ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
( Vòng 2)
Năm học: 2013 – 2014
Môn: Ngữ văn
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (4.0 điểm) Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết:
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Em hiểu thế nào về “chữ tâm” và “chữ tài” của nhà thơ trong tác
phẩm này? (Yêu cầu: chỉ viết ngắn gọn khoảng 02 trang giấy thi).
Câu 2 (2.0 điểm) “Không có khả năng tự học, chúng ta sẽ không tiến xa
được trên con đường học vấn và sự nghiệp của mình”.
Coi câu trên là câu chốt (câu chủ đề), hãy viết tiếp thành đoạn văn
khoảng 8 đến 10 câu văn theo lập luận Tổng hợp – Phân tích – Tổng hợp
trong đó có sử dụng một câu hỏi tu từ. (Hãy gạch chân câu hỏi này và
đánh số thứ tự các câu văn trong đoạn văn).
Câu 3 (4.0 điểm) Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng,
rồi buông tay mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con,…”
(Theo Lí Lan, Cổng trường mở ra)
Từ việc người mẹ không “cầm tay” dắt con đi tiếp mà “buông
tay” để con tự đi, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi)
bàn về tính tự lập.
Câu 4 (10 điểm) Hình tượng người cha trong hai tác phẩm “Lão Hạc” của
Nam Cao và “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HUYỆN THANH OAI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH OAI
HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
( Vòng 2)
Năm học: 2013 – 2014
Môn: Ngữ văn
Kiều” nói riêng và các sáng tác của Nguyễn Du nói chung ( HS nêu dẫn
chứng chứng minh) (1,0đ).
Câu 2. (2.0 điểm):
Đây là câu hỏi cùng lúc đặt ra nhiều yêu cầu với thí sinh: kỹ năng
viết văn nghị luận xã hội, kỹ năng viết đoạn văn, viết câu hỏi tu từ, thể
hiện kiến thức xã hội.
Đoạn văn dù viết thế nào cũng phải bám vào vấn đề nghị luận (vấn
đề tự học): khái niệm tự học/các hình thức tự học/giá trị của tự học/thực
trạng/ giải pháp tự học…)
- Viết không đủ số câu (quá ngắn hoặc quá dài mà không sát đề): trừ 0.5 điểm.
- Không đúng về kiểu lập luận của đoạn văn/sai quy cách đoạn văn: trừ
1.0 điểm.
- Thiếu câu hỏi tu từ: trừ 0.5 điểm.
- Đảm bảo những yêu cầu hình thức, nhưng nội dung không có sức thuyết
phục: trừ 1.5 điểm.
Câu 3 (4 điểm).
Mở bài: ( 0,5 đ)Nêu lại câu văn trên đề bài để dẫn đến tính tự lập
Khi còn nhỏ, chúng ta sống trong sự bao bọc của ông bà, cha mẹ
nhưng không phải lúc nào người thân yêu cũng ở bên cạnh chúng ta. Bàn
tay dìu dắt của cha mẹ, đến một lúc nào đó cũng phải buông ra để chúng
ta độc lập bước vào đời. Hai chữ “buông tay” trong câu văn của Lý Lan
như một bước ngoặt của hai trạng thái được bao bọc, chở che và phải một
mình bước đi. Việc phải bước đi một mình trên đoạn đường còn lại chính
là một cách thể hiện tính tự lập.
Thân bài:
+ Giải thích: tự lập là gì? ( nghĩa đen: tự đứng một mình, không có
sự giúp đỡ của người khác. Tự lập là tự mình làm lấy mọi việc, không
dựa vào người khác).
Người có tính tự lập là người biết tự lo liệu, tạo dựng cuộc sống
cho mình mà không ỷ lại, phụ thuộc vào mọi người xung quanh ( 0,5 đ).
tác phẩm văn học Cách mạng của Nguyễn Quang Sáng.
- Không chỉ thấy nét riêng ở nội dung tư tưởng, mà cả ở cả bút
pháp nghệ thuật của mỗi tác phẩm.
II. Yêu cầu cụ thể:
HS có thể có nhiều cách triển khai bài làm, nhưng cuối cùng hướng
tới các ý cơ bản sau:
1 . Nét chung (1,0 điểm, mỗi ý đúng 0,5đ):
- Hai tác phẩm cùng hướng tới một đề tài: thể hiện vẻ đẹp tình phụ
tử của con người Việt Nam. Lão Hạc (Lão Hạc) và ông Sáu (“Chiếc lược
ngà”) đều là những người cha yêu con hết mực, hết lòng hi sinh cho con.
- Đều thể hiện bằng thể loại truyện ngắn, xúc động, hấp dẫn, chân thực…
2. Nét riêng: mỗi tác phẩm gắn với một giai đoạn lịch sử, một khuynh hướng
sáng tác, một cá tính sáng tạo…nên có những phát hiện, thể hiện riêng.
a. Hình tượng người cha trong “Lão Hạc” của Nam Cao (4 điểm).
- Truyện ngắn “Lão Hạc” ra đời trước cách mạng tháng Tám, tiêu
biểu cho phong cách Nam Cao ở giai đoạn này.
- Lão Hạc là một người nông dân lương thiện, người cha nhân hậu, có
trách nhiệm, dành hết yêu thương cho con, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng cho con
(day dứt khi con không có tiền cưới vợ, chăm con chó - kỉ vật của con, chuẩn bị
cái chết để không ảnh hưởng đến tương lai của con…).
- Sống trong xã hội cũ, người cha ấy thương con, nhưng bế tắc vì
quá nghèo khổ, một người cha đáng trọng nhưng cũng rất đáng thương.
Cái chết của lão thật cao thượng, nhưng xót xa, tương lai của đứa con lão
cũng mịt mờ, bế tắc.
- Nam Cao đã khắc họa thành công người cha bằng bút pháp hiện
thực đẫm chất nhân đạo: tạo tình huống bất ngờ, miêu tả ngoại hình, phân
tích nội tâm ngôn ngữ vừa giàu chất trữ tình, vừa có chất triết lí…
b. Hình tượng người cha trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang
Sáng. ( 4 điểm)
- Truyện viết giữa lúc chiến tranh chống Mỹ diễn ra ác liệt (1966),
trên cơ sở ý cơ bản, có những phát hiện riêng, độc đáo. Tuy nhiên sự sáng
tạo phải có logic, có sức thuyết phục…