Khảo sát nhu cầu tư vấn của bệnh nhân và hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại phòng cấp phát thuốc bảo hiểm y tế, bệnh viện bạch mai - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THẢO

KHẢO SÁT NHU CẦU TƯ VẤN
CỦA BỆNH NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG
TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC
TẠI PHÒNG CẤP PHÁT THUỐC
BẢO HIỂM Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI-2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THẢO

KHẢO SÁT NHU CẦU TƯ VẤN
CỦA BỆNH NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG
TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC
TẠI PHÒNG CẤP PHÁT THUỐC
BẢO HIỂM Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:


Nguyễn Thị Thảo MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
Danh mục đối chiếu Anh – Việt
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm và các mô hình tư vấn bệnh nhân 3
1.1.1 Các định nghĩa về tư vấn bệnh nhân 3
1.1.2 Các mô hình tư vấn bệnh nhân 4
1.2 Mục tiêu của tư vấn bệnh nhân 6
1.2.1 Mục tiêu giáo dục bệnh nhân 6
1.2.2 Mục tiêu hỗ trợ bệnh nhân 6
1.3 Các cách tiếp cận của bệnh nhân trong quá trình tư vấn bệnh nhân 7
1.3.1 Tuân thủ (Compliance) 8
1.3.2 Đồng thuận (Concordance) 11
1.4 Lợi ích của việc tư vấn bệnh nhân 12
1.4.1 Lợi ích đối với bệnh nhân 12
1.4.2 Lợi ích của đối với dược sĩ 13
1.5 Vai trò của dược sĩ trong tư vấn bệnh nhân 13
1.5.1 Vai trò của dược sĩ 13
1.5.2 Thách thức đối với tư vấn bệnh nhân 14
1.6 Nội dung của tư vấn bệnh nhân 15
1.6.1 Hoàn cảnh tư vấn 15

Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu

Tên đầy đủ
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
USP
:
Dược điển Mỹ (United States Pharmacopoeia)
IQR
:
Khoảng tứ phân vị (Interquatile range)
ASHP : Hiệp hội Dược sĩ Mỹ (American Society of Health – System
Pharmacists)

DANH MỤC BẢNG

Bảng Tên bảng Trang
3.1 Thông tin chung của bệnh nhân 30
3.2 Nhận thức của bệnh nhân về việc uống thuốc 31
3.3 Nhận thức của bệnh nhân về tìm hiểu thông tin về thuốc 34
3.4 Nhu cầu tư vấn của bệnh nhân 35
3.5 Số thuốc được dược sĩ tư vấn 37
3.6 Tương tác giữa dược sĩ và bệnh nhân trong quá trình tư vấn 38
3.7 Thời gian cho 1 cuộc tư vấn 39

Discussion Thảo luận
Magisterial health counselling Mô hình tư vấn một chiều
Participative health counselling Mô hình tư vấn hai chiều
Promotional health counselling Mô hình tư vấn khuyến khích
Compliance Tuân thủ
Concordance Đồng thuận
Department of Health Human Services Ủy ban chăm sóc sức khỏe
Resources Nguồn lực
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư vấn và giáo dục bệnh nhân là một phần quan trọng của công tác chăm sóc
Dược [3]. Đặc biệt đối với bệnh mãn tính, những bệnh phải điều trị trong thời gian
dài thì tư vấn thuốc càng đóng vai trò quan trọng để nâng cao mức độ tuân thủ và
khả năng tự kiểm soát bệnh của bệnh nhân. Theo hướng dẫn tư vấn thuốc của Dược
điển Mỹ (USP) năm 1997, tư vấn bệnh nhân chia thành 4 mức độ: độc thoại của
dược sĩ (monolog), hỏi đáp đơn thuần (dialog), đối thoại (conversation) và thảo luận
(discussion) [34]. Trong đó mức độ cao nhất là thảo luận, ở đây dược sĩ và bệnh
nhân có những trao đổi chi tiết dựa trên mối tương tác ngang bằng để đưa ra những
lời khuyên dùng thuốc có hiệu quả nhất cho bệnh nhân. Theo dự thảo Luật sửa đổi
và bổ sung một số điều của Luật dược 2013, tư vấn và hướng dẫn cách sử dụng
thuốc cho bệnh nhân là trách nhiệm của dược sĩ lâm sàng tại các cơ sở khám chữa
bệnh [2]. Để thực hiện nhiệm vụ này, dược sĩ không chỉ cần có năng lực chuyên
môn mà khi tư vấn phải đồng cảm với bệnh nhân đồng thời nắm bắt nhu cầu và kiến
thức sẵn có của bệnh nhân để đưa ra nội dung tư vấn hợp lý.
Tại Việt Nam, mô hình tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân còn ít phổ biến,
hoạt động tại các nhà thuốc bệnh viện vẫn tập trung chủ yếu vào việc cấp phát
thuốc, chưa thực sự có sự trao đổi, tư vấn và tương tác giữa dược sĩ và bệnh nhân.
Chưa có những nghiên cứu về nhu cầu được tư vấn của bệnh nhân làm cơ sở thúc
đẩy hoạt động này trên thực tế. 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm và các mô hình tư vấn bệnh nhân
1.1.1 Các định nghĩa về tư vấn bệnh nhân
Theo Hepler (1987) thì các định nghĩa về tư vấn bệnh nhân bắt đầu được thảo
luận vào những năm 1960. Các định nghĩa này thường có xu hướng tập trung vào
nội dung, ví dụ như thông tin mà dược sĩ cung cấp cho bệnh nhân. Các định nghĩa
về tư vấn bệnh nhân dần dần được bổ sung, thay đổi và hoàn thiện hơn [10].
Một trong những định nghĩa sớm nhất về tư vấn bệnh nhân được đưa ra bởi
Puckett và cộng sự năm 1978. Tác giả này cho rằng tư vấn bệnh nhân là “bất kì sự
thông báo nào được dược sĩ nói hay viết ra về thuốc và cách sử dụng thuốc” [10].
Theo định nghĩa của Hepler thì tư vấn bệnh nhân dừng lại ở mức cung cấp cho bệnh
nhân thông tin về thuốc. Năm 1997, Aslanpour và Smith đã đưa ra một định nghĩa
hoàn thiện hơn về tư vấn bệnh nhân, không chỉ là cung cấp thông tin về thuốc mà
cao hơn tư vấn bệnh nhân là “việc cung cấp các thông tin về thuốc và các vấn đề
liên quan đến sức khỏe” [5]. Nhìn nhận về tư vấn bệnh nhân ở mức cao hơn, không
đơn thuần là việc cung cấp thông tin một chiều, Schommer và Wiederholt năm 1994
cho rằng “tư vấn bệnh nhân là việc dược sĩ đưa ra lời khuyên dựa trên quan điểm
hợp lí, chủ quan của mình và hướng tới bệnh nhân trong phạm vi sử dụng thuốc”
[27]. Như vậy các định nghĩa về tư vấn bệnh nhân thay đổi theo thời điểm và không
được xây dựng trên bất kì nền tảng lí thuyết nào. Các định nghĩa vẫn chưa thể hiện
được bản chất của sự tương tác giữa bệnh nhân và dược sĩ cho dù quá trình tư vấn là
độc thoại của dược sĩ hay hỏi đáp đơn thuần giữa dược sĩ và bệnh nhân [10].
Một trong những định nghĩa toàn diện nhất về tư vấn bệnh nhân được xây

của mỗi bệnh nhân, chưa nhìn nhận đúng về khả năng giải quyết vấn đề một cách
độc lập của họ. Do đó, bệnh nhân chỉ kiểm soát và tuân thủ nghiêm túc những lời
khuyên của dược sĩ mà không xem xét liệu việc điều trị có phù hợp với mình hay
không [10].
Mô hình tư vấn hai chiều
5

