Khảo sát nhận thức và hiểu biết của nhân viên y tế, người nhà bệnh nhân về đau và các biện pháp giảm đau sau phẫu thuật - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI VŨ TƢ THƢƠNG

KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ
HIỂU BIẾT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ,
NGƢỜI NHÀ BỆNH NHÂN VỀ ĐAU
VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM ĐAU
SAU PHẪU THUẬT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI - 2013

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI VŨ TƢ THƢƠNG

KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ
HIỂU BIẾT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ,
NGƢỜI NHÀ BỆNH NHÂN VỀ ĐAU

khối ngoại – Bệnh viện Nhi Trung ƣơng
Phòng đào tạo và phòng kế hoạch tổng hợp – Bệnh viện Nhi
Trung ƣơng
Các cán bộ, giáo viên, kỹ thuật viên Bộ môn Dƣợc lực – trƣờng
Đại học Dƣợc Hà Nội
Đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng kính yêu và biết ơn tới gia đình, bạn bè đã
luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên



MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN 3
1.1. ĐAU 3
1.1.1. Tình hình dịch tễ 3
1.1.2. Khái niệm đau, phân loại cảm giác đau, vai trò của đau 4
1.2. ĐAU Ở TRẺ EM 6
1.2.1. Vấn đề điều trị đau ở trẻ em 6
1.2.2. Đặc điểm đau ở trẻ em 7
1.2.3. Đánh giá đau ở trẻ sơ sinh và trẻ em 8
1.2.4. Các công cụ đánh giá đau 9

Chƣơng 3 – KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26
3.1. KẾT QUẢ 26
3.1.1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu 26
3.1.2. Mối quan tâm, nhận thức và hiểu biết của ngƣời nhà bệnh nhân về
đau và các biện pháp giảm đau cho bệnh nhi sau phẫu thuật. 28
3.1.3. Mối quan tâm, nhận thức và hiểu biết của nhân viên y tế về đau
và các biện pháp giảm đau cho bệnh nhi sau phẫu thuật. 35
Chƣơng 4 - BÀN LUẬN 38
4.1. Về đặc điểm mẫu nghiên cứu 38
4.2. Về mối quan tâm, nhận thức và hiểu biết của ngƣời nhà bệnh
nhân về đau và các biện pháp giảm đau cho bệnh nhi sau phẫu thuật 39
4.3. Về mối quan tâm, nhận thức và hiểu biết của nhân viên y tế về
đau và các biện pháp giảm đau cho bệnh nhi sau phẫu thuật 42
Chƣơng 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1. KẾT LUẬN 46
5.2. KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT


FPS-R
Faces Pain Scale-Revised (thang gƣơng mặt đau sửa đổi)
VAS
Visual analogue scale (thang ƣớc lƣợng bằng mắt)
NRS
Numerical rating scales (thang số)

3.6
Các biện pháp giảm đau không dùng thuốc của ngƣời nhà
bệnh nhân
31
3.7
Khả năng nhớ tên thuốc giảm đau của ngƣời nhà bệnh nhân
33
3.8
Kết qủa trao đổi thông tin giữa nhân viên y tế và ngƣời nhà
bệnh nhân
34
3.9
Mối quan tâm, nhận thức của nhân viên y tế về tầm quan
trọng của việc kiểm soát đau sau phẫu thuật
35
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Sơ đồ dẫn truyền đau
Phụ lục 3
1.2
Thang COMFORT
Phụ lục 4
1.3
Thang FLACC

