LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua một thời gian dài đổi mới nền kinh tế đất nước. Nền kinh tế của
nước ta hôm nay đã có nhiều bước tiến đáng kể so với thời kỳ trước khi còn
đặt nền kinh tế theo nối quan liêu bao cấp. Để có được sự thành công như
vậy không phải chỉ do sự thúc đẩy tự động của nền kinh tế đơn thuần như:
vốn, kĩ thuật, công nghệ,thị trường, mà trước hết là sự đổi mới tư duy dám
đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chủ trương,chính sách và khoa
học phát triển, khơi dậy và nhân lên các tiềm năng sáng tạo của mọi tầng lớp
nhân dân bắt nguồn từ những giá trị văn hoá nhân loại. Điều đó có ý rằng
chính đạo đức văn hoá chính là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của đất nước trong quá trình đổi mới.
Vậy đạo đức là gì ? Đạo đức có tầm quan trọng thế nào trong nền kinh
tế, trong kinh doanh cuả nước ta. có thể nói rằng đạo đức là tổng hợp những
nguyên tắc chuẩn mực của xã hội.Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành
vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc con người trong mối quan hệ giữa
con người với con người, giữa cá nhân tập thể trong toàn xã hội. Đạo đức là
chuẩn mực của mỗi hành vi, đó là thước đo giá trị của mỗi con người, thật
thà nhân hậu, đó là đạo đức .Thế còn đạo đức trong kinh doanh là sao?
Trong bài tiểu luận này em xin đề cập những vấn đề đó:
1.Ý thức đạo đức là gì.
2.Vấn đề đạo đức trong kinh doanh.
3.Tìm hiểu thực trạng về đạo đức kinh doanh của nước ta hiện nay.
4. Một số tiêu chuẩn trong việc xây dựng đạo đức kinh doanh ở Việt
Nam.
5. Những biện pháp giải quyết.
1
NỘI DUNG
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC
1. THẾ NÀO LÀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC?
1.1 ý thức đạo đức là gì?
- Ý thức đạo đức là trình độ nhận thức của con người về những
nhau về giá trị công lý.
- Sự công bằng có phân biệt theo đối tượng, tức là sự đối sử không
phải hoàn toàn dựa trên các tiêu chuẩn luật pháp mà còn có sự xem
xét đến hoàn cảnh cụ thể của từng người vì không phải với bất kỳ
người nào phán xét theo luật pháp cũng đều công bằng và hợp lý.
- Sự công bằng tuyệt đối, có nghĩa là các luật lệ và quy định được
đặt ra một cách rõ ràng và phải được áp dụng một cách như nhau
đối với con người. Quan điểm này có phần đối lập với quan điểm
trên.
3
- Sự công bằng theo nghĩa, phải được bồi hoàn hợp lý. Chẳng hạn
người bị hại phải được đền bù một cách xứng đáng, và người ta sẽ
không chịu trách nhiệm về những vấn đề xảy ra ngoài phạm vi quản
lí của họ.
Những quan điểm tiếp cận trên đây, tuỳ theo từng điều kiện cụ
thể mà được vận dụng và đưa đến phán xét về đạo đức và thể chế
trong đạo đức
2. VẬN DỤNG ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH
2.1>Tầm quan trọnh của việc vận dung đạo đức trong kinh
doanh
Có thể nói, đạo đức là sản phẩm của một cơ sở kinh tế xã hội nhất
định, là kiến trúc thượng tầng và hình thái ý thức của hình thức xã
hội, là bộ phận cấu thành quan trọng bên trong kết cấu xã hội của
loài người gắn bó chặt chẽ với lợi ích của con người. Bởi vậy bản
chất của đạo đức và đặc trưng của nó là tính công luận xã hội.
Các nhà triết học cổ đại ngày xưa coi đạo đức như là pháp luật,
tức là biểu hiện của cái đúng, cái tốt, cái chuẩn mực để làm nhiệm
vụ và vai trò điều chỉnh hành vi của con người, hoạt động xã hội.
Ví dụ như:Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp tư sản muốn
thống trị, muốn nô lệ phục tùng mình chúng không nhưng chỉ áp
a)Trong phạm vi xã hội
- Tăng cường phạm vi kiểm soát của luật pháp
- Xây dựng những quy ước, quy tắc chung để thể hiện trong các
hoạt động kinh doanh
- Xây dựng hệ thống đánh giá về đạo đức trong phạm vi xã hội
- Xây dựng các nhóm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
b)Trong phạm vi doanh nghiệp.
- Thành lập bộ phận chuyên quản lí về đạo đức. Bộ phận này làm
nhiệm vụ nghiên cứu đề ra các chính sách, quy tắc và thể chế về đạo
đức, áp dụng trong một tổ chức kinh doanh. Ban này cũng có vai trò
như một ban tư vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp về phương diện đạo
đức kinh doanh
- Xây dựng các quy chế về kinh tế đạo đức trong kinh doanh. Đó
là xét xử vi phạm các quy tắc đạo đức trong kinh doanh.
- Giáo dục đạo đức trong kinh doanh đó là thưc hiện chương trình
giáo dục về đạo đức trong doanh nghiệp các hình thức khác nhau
như : Phổ biến các quy chế và quy tắc đạo đức, mở các lớp bồi
dưỡng về nhận thức và quản lí việc thưc hiện các quy tắc đạo đức...
6
PHẦN 2: CÁC PHẠM VI CHỦ YẾU CỦA ĐẠO ĐỨC
TRONG KINH DOANH
1> Phạm vi xã hội:
Trong phạm vi xã hội, phạm trù đạo đức thương đề cập đến các
vấn đề như: Thể chế xã hội, chuẩn mực giá trị của thể chế đó, các
quyền và các nghĩa vụ của con người trong hoạt động kinh doanh.
2> Phạm vi nhưng người có liên quan đến doanh nghiệp:
Trong phạm vi này, các vấn đề đạo đức được đưa ra và giải quyết
trong mối quan hệ giữa các đối tác, những người có liên quan mà lợi
ích của họ gắn liền với kết quả quá trình kinh doanh như: Các nhà
cung ứng, các khách hàng, người bỏ vốn kinh doanh.
trọng. Tuy nhiên, vấn đề này còn được thảo luận nhiều. Phải thấy
rõ một điều rằng, nếu xem xét vấn đề đạo đức như trên thì dựa vào
8