Mô hình tư vấn hai chiều (participative health counselling) là mô hình trong đó
bệnh nhân có quyền tự đưa ra các lựa chọn, quyết định liên quan đến việc điều trị
của mình. Mô hình tư vấn hai chiều có thể so sánh với mức độ hỏi đáp đơn thuần
giữa dược sĩ và bệnh nhân trong 4 mức độ tư vấn bệnh nhân theo USP. Theo đó quá
trình tư vấn được coi như là sự chia sẻ thông tin giữa bệnh nhân và dược sĩ [10].
Mô hình tư vấn hai chiều dựa trên lí thuyết về khả năng học của bệnh nhân, theo
đó mỗi bệnh nhân tự có ý thức về bệnh và thuốc của mình. So với mô hình tư vấn
một chiều, mô hình này đã nhấn mạnh sự phù hợp đối với từng bệnh nhân, bệnh
nhân có thể tự đưa ra những quyết định có lợi cho tình trạng sức khỏe của mình
[10]. Tuy nhiên, mô hình vẫn chưa đề cập đến khả năng suy nghĩ và đánh giá những
quyết định đưa ra liên quan đến điều trị của bệnh nhân [17, 20].
Mô hình tư vấn khuyến khích
Mô hình tư vấn khuyến khích (promotional health counselling) là mô hình bao
gồm quá trình tương tác học hỏi kinh nghiệm giữa dược sĩ và bệnh nhân. Mô hình
này tăng cường các kĩ năng giải quyết vấn đề, cách suy nghĩ và cách đánh giá riêng
của bệnh nhân về mỗi hành động của mình. Mô hình tư vấn khuyến khích có thể so
sánh với mức độ đối thoại và thảo luận giữa dược sỹ và bệnh nhân trong 4 mức độ
tư vấn bệnh nhân theo USP [10].
Tư vấn sức khỏe khuyến khích được thiết lập dựa trên tâm lí học nhận thức và
học thuyết hành động liên quan đến nhận thức [17]. Bàn về vấn đề này, Rauste-von
Wright năm 1994 cho rằng việc học ở đây dựa trên quan niệm học tập mang tính
chất xây dựng, thông tin không được truyền trực tiếp cho người học, mà họ sẽ tự
nhận thức và tự tìm thông tin cho chính mình. Mô hình tư vấn khuyến khích đã

1.2.2 Mục tiêu hỗ trợ bệnh nhân
Mục tiêu của tư vấn bệnh nhân là giúp đỡ bệnh nhân vượt qua bệnh tật và
những thay đổi do bệnh gây ra. Ví dụ bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường hoặc
tăng huyết áp có thể cần giúp đỡ để vượt qua những thay đổi trong chế độ ăn, trong
thói quen công việc và hoạt động giải trí [24].
Thêm vào việc giải quyết những vấn đề trước mắt, tư vấn bệnh nhân nên có
những thảo luận để phòng tránh vấn đề có thể xảy ra trong quá trình bệnh nhân
7

dùng thuốc và nâng cao khả năng giải quyết những vấn đề này cho bệnh nhân [14].
Thông qua tư vấn bệnh nhân, dược sĩ có thể dự đoán trước một số vấn đề nhờ đó có
thể phòng ngừa được hoặc ít nhất là giảm thiểu tối đa các vấn đề bất lợi của thuốc.
Dược sĩ thảo luận với bệnh nhân để biết ý định và khả năng tuân thủ hướng dẫn
dùng thuốc của bệnh nhân. Ví dụ một bệnh nhân đi ăn tiệc có thể quyết định bỏ qua
một liều thuốc tăng huyết áp và uống rượu trong bữa tiệc. Nếu tình huống này được
dự đoán trước và thảo luận với dược sĩ thì bệnh nhân có thể có một quyết định tốt
hơn. Dược sĩ có thể chỉ ra những nguy cơ khi bệnh nhân bỏ một liều thuốc hoặc gợi
ý những thay đổi như bệnh nhân nên hạn chế uống rượu trong khi đang uống thuốc
[24].
Một vấn đề khác cần chú ý đó là sự gia tăng tác dụng không mong muốn của
thuốc. Ví dụ, các tác dụng không mong muốn như táo bón, nước tiểu đổi màu cũng
có thể làm bệnh nhân lo âu và có thể dẫn đến dừng thuốc. Vì vậy trong quá trình tư
vấn dược sĩ nên tư vấn để bệnh nhân nhận ra những triệu chứng nào là tác dụng
không mong muốn của thuốc, tìm cách giải quyết và không tự ý dừng thuốc [24].
Như vậy trong trường hợp bệnh nhân phải điều trị lâu dài, mục tiêu của tư
vấn là phát hiện ra tất cả những vấn đề nói trên và đảm bảo mọi thứ diễn ra tốt đẹp.
Khi đã phát hiện ra các vấn đề có thể xảy ra thì mục tiêu của tư vấn là nâng cao khả
năng giải quyết những vấn đề này cho bệnh nhân [24].
Tư vấn bệnh nhân với hai mục tiêu chính là giáo dục bệnh nhân các thông tin
liên quan đến thuốc và giúp đỡ bệnh nhân vượt qua những vấn đề gặp phải trong

