglycerid huyêt tương
> 150 mg/dl
3. HDL-CholesteroI
< 35 mg/dl
<39 mg/dl
4.Chỉ số eo/mông (WHR)
>0,9 >0,85
hoặc BMI
>30 kg/m"
5. Tôc độ albumin bài tiêt
qua nước tiểu
> 2 0 mg/phút
hoặc tỷ lệ albumin/creatinin
> 30 mg/g
12
Hướng dẫn theo theo dõi và đánh giá tác dụng không mong muốn trên
chuyển hóa của thuốc ATK của Bamett và cộng sự nhằm hạn chế các nguy cơ
một cách khá tổng quát. Theo hướng dẫn này, các bệnh nhân điều trị bằng các
thuốc ATK cần phải được theo dõi một cách hệ thống các TDKMM ngay từ lúc
bắt đầu điều trị. Tất cả những vấn đề liên quan đến các TDKMM trên chuyển hóa
đều cần được theo dõi, đó là tiền sử bệnh nhân và gia đình, lối sống, chế độ ăn
uống sinh hoạt Các thông số hóa sinh cần được kiểm tra ngay trước lúc dùng
thuốc và được theo dõi định kỳ. Cân nặng được đo lại mỗi 4 tuần, đường huyết
đo lại ở tuần thứ 4, 8 , 12 và định kỳ mỗi 6 tháng, lipid huyết được đo lại ở tuần
1 2 hoặc định kỳ mỗi 6 tháng [6 ],
Theo hưóng dẫn đồng thuận của Hiệp hội đái tháo đưòng Mỹ- Hiệp hội tâm
thần Mỹ (ADA-APA), các TDKMM trên chuyển hóa của các ATK nên được kiểm
soát như sau:
Bảng 1.2.Hướng dẫn theo dõi TDKMMtrên chuyển hoá của ATK của ADA-APA
X
X
X
Lipỉd huyết
X
X
X
Tiền sử: bao gồm bệnh nhân và gia đình (béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp.
bệnh tim mạch).
Trong một nghiên cứu tổng quan về các hướng dẫn theo dõi, đánh giá
TDKMM trên chuyển hóa của các ATK, các tác giả đã thấy có sự đồng thuận cơ
bản của các hướng dẫn [41],
13
Như vậy, với những TDKMM trên chuyển hóa nghiêm trọng như trên, cần
thiết phải có một liệu trình theo dõi, đánh giá để từ đó có các biện pháp hạn chế
và định hưóng điều trị cho các TDKMM này.
1.2.2.Theo dõi và đánh giá TDKMM gây tăng cân của thuốc ATK
Các thông số đánh giá mức độ gây tăng cân của ATK bao gồm có chỉ số
khối cơ thể (Body mass index-BMI) và chỉ số eo mông (Waist-Hip ratio-WHR).
- Chi số khối cơ thể ( BMI)
BMI = Cân nặng/ chiều cao“ (kg/m^ ).
BMI ỉà chỉ số thông dụng nhất dùng để phân loại tình trạng cân nặng. Theo
WHO, phân loại cân nặng theo BMI được đánh giá như sau:
Bảng 13.Phân loại quốc tế cân nặng theo BMI của người lớn của WHO 2009
Phân loại
BMI (kg/m" )
Các giói hạn chính
Các giói hạn bô sung
Dưới mức trung bình
<18,50
37,50-39,99
Béo phì độ 3
> 40,00
> 40,00
14
- Chỉ số tỷ lệ vòng eo vòng mông
WHR= vòng eo/ vòng mông.
Tỷ lệ vòng eo/ vòng mông (WHR) là chỉ số được rất nhiều nghiên cứu
hiện nay sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì và nguy cơ trên các bệnh tim
mạch. WHR cho thấy rõ ràng hoTi sự phân bố mỡ ở các mô nội tạng vùng bụng là
yếu tố nguy cơ cao của các bệnh tim mạch. Chỉ số này được cho là có khả năng
đánh giá chính xác hơn so với BMI [37]. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của
WHO (1999), tỷ lệ eo/mông có nguy cơ cao là từ 0,9 trở lên đối với nam và 0,85
trở lên đối với nữ.