Thời điểm dùng thuốc giảm đau cho trẻ
32
3.6
Khả năng nhớ liều lƣợng thuốc và số lần dùng thuốc giảm
đau mà bác sĩ kê cho trẻ
33
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay đau đƣợc xem là một trong năm dấu hiệu sống (5
th
Vital Sign) cần
đƣợc theo dõi và điều trị. Phẫu thuật là một trong những nguyên nhân quan trọng
gây đau sau mổ, và mặc dù đó là điều tệ hại nhất mà trẻ phải trải qua trong quá trình
nằm viện, nhƣng nó đã bị đánh giá thấp và thực sự đƣợc chữa trị kém, tụt hậu hơn
so với ở ngƣời lớn trong nhiều năm qua. Việc điều trị không thỏa đáng các cơn đau
sau phẫu thuật ở trẻ em lần đầu tiên đƣợc nhấn mạnh hơn 20 năm trƣớc đây [49].
Một cuộc khảo sát tại thời điểm đó phát hiện ra rằng 40% trẻ em sau phẫu thuật trải
qua cảm giác đau ở mức trung bình hoặc nặng và 75% không đƣợc giảm đau thích
hợp [49]. Trong năm 2006, hai nghiên cứu lớn về quản lý đau ở trẻ sơ sinh ở
Australia và New Zealand tiết lộ hầu hết các cơ sở y tế không thƣờng xuyên thực
hiện đánh giá đau và không có phác đồ rõ ràng cho điều trị đau gây ra bởi phẫu
thuật. Chỉ có 1/3 cơ sở thƣờng sử dụng các phƣơng pháp để giảm đau cho trẻ sơ
sinh trải qua phẫu thuật. Một nghiên cứu cho thấy hầu hết trẻ em trải qua đau sau
mổ không đáng có, với 15% trải qua cơn đau nghiêm trọng [12]. Đau ở trẻ em gây
ra căng thẳng không chỉ cho chúng mà còn cho cha mẹ và nhân viên y tế. Đau ở trẻ
sơ sinh, trẻ em có tác động tiêu cực tƣơng tự nhƣ ở ngƣời lớn. Nếu không điều trị
kịp thời, cơn đau cấp có thể gây ra tăng huyết áp, tăng nhịp tim, ứ trệ tuần hoàn…,

nhân v n pháp ginh nhi sau phu thut.
2. Kho sát mi quan tâm, nhn thc và hiu bit ca nhân viên y t v
 các bin pháp ginh nhi sau phu thut. 3
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN
1.1. ĐAU
1.1.1. Tình hình dịch tễ
Đau là một trong những lý do phổ biến nhất khiến bệnh nhân tìm đến sự
chăm sóc y tế. Đau cũng thƣờng xuyên bị phàn nàn bởi bệnh nhân, và là một trong
những khiếu nại y tế phổ biến [3], [11], [46]. Theo một báo cáo giảm đau của viện
báo cáo Y học Hoa Kỳ (Institute of Medicine Report) năm 2010, hơn 100 triệu
ngƣời Mỹ chịu đau mạn tính, 60% ngƣời từ 65 tuổi trở lên cho biết họ đã trải qua
đau kéo dài một năm hoặc nhiều hơn. Hàng triệu ngƣời Mỹ từng trải nghiệm đau đã
bị ảnh hƣởng sâu sắc đến chất lƣợng cuộc sống. Đau gây ra hao phí thời gian làm
việc ở những ngƣời lao động. Ngoài ra, trong những năm gần đây, sự chú ý của các
quốc gia đã tập trung vào sự lạm dụng thuốc kê đơn, đặc biệt là opioid. Tử vong do
quá liều thuốc tại Mỹ vƣợt quá 36.000 ca mỗi năm, trong đó hơn 55% các trƣờng
hợp liên quan đến sử dụng thuốc kê đơn. Opioid đã chiếm gần 75% của 20.000 ca
về quá liều thuốc kê đơn gây tử vong đƣợc báo cáo trong năm 2008 [3].
Phẫu thuật là một trong những nguyên nhân quan trọng gây đau cấp tính và
cần phải đƣợc kiểm soát đầy đủ. Giảm đau không đủ sau phẫu thuật gây khó chịu,
làm tăng biến chứng, kéo dài thời gian hồi phục. Nó còn để lại hậu quả xấu về mặt
sinh lý và tâm lý cho bệnh nhân và tốn kém về mặt tài chính. Giảm đau không đủ
sau phẫu thuật là một vấn đề lớn trên toàn thế giới. Rất nhiều cuộc điều tra trong
một thời gian dài cho thấy nhiều bệnh nhân vẫn bị đau từ trung bình đến nặng sau