hưởng và là rào cản tới sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân
Tuân thủ là một hiện tượng đa chiều được xác định bởi sự tương tác qua lại
của nhóm 5 yếu tố: yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc
sức khỏe, yếu tố liên quan đến bệnh, yếu tố liên quan đến phác đồ điều trị, yếu tố
liên quan đến bệnh nhân, trong đó bệnh nhân chỉ là một yếu tố quyết định [31].
 Yếu tố kinh tế - xã hội
Một vài yếu tố được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến sự tuân thủ như: tình
trạng kinh tế xã hội kém phát triển, nghèo đói, mù chữ, trình độ học vấn thấp, thất
9

nghiệp, điều kiện sống không ổn định, xa trung tâm điều trị, chi phí đi lại cao, chi
phí cho thuốc điều trị cao, thay đổi môi trường, thái độ và niềm tin về bệnh, về
phương pháp điều trị (Albaz RS 1997, trích dẫn trong [31]).
 Yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe
Những yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe ảnh hưởng đến sự
tuân thủ của bệnh nhân bao gồm dịch vụ y tế và hệ thống phân phối thuốc kém phát
triển, đội ngũ nhân viên chăm sóc sức khỏe thiếu kiến thức trong việc quản lí bệnh
mãn tính, năng lực của hệ thống giáo dục bệnh nhân còn yếu, thiếu kiến thức về
tuân thủ và những can thiệp có hiệu quả để cải thiện sự tuân thủ của bệnh nhân [31].
 Yếu tố liên quan đến bệnh
Các yếu tố này tiêu biểu cho những yêu cầu đặc biệt liên quan đến bệnh mà
bệnh nhân phải vượt qua. Một số yếu tố quan trọng quyết định sự tuân thủ liên quan
đến mức độ nặng của triệu chứng bệnh, mức độ khuyết tật (thể chất, tâm lí, xã hội),
mức độ tiến triển của bệnh, sự sẵn có của các phác đồ điều trị có hiệu quả. Tác động
của những yếu tố này phụ thuộc vào việc nó ảnh hưởng đến nhận thức về nguy cơ
của bệnh nhân, đến tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ điều trị, đến sự ưu tiên
việc tuân thủ như thế nào [31]. Loại bệnh cũng là một yếu tố ảnh hưởng, ví dụ bệnh
nhân bệnh tim thường tuân thủ tốt, trong khi bệnh nhân bệnh hen thường không
tuân thủ [24].

bệnh nhân không được cảnh báo trước về khả năng xảy ra tác dụng không mong
muốn hoặc không được hướng dẫn các biện pháp để làm giảm những tác dụng
không mong muốn này [24].
Rào cản về nhận thức, ngôn ngữ, khả năng đọc viết làm bệnh nhân không
hiểu được lí do phải dùng thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc. Vì vậy bệnh nhân sẽ
không thể tuân thủ đúng cách dùng thuốc [24].
Các yếu tố ảnh hưởng và rào cản làm giảm sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân
cần được thảo luận với dược sĩ trong tư vấn để cùng nhau tìm ra cách giải quyết các
vấn đề bệnh nhân gặp phải. Khi bệnh nhân thảo luận những vấn đề này với dược sĩ
tức là họ đã chuyển sang một cách tiếp cận mới, từ tuân thủ một cách thụ động đến
đồng thuận trong quá trình tư vấn.
11

1.3.2 Đồng thuận (Concordance)
Năm 1997, Marinker cho rằng đồng thuận là cách tiếp cận dựa trên quan điểm
dược sĩ và bệnh nhân tương tác ngang bằng, do đó giữa họ sẽ hình thành sự liên hệ
về điều trị. Bàn về vấn đề Blenkinsopp năm 1999 cũng khẳng định đồng thuận
không đồng nghĩa với tuân thủ, trong đồng thuận bệnh nhân có quyền đưa ra quyết
định việc chăm sóc sức khỏe của mình [10].
Đồng thuận dựa trên quan niệm mới về việc trao đổi thông tin giữa dược sĩ và
bệnh nhân. Trong phương pháp đồng thuận, vai trò của dược sĩ là để hỗ trợ bệnh
nhân hình thành kiến thức và thái độ trong việc sử dụng thuốc. Bệnh nhân được
xem như chuyên gia về bệnh và việc sử dụng thuốc của mình [25]. Điều này không
làm giảm vai trò chuyên gia thuốc của dược sĩ, mà thay vào đó một cuộc trao đổi,
thảo luận giữa dược sĩ và bệnh nhân là cần thiết để thúc đẩy và hỗ trợ bệnh nhân
theo dõi bệnh của mình [10].
Như vậy, cách tiếp cận đồng thuận tương ứng với mô hình tư vấn khuyến
khích hay mức độ đối thoại, thảo luận trong tư vấn bệnh nhân. Mô hình này đã chú
ý hướng tới bệnh nhân, đề cập đến khả năng, thái độ, suy nghĩ và cách giải quyết
vấn đề của bệnh nhân, bởi vậy tạo cơ hội cho bệnh nhân trao đổi với dược sĩ và tự

sĩ hoặc nếu dược sĩ hỏi bệnh nhân về phác đồ đang điều trị thì có thể phát hiện và
phòng ngừa sớm hơn. Như vậy tư vấn bệnh nhân sẽ hạn chế phản ứng có hại của
thuốc [24]
Ngoài ra, tư vấn bệnh nhân còn mang lại lợi ích cho bệnh nhân theo một số
cách khác liên quan đến việc cải thiện hiệu quả điều trị và sự hài lòng với việc chăm
sóc sức khỏe. Bệnh nhân thường muốn đảm bảo chắc chắn thêm một lần nữa là
thuốc của họ an toàn và hiệu quả [24]. Họ có thể cần sự giải thích thêm do bác sĩ
của họ quá bận hoặc không thoải mái để hỏi. Nhiều nghiên cứu cho rằng một tương
tác hiệu quả giữa nhân viên y tế và bệnh nhân có thể cải thiện hiệu quả điều trị của
bệnh nhân [29].
13

1.4.2 Lợi ích đối với dược sĩ
Nhìn chung, các dược sĩ cho rằng việc tư vấn và giáo dục bệnh nhân khiến
họ cảm thấy hài lòng về công việc của mình và muốn dành thời gian nhiều hơn cho
việc tư vấn (Chi J 1992, trích dẫn trong [24]). Portner T và cộng sự năm 1993 lại
khẳng định tư vấn bệnh nhân tạo cơ hội cho dược sĩ thể hiện năng lực chuyên môn
và sử dụng những kiến thức họ tích lũy sau nhiều năm. Đây chính là sự hài lòng của
mỗi cá nhân khi giúp đỡ người khác, đặc biệt trong việc giúp bệnh nhân duy trì và
cải thiện sức khỏe [24].
Năm 1989, Rybka – Miki, trong một nghiên cứu của mình, cho rằng tư vấn
bệnh nhân giúp dược sĩ bớt căng thẳng trong công việc. Công việc của dược sĩ phải
thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân nên không tránh khỏi những lúc khó chịu hay
căng thẳng. Vì vậy thông qua quá trình tư vấn, dược sĩ sẽ hiểu hoàn cảnh của bệnh
nhân hơn, làm cho mối quan hệ trở nên gần gũi hơn. Việc này tạo cảm giác thoải
mái và làm giảm bớt căng thẳng cho cả dược sĩ và bệnh nhân [24].
Ngoài ra thông qua tư vấn bệnh nhân, dược sĩ có cơ hội để thảo luận với các
chuyên gia y tế khác về các vấn đề liên quan đến thuốc. Ví dụ trong những trường
hợp như: giáo dục y tá trong việc chăm sóc tại nhà, trao đổi thảo luận toàn khoa,
hoặc dược sĩ có thể liên lạc với bác sĩ hoặc y tá để cùng giải quyết các vấn đề có

dược sĩ vẫn không thực hiện vai trò này [30].
Một bài tổng quan của Young về thực trạng giao tiếp giữa dược sĩ và bệnh
nhân ở Bắc Mỹ đã kết luận rằng chất lượng và số lượng của giao tiếp giữa dược sĩ
và bệnh nhân cải thiện rất ít qua hơn 25 năm (1970 – 1996). Mặc dù dược sĩ có cái
nhìn tích cực đối với tư vấn bệnh nhân, thực tế họ thảo luận với khoảng một nửa
bệnh nhân đơn mới trong vòng khoảng 1 phút hoặc ít hơn [33]. Svarstad và cộng sự
cho rằng các chính sách, quy trình, và việc thực hiện một số chương trình thúc đẩy
hỗ trợ dược sĩ có ảnh hưởng tới việc thực hành tư vấn bệnh nhân [30].
Như vậy với vai trò mới trong tư vấn bệnh nhân dược sĩ phải đối mặt với thử
thách trong công việc mới và những khó khăn sẽ gặp phải trong việc thực hành tư
vấn bệnh nhân. Muốn vượt qua những trở ngại trên và làm tốt công tác tư vấn bệnh
15

nhân dược sĩ phải hoàn thiện các kĩ năng, khi tư vấn phải xác định rõ ràng nội dung
cần tư vấn cho bệnh nhân.
1.6 Nội dung của tư vấn bệnh nhân
1.6.1 Hoàn cảnh tư vấn
Số lượng và loại thông tin dược sĩ cung cấp cho bệnh nhân phụ thuộc vào nhu
cầu và hoàn cảnh tư vấn. Lý tưởng nhất, dược sĩ nên tư vấn bệnh nhân trên tất cả
đơn mới và đơn kê lại. Nếu dược sĩ không thể tư vấn theo phạm vi này thì nên phân
loại bệnh nhân và các loại thuốc dược sĩ thường tư vấn. Các bệnh nhân cần tư vấn
bao gồm:
 Bệnh nhân phải dùng nhiều thuốc
 Bệnh nhân có vấn đề nhìn, nghe, đọc
 Bệnh nhân nhi
 Bệnh nhân dùng nhóm thuốc cần lưu ý đặc biệt như thuốc chống đông
 Bệnh nhân có sự thay đổi về thuốc hoặc về liều trong đơn
 Bệnh nhân mới hoặc bệnh nhân lần đầu tiên nhận một thuốc mới
 Bệnh nhân nhận thuốc có cách bảo quản hoặc cách dùng đặc biệt, hoặc có tác
dụng phụ đáng chú ý

Đối với bệnh nhân có đơn mới, dược sĩ cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
tư vấn nếu trước đó bệnh nhân chưa từng được tư vấn. Đối với bệnh nhân có đơn kê
lại dược sĩ nên đánh giá hiệu quả của thuốc, theo dõi việc sử dụng thuốc để xác định
những vấn đề liên quan đến thuốc có thể xảy ra đặc biệt là việc không tuân thủ và
tác dụng không mong muốn của thuốc.
Thảo luận để thu thập thông tin và xác định nhu cầu của bệnh nhân
 Đối với bệnh nhân mới
Nếu bệnh nhân mới, dược sĩ cần thu thập thông tin cơ bản của bệnh nhân như:
tên, địa chỉ, số điện thoại, tuổi và giới tính. Thêm vào đó cần thu thập thông tin về
tiền sử dị ứng, phản ứng thuốc của bệnh nhân.
 Đối với bệnh nhân khám lại

Trích đoạn Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại phòng cấp phát thuốc Phương pháp xử lí số liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status