TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
===SOCQG3===
ĐINH THỊ LUYẾN
SỬ DỤNG KĨ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG I - SINH HỌC 11 (CTC)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học ThS. ĐỖ THỊ TỐ NHƯ
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học: ThS. Đỗ Thị Tố Như đã trực
tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em chân thành cảm ơn tất cả các thày cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp dạy học Sinh học, khoa
Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy cô dạy bộ môn Sinh học trường THPT
Dương Xá và trường THPT Xuân Hòa đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi
trong thời gian qua.
Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót rất mong thầy cô cùng toàn thể
các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng hoàn thiện và mang giá trị thực tiễn cao hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014 Sinh viên
Đinh Thị Luyến
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Sử dạng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Chương I - Sinh học 11 (CTC)” đã được
hoàn thảnh dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Tố Như và sự cố gắng của bản thân tôi.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng
với kết quả nghiên cứu của bất kì tác giả khác.
Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014 Sinh viên
Đinh Thị Luyến
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
trạng của việc dạy học đã quá lạc hậu, hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đã trở
thành một yêu càu tất yếu, bức bách, mang tính sống còn của toàn ngành giáo dục - một lĩnh
vực được xác định vị trí là quốc sách hàng đầu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Hơn nữa, hiện nay chúng ta
đang tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục” mà trước hết là: Nói không với dạy học đọc chép, hơn lúc nào hết một
nhiệm vụ hết sức bức thiết, đòi hỏi chúng ta phải thật sự quan tâm thực hiện một cách
nghiêm túc, thấu đáo việc đổi mới phương pháp dạy học ở các cơ sở Giáo dục nói chung và
Giáo dục trung học phổ thông nói riêng.
2.1.Thực trạng dạy học Sinh học nói chung ở các trường THPT
Theo nhận định của cán bộ chỉ đạo môn Sinh học của vụ THPT và của sở Giáo dục
và Đào tạo Hà Nội qua các đợt thanh tra chuyên môn, các kì thao giảng và các đợt thi giáo
viên dạy giỏi cