SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HẢI DƯƠNG
KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH
LỚP 9 THCS NĂM HỌC 2013 - 2014
Môn: Ngữ Văn
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi 20 /3/ 2014
(Đề thi gồm: 01 trang)
Câu 1(2điểm):
Gặp gỡ và sáng tạo của các nhà thơ qua những câu thơ sau:
“… Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”…
(Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du)
“…Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc”…
(Trích “Mùa xuân nho nhỏ”- Thanh Hải)
Câu 2 (3 điểm):
Câu chuyện về Chim Én và Dế Mèn
Mùa xuân đất trời rất đẹp. Dế Mèn thơ thẩn ở cửa hang, hai con Chim Én
thấy tội nghiệp bèn rủ Dế Mèn dạo chơi trên trời. Mèn hốt hoảng. Nhưng sáng
kiến của Chim Én đưa ra rất giản dị: Hai chú Chim Én ngậm hai đầu của một
cọng cỏ khô, Mèn ngậm vào giữa. Thế là cả ba cùng bay lên. Mây nồng nàn, trời
đất gợi cảm, cỏ hoa vui tươi, Dế Mèn say sưa.
Sau một hồi miên man, Mèn ta chợt nghĩ bụng: “Ơ hay việc gì ta phải
gánh hai con Én này trên vai cho mệt nhỉ? Sao ta không quẳng gánh nợ này đi
để dạo chơi một mình có sướng hơn không?”. Nghĩ là làm, Mèn há mồm ra. Nó
rơi vèo xuống đất như một chiếc lá lìa cành.
(Theo Đoàn Công Huy trong mục “Trò chuyện đầu tuần” của báo Hoa học trò)
Suy nghĩ của em từ câu chuyện trên?
Câu 3 ( 5 điểm):
Điều còn lại mà chiến tranh không thể lấy đi trong tác phẩm “Chiếc lược
đặc trưng của mùa xuân.
+ Bút pháp: Giàu chất hội họa, bức tranh có đường nét, màu sắc hài hòa,
thanh nhã.
+ Cảm xúc của thi nhân: thiết tha, say sưa, thể hiện tình yêu mùa xuân tha
thiết.
- Sáng tạo riêng của các nhà thơ (0,5 điểm):
+ Mỗi tác giả lại chọn những hình ảnh thơ khác nhau: Trong thơ của
Nguyễn Du là “cỏ non”, “hoa lê” tạo ra bức tranh xuân khoáng đạt, trong trẻo,
tinh khôi; trong thơ của Thanh Hải lại là “dòng sông”, “bông hoa tím” để tạo
nên bức tranh thơ mộng, dịu dàng rất Huế.
+ Vận dụng các thể thơ khác nhau: Thể thơ lục bát tạo âm hưởng ngọt
ngào trong thơ của Nguyễn Du, còn Thanh Hải với thể thơ ngũ ngôn gợi chất
nhạc thiết tha, trong sáng.
- Đánh giá (0,5 điểm):
+ Sự gặp gỡ là do các nhà thơ đều có chung một nguồn thi hứng.
+ Sự sáng tạo là yếu tố quan trọng của thi ca, điểm khác nhau ở những
câu thơ là do hai nhà thơ ở hai thời đại khác nhau và tâm thế sáng tạo của mỗi
thi nhân cũng khác nhau.
+ Hai nhà thơ đã góp vào thi ca những vần thơ tuyệt tác.
Câu 2(3 điểm):
1. Yêu cầu:
a. Yêu cầu về kĩ năng:
2
BẢN CHÍNH
- Thí sinh biết vận dụng kết hợp các thao tác nghị luận để làm bài văn nghị luận
xã hội.
- Bài viết rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt sáng rõ, lưu loát.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày bài viết theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo một
số ý cơ bản sau:
hợp lý song có thể còn mắc lỗi nhỏ về diễn đạt, dùng từ.
- Điểm 1: Bài làm được một nửa số ý. Mắc một số lỗi về diễn đạt.
- Điểm 0: Chưa làm được gì hoặc làm hoàn toàn lạc đề.
*Tùy bài làm cụ thể của thí sinh, giám khảo cho các thang điểm lẻ thích hợp
Câu 3: (5 điểm)
1. Yêu cầu:
a. Yêu cầu về kĩ năng
- Bài làm có bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết bài hoàn chỉnh, mạch
lạc.
3
- Biết vận dụng linh hoạt các phép lập luận đã học.
- Diễn đạt trong sáng, giàu cảm xúc.
- Không mắc lỗi về câu, từ, chính tả.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Bài làm có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo
các ý cơ bản sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, trích dẫn ý kiến.
- Giải thích:
+ Điều còn lại: những điều thiêng liêng có giá trị vượt lên trên sự hủy diệt
của chiến tranh, vượt lên trên thời gian để tồn tại vĩnh cửu.
+ Tính chất của chiến tranh: tàn khốc, hủy diệt, gây ra sự sinh ly tử biệt.
+ Trong truyện “Chiếc lược ngà”, chiến tranh đã tàn phá thân thể, lấy đi
sinh mạng, gây ra đau thương, chia cắt tình cảm của con người.
- Những điều còn lại mà chiến tranh không thể lấy đi trong tác phẩm
“Chiếc lược ngà”:
+ Lí tưởng sống cao đẹp, lòng yêu nước (người chiến sĩ cách mạng không
đánh mất mình, luôn kiên định với lí tưởng sống cao đẹp).
. Sẵn sàng từ giã vợ trẻ, con thơ để lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.
. Nén tình riêng để tiếp tục ra đi sau những ngày nghỉ phép.
. Hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân cho đất nước.