Tăng cân là TDKMM rõ ràng và sớm nhất trong số 3 tác dụng không
mong muốn trên chuyển hóa đang được nghiên cứu. Tăng cân xảy ra ngay từ
tuần điều trị đầu tiên và trong vòng 4 tuần đầu điều trị đã cho thấy sự thay đổi
cân nặng rõ ràng có ý nghĩa thống kê [2 1 ], cần đánh giá và theo dõi ngay từ lúc
bắt đầu điều trị để giúp bệnh nhân sớm có các biện pháp hạn chế TDKMM này.
Theo các hướng dẫn theo dõi chung TDKMM trên chuyển hoá của BN
dùng thuốc ATK, cân nặng và các chỉ số liên quan có thể được đánh giá lại sau
mỗi 4 tuần (theo hướng dẫn của ADA-APA-Bảng 1.3).
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến TDKMM trên chuyển hóa của thuốc ATK
Loại thuốc ATK được cho là yếu tố quan trọng nhất và được nghiên cứu
nhiều nhất khi đánh giá TDKMM trên chuyển hoá của nhóm thuốc này. Ngoài ra
một số yếu tố có thể có ảnh hưởng cũng được đưa vào khảo sát.
Đã có một số nghiên cứu sàng lọc đánh giá TDKMM trên chuyển hoá của
BN sử dụng ATK, trong đó các yếu tố ảnh hưởng được đưa vào phân tích như độ
tuổi, giới tính, sắc tộc, tiền sử BN và gia đình, thói quen hút thuốc và các chỉ tiêu
đánh giá HCCH. Các yếu tố này được cho là có mối liên quan đáng kể đến
nhóm dùng Clozapin, olanzapin, dùng các an thần kinh khác và nhóm còn lại
kliông dùng thuốc cũng cho kết quả tương tự [7].
16
Tóm lại, loại thuốc ATK là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến TDKMM
trên chuyển hoá ở BN dùng thuốc, trong đó clozapin và olanzapin là hai thuốc
gắn với nguy cơ cao nhất gây HCCH.
1.3.2.Tuổi và giói tính
Một số nghiên cứu đã khẳng định rằng, trẻ em là đối tưọng có mức độ gặp
TDKMM trên chuyển hoá, đặc biệt là tăng cân, nhanh và nhiều hơn so với người
lớn. Tuy nhiên, các dữ liệu về ảnh hưởng của ATK lên quá trình phát triển ở trẻ
còn rất hạn chế [9]. Mặc dù khái niệm “hội chứng chuyển hoá” không áp dụng
trên trẻ em vì các tiêu chí chưa được thiết lập, tuy nhiên có thể khẳng định rằng
trẻ em là lứa tuổi có nguy cơ tăng cân cao hơn đáng kể so với người lớn khi sử
dụng thuốc ATK, đặc biệt trẻ tuổi càng nhỏ càng có nguy cơ cao. Chưa có dữ
liệu về nguy cơ phát triển đái tháo đường và rối loạn lipid máu ở trẻ em [29].
Khi phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến vấn đề tăng cân với
olanzapin cho thấy tần suất và mức độ gây tăng cân của olanzapin phụ thuộc vào
tuổi và giới tính. Phụ nữ trên 40 được đánh giá có nguy cơ tăng cân cao hơn so
với phụ nữ dưới 40 và nam giới [15].
Đa số các nghiên cứu dịch tễ về TDKMM trên chuyển hoá của ATK cho
thấy tỷ lệ BN nữ gặp TDKMM cao hơn so với nam giới [10], [16].
1.3.3. Chủng tộc
Nghiên cứu trên người Mỹ cũng như một số quốc gia châu Âu khác đều
cho thây người da đen được cho là có nguy cơ gặp TDKMM trên chuyển hoá cao
hơn là người da trắng [23]. Đa số các nghiên cứu tiến hành tại các nước phát triển
(Mỹ, Canada ) và cho thấy một tỷ lệ cao BN tiến triển HCCH. Các nghiên cứu
tiến hành ở các nước châu Á còn hạn chế. Tuy nhiên so sánh kết quả của một số
nghiên cứu cho thấy dường như ở người châu Á có tỷ lệ tiến triển thành HCCH
thấp hơn người châu Ẩu [16], [43],
1.3.4. Thói quen sinh hoạt