Tuy nhiên, nếu đau quá mức cũng đem lại những tác động xấu tới từng cá thể
ngƣời bệnh, tùy vào cơn đau cấp tính, hay đau mạn tính.
 Tác động tiêu cực ngắn hạn của cơn đau cấp tính bao gồm:
 Gây khó chịu về cảm xúc và thể chất cho bệnh nhân
 Rối loạn giấc ngủ (với tác động tiêu cực đến tâm trạng và hoạt động)
 Tác dụng phụ trên tim mạch (nhƣ cao huyết áp, nhịp tim nhanh), gây ra ứ trệ
trong lƣu động máu và thúc đẩy huyết khối
 Tăng tiêu thụ oxy (với tác động tiêu cực trong trƣờng hợp của bệnh động
mạch vành), ảnh hƣởng đến chức năng hô hấp.
5
 Rối loạn nhu động ruột (opioid gây ra táo bón hoặc buồn nôn, hoặc không
đƣợc điều trị đau cũng là một nguyên nhân gây giảm nhu động ruột hoặc nôn, buồn
nôn sau phẫu thuật) [18].
 Tác động tiêu cực lâu dài của cơn đau cấp tính bao gồm [18]:
 Đau cấp tính nặng là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển thành đau mạn
tính [18]. Đau mạn tính làm ảnh hƣởng nhiều đến thể chất, tâm lý của ngƣời bệnh,
nó gây mất sức, giảm vận động, rối loạn giấc ngủ, suy giảm miễn dịch, dễ mắc bệnh
nhiễm khuẩn, gây chán chƣờng, phụ thuộc vào thuốc, phụ thuộc vào các thành viên
trong gia đình và những ngƣời chăm sóc khác. Đau mạn tính cũng để lại một gánh
nặng kinh tế tƣơng đối lớn. Những ngƣời bị đau mạn tính có khả năng gặp khó khăn
trong công việc gấp hai lần [12].
 Đau cấp tính nặng có nguy cơ làm thay đổi hành vi ở trẻ em trong một thời
gian dài (lên đến 1 năm) sau khi phẫu thuật. Trẻ sẽ có nguy cơ hình thành “bộ nhớ
đau”, do đó để lại một số hậu quả về thể chất và tâm lý cho tới khi lớn [1], [12],
[13], [18].
1.1.2.3. Phân lo
Cơ chế bệnh sinh của đau liên quan đến hoạt động phức tạp của mạng lƣới hệ

những hậu quả xã hội.
1.2. ĐAU Ở TRẺ EM
1.2.1. Vấn đề điều trị đau ở trẻ em
Đau hiện diện nhƣ là một triệu chứng đáng sợ nhất của bệnh, và mặc dù là
điều tệ hại nhất mà trẻ phải trải qua trong quá trình nằm viện, nhƣng nó đã bị đánh
giá thấp và thực sự đƣợc chữa trị kém trong nhiều năm [8]. Vì vậy mà Hiệp hội Nhi
khoa Mỹ (American Academy of Pediatrics) và Hội đau Mỹ (American Pain
Society) đã ban hành một tuyên bố chung với thế giới rằng đau phải đƣợc công
nhận và điều trị tích cực hơn ở trẻ em. Các hƣớng dẫn đƣợc cung cấp bởi các tổ
chức nhƣ Hội đau Mỹ, cơ quan nghiên cứu và đánh giá chất lƣợng chăm sóc sức
khỏe (AHRQ)…đã đƣa ra các kết luận về thử nghiệm giảm đau ở trẻ em để cung
cấp bằng chứng cho các hƣớng dẫn điều trị sau này. Họ chỉ ra một số quan niệm sai
lầm có thể dẫn đến chữa trị đau kém hiệu quả ở trẻ em nhƣ sau [3]:
7
 Quan niệm sai lầm cho rằng trẻ sơ sinh và trẻ em không cảm thấy đau đớn,
hoặc cảm thấy đau ít hơn ngƣời lớn.
 Thiếu đánh giá đau thƣờng xuyên ở trẻ em.
 Thiếu kiến thức liên quan đến phƣơng thức mới và phác đồ thích hợp cho
việc sử dụng thuốc giảm đau ở trẻ em.
 Những lo ngại về suy hô hấp hoặc tác dụng phụ của các thuốc giảm đau khác.
 Quan niệm rằng ngăn ngừa cơn đau ở trẻ em tốn nhiều thời gian và nỗ lực.
Hiện nay, bức màn bí mật về con đƣờng dẫn truyền đau ở não trẻ đã đƣợc
vén lên. Cùng với đó là sự phát triển và xác nhận các công cụ đánh giá đau cho trẻ
em mà điều trị đau ở trẻ em đã có tiến bộ lớn trong thập kỷ qua. Quản lý đau sau
phẫu thuật không chỉ giảm thiểu đau đớn của bệnh nhân mà còn giảm tỉ lệ mắc
bệnh, nhanh chóng phục hồi, nhanh chóng đƣợc xuất viện và do đó chi phí chữa
bệnh cũng giảm đi. Năm 1786, Thomas Jefferson đã viết: “Ngh thut ca cuc

đáp ứng với các yếu tố độc hại khác nhau ở các giai đoạn phát triển khác nhau [3].
Đo lƣờng đau là điều cần thiết để quản lý điều trị đau tốt. Mức độ nghiêm
trọng về đau sau phẫu thuật nên đƣợc đo thƣờng xuyên để đánh giá nhu cầu thuốc
giảm đau và đáp ứng điều trị. Một số công cụ đánh giá đau đã ra đời. Phƣơng pháp
để đo lƣờng đau ở trẻ em có thể đƣợc chia thành 3 loại [14]:
 Tự báo cáo: bao gồm các thang điểm hỏi, thang số và thang hình.
 Các biện pháp đo lƣờng đau dựa vào hành vi: bao gồm đáp ứng vận
động, nét mặt, khóc và phản ứng hành vi phức tạp. Các thang cho phép các quan sát
viên đánh giá đau dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của những hành động đƣợc
cho là liên quan đến đau. Tuy nhiên mọi trẻ em đều có những chiến lƣợc cá nhân để
đối phó với đau, hành vi có thể không đặc hiệu cho dự đoán mức độ đau [38].
 Các biện pháp đo lƣờng dựa vào thông số sinh lý của đau: bao gồm
những thay đổi của nhịp tim và huyết áp…Do đó, có thể đánh giá đau dựa trên các
thông số khác nhau, mà các thông số này có thể đƣợc đo trực tiếp bên giƣờng bệnh
hoặc trong phòng thí nghiệm.
9
T báo cáo: Khi tự báo cáo là biện pháp trực tiếp chỉ ra cơn đau, nó thƣờng
đƣợc coi là “tiêu chuẩn vàng” về đánh giá mức độ đau [43]. Các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng trẻ em từ 18 tháng tuổi đã có thể dùng từ để nói về đau, nhƣ trẻ 3 tuổi có thể
bày tỏ và xác định đau khá chính xác với sự giúp đỡ của các thang đánh giá đau, và
trẻ có thể tự chỉ đến khu vực cơ thể, nơi chúng đang bị đau [38]. Thật không may,
điều này chỉ có thể đánh giá ở trẻ đủ khả năng nhận thức và giao tiếp. Ở trẻ dƣới 1
tuổi hoặc những trẻ dị tật về nhận thức, việc tự đánh giá là khó, do đó cần dựa vào
đánh giá quan sát hành vi, thông số sinh học [22]. Một biện pháp quan sát hành vi
nên sử dụng kết hợp với tự báo cáo với trẻ 3-5 tuổi [9]. Để đau đƣợc đo càng chính
xác càng tốt, nên dựa vào các nguyên tắc làm cơ sở cho đánh giá ở các lứa tuổi khác
nhau [7]. Ngƣời hỏi nên kiên nhẫn và dùng ngôn từ thích hợp với trẻ. Tốt hơn hết là

Ireland, một số công cụ đánh giá đau sau phẫu thuật hay đƣợc sử dụng cho trẻ có
nhận thức/phát triển bình thƣờng nhƣ sau:
Bng 1.1. Công c u thut hay s dng cho tr [7]


Mới sinh – 3 tuổi
COMFORT hoặc FLACC
4 tuổi
FPS-R + COMFORT hoặc FLACC
5 – 7 tuổi
FPS-R
7 tuổi trở lên
VAS hoặc NRS hoặc FPS-R
1.3. QUẢN LÝ ĐAU CẤP TÍNH SAU PHẪU THUẬT
1.3.1. Mục tiêu của giảm đau cấp tính sau phẫu thuật
 Cải thiện chất lƣợng sống của bệnh nhân.
 Tạo điều kiện thuận lợi để phục hồi nhanh chóng, phục hồi chức năng.
 Giảm tỉ lệ mắc bệnh.
 Giảm thời gian nằm viện [13], [18].
11
1.3.2. Nhiệm vụ của nhân viên y tế trong quản lý đau sau phẫu thuật
1.3.2.1. Nhn thc v 
Nhân viên y tế cần có kiến thức phù hợp về đau cũng nhƣ hiểu biết các
nguyên tắc chung về đánh giá và quản lý cơn đau ở trẻ em, gồm kiến thức về kỹ
thuật đánh giá đau và sử dụng thuốc giảm đau tùy theo lứa tuổi [7]. Nhƣ vậy nhân
viên y tế cần đƣợc đào tạo thƣờng xuyên để sử dụng các công cụ đánh giá đau và
thành thạo trong việc sử dụng chúng. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng nhân viên

động tham gia đánh giá đau và sử dụng công cụ thích hợp [53].
Lựa chọn công cụ đánh giá: Không có biện pháp đo lƣờng nào có thể đƣợc
sử dụng rộng rãi để đánh giá đau trên tất cả trẻ em hoặc ở mọi hoàn cảnh. Vì vậy
mỗi nhân viên y tế cần có những lựa chọn công cụ để sử dụng. Có nhiều hình thức
lựa chọn, phụ thuộc vào tuổi, sự phát triển thần kinh và nhận thức của trẻ [16], [49].
Tốt nhất là kết hợp: đặt câu hỏi về đau với trẻ em và cha mẹ chúng, sử dụng một
thang đánh giá đau, đánh giá thay đổi hành vi và sinh lý [7], [38], [22].
Một nghiên cứu cho thấy việc đánh giá của điều dƣỡng trong quản lý đau sau
mổ là không đầy đủ. Một số báo cáo chỉ ra rằng điểm đau trong tài liệu của các
nhân viên y tế là thấp hơn đáng kể so với điểm số báo cáo của các bệnh nhân [28],
[53]. Vì vậy, những vấn đề mà nhân viên y tế cần chú ý khi đánh giá đau sau phẫu
thuật cũng gồm những điều sau đây [18], [26], [42], [53]:
 Đánh giá đau cả lúc nghỉ và lúc vận động để đánh giá tình trạng chức năng
của bệnh nhân.
 Chú ý ghi lại kết quả đánh giá đau gồm: cƣờng độ, tần số, vị trí, thời gian và
khoảng thời gian giữa các cơn đau, yếu tố làm nặng thêm hoặc dịu đi cơn đau,
phƣơng pháp điều trị trƣớc đây và hiệu quả của nó.
 Đánh giá đau trƣớc và sau mỗi lần điều trị can thiệp để xác định hiệu quả
điều trị.
 Ở các đơn vị gây mê hồi sức sau phẫu thuật, cần đánh giá cƣờng độ đau và
đánh giá lại thƣờng xuyên (mỗi 15 phút đầu, sau đó mỗi 1-2 giờ khi cƣờng độ đau
đã giảm). Ở khoa điều trị, nhân viên y tế cần đánh giá và đánh giá lại thƣờng xuyên
(mỗi 4-8 giờ) cả đau và đáp ứng điều trị của bệnh nhân.
13
 Xác định điểm đau tối đa khi đã dùng thuốc giảm đau (ngƣỡng can thiệp).
 Khi có đau dữ dội bất ngờ, đặc biệt nếu có dấu hiệu sống thay đổi (hạ huyết
áp, nhịp tim nhanh, sốt), ngay lập tức đánh giá.

đến quản lý đau của trẻ em. Đó là, khi cha mẹ có nhiều quan niệm sai lầm, không
chắc chắn về sử dụng thuốc giảm đau ở trẻ em, cũng nhƣ nỗi lo sợ tác dụng phụ và
nguy cơ nghiện thuốc giảm đau nên họ đã cung cấp cho trẻ em ít liều thuốc giảm
đau. Do đó họ cho rằng thuốc giảm đau chỉ đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng sách
cuối cùng, và paracetamol chỉ dùng cho cơn đau nghiêm trọng [24], [39].
Vì vậy, nhận thức đúng đắn của cha mẹ về đau sẽ giúp họ đối phó tốt hơn với
tình hình bệnh của trẻ [38]. Sự hiểu biết và hỗ trợ từ cha mẹ là rất hữu ích trong
quản lý đau cho trẻ vì hơn ai hết, cha mẹ là ngƣời hiểu rõ con mình nhất. Khi trẻ em
có thể không yêu cầu giảm đau nhƣ ngƣời lớn có thể làm, cha mẹ phải thực hiện
mọi nỗ lực để dự đoán cơn đau, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh và trẻ em không thể thể
hiện bản thân bằng lời nói [38].
Một câu hỏi đặt ra là trẻ em có luôn nói với bạn khi nó đau không? Ngay cả
khi chúng có kỹ năng giao tiếp đầy đủ, có một số lý do trẻ em có thể không báo cáo
đau. Trẻ em có thể sợ hãi khi (1) nói chuyện với bác sĩ, (2) phát hiện ra mình bị
bệnh, (3) thất vọng hoặc khó chịu với cha mẹ và những ngƣời khác, (4) tiêm hoặc
dùng thuốc, (5) quay trở lại bệnh viện hoặc trì hoãn việc đƣợc ra viện, (6) phải phẫu
thuật hoặc đặt dụng cụ xâm lấn, hoặc (7) bị tác dụng phụ của thuốc.Và cuối cùng là,
trẻ chỉ có thể không nghĩ rằng đó là cần thiết khi phải nói với các nhân viên y tế về
cơn đau của chúng. Do đó, cha mẹ phải luôn quan sát tình hình của trẻ [38].
Cha mẹ, ngƣời chăm sóc cũng cần tìm hiểu thông tin về thuốc giảm đau và
sử dụng đƣợc công cụ đánh giá đau nếu muốn có hiệu quả trong việc quản lý đau
của trẻ [7]. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngƣời nhà bệnh nhân đọc tài liệu về đau
và điều trị đau đã có thái độ tích cực hơn trong việc dùng thuốc giảm đau [15]. Do
vậy, cha mẹ và trẻ nên đọc các tài liệu về điều trị đau trƣớc khi phẫu thuật. Nó có
thể xua tan nỗi sợ hãi và quan niệm sai lầm về đau và các loại thuốc đƣợc sử dụng
để điều trị đau.
Hơn nữa, gia đình bệnh nhân nên:
15 Có 4 nguyên tắc cho việc sử dụng thuốc giảm đau ở trẻ, gồm [16], [52]:
 Dùng thuốc theo bậc thang thuốc giảm đau
 Dùng thuốc theo đồng hồ
 Dùng thuốc theo đƣờng dùng thích hợp nhất
 Dùng thuốc theo từng cá thể
Dùng thuốc theo bậc thang thuốc giảm đau
Theo WHO, có 3 mức độ đau gồm: đau nhẹ, đau vừa và đau nặng. Thuốc
giảm đau đƣợc lựa chọn tùy theo mức độ đau (Hình 1.7 - Phụ lục 5):
- Bậc 1 (đau nhẹ): dùng thuốc giảm đau non-opioid nhƣ paracetamol,
NSAIDs.
- Bậc 2 (đau vừa): phối hợp thuốc loại opioid yếu (codein, oxycodon) với
paracetamol, NSAIDs hoặc thuốc phụ trợ giảm đau.
- Bậc 3 (đau nặng): dùng thuốc giảm đau loại opioid mạnh: morphin,
methadon Kết hợp paracetamol, NSAIDs hoặc thuốc phụ trợ giảm đau.
Dùng thuốc theo đồng hồ
Các thuốc nên dùng theo lịch trình sẵn từ trƣớc hơn là theo nhu cầu vì trẻ
không thể nói ra nhu cầu giảm đau chính xác, vì lúc trẻ sợ, cơn đau của chúng sẽ
khó kiểm soát và có thể tăng lên. Thêm nữa, liều opioid để phòng đau tái phát sẽ
thấp hơn liều cho những cơn đau không thƣờng xuyên. Do đó, trẻ nên đƣợc dùng
thuốc giảm đau vào những khoảng thời gian đã định sẵn, dựa trên mức độ đau và
thời gian tác dụng của thuốc [16], [52].
Dùng thuốc theo đƣờng dùng thích hợp nhất
Đƣờng dùng thuốc cho trẻ nên đơn giản và hiệu quả nhất, ít gây ra đau tại
chỗ đƣa thuốc nhất. Thuốc thƣờng đƣợc dùng đƣờng uống, bào chế dạng viên. Tiêm
tĩnh mạch, tiêm dƣới da là những đƣờng thích hợp. Thông thƣờng, tiêm bắp ít đƣợc
17 1.4.3.1. Paracetamol
Paracetamol thƣờng hay đƣợc dùng nhất để giảm đau cho trẻ em do ít tác
dụng phụ đáng kể. Cơ chế giảm đau là ức chế sự tạo thành prostagladin, làm giảm
chất P gây ra sự tăng đau, và điều chỉnh việc sản xuất nitric oxide gây tăng đau
trong tủy sống. Nó đƣợc dùng cho đau nhẹ đến vừa, và thƣờng kết hợp với thuốc
giảm đau opioid cho bệnh nhân đau nặng hơn [45].
Paracetamol có thể dùng theo các đƣờng khác nhau nhƣ uống, đặt trực tràng,
tĩnh mạch. Liều dùng đƣợc chia ra nhƣ sau:
 Đƣờng uống: 10 - 15 mg/kg/liều mỗi 4 - 6h, không quá 5 liều/24h. Liều
tối đa một ngày không quá 75 mg/kg đối với trẻ em, 60 mg/kg đối với trẻ sơ sinh
dƣới 10 ngày tuổi, 45 mg/kg cho trẻ sơ sinh thiếu tháng > 34 tuần mang thai.
 Đƣờng trực tràng: thích hợp cho những trẻ không nuốt đƣợc. Thuốc qua
đƣờng trực tràng hấp thu chậm nhƣng tƣơng đối hiệu quả. Liều dùng 1 lần từ 35 –
40 mg/kg hoặc duy trì 20 mg/kg/liều mỗi 6h. Liều tối đa là 120 mg/kg/ngày. Không
nên dùng đƣờng trực tràng dài ngày.
 Đƣờng tĩnh mạch: Trẻ sơ sinh 7.5 mg/kg mỗi 4 – 6h, tối đa 30
mg/kg/ngày. Trẻ em > 10 kg: 10 – 15 mg/kg mỗi 4 – 6h, tối đa 60 mg/kg/ngày.
 Liều tối đa một ngày không nên đƣa kéo dài hơn 48h đối với trẻ dƣới 3
tháng, 72h đối với trẻ trên 3 tháng tuổi.
Tác dụng phụ của paracetamol phổ biến là ban da hoặc mẫn cảm với
thuốc. Tác dụng phụ đáng ngại nhất là viêm gan cấp. Cơ chế gây độc nhƣ sau (Hình
1.8 - Phụ lục 5): Ở liều điều trị, 90% paracetamol đƣợc chuyển hóa thành dạng liên
hợp với glucuronide và sulfate, sau đó đào thải qua thận. Phần còn lại của
paracetamol, 50% đƣợc bài tiết không đổi qua nƣớc tiểu, và phần còn lại đƣợc
chuyển hóa qua hệ thống cytochrome P450, tạo ra chất chuyển hóa độc với gan là
N-acetyl-p-benzoquinone imine (NAPQI). Glutathione ở gan liên hợp với NAPQI
tạo ra chất chuyển hóa không độc hại đƣợc đào thải qua thận. Với liều paracetamol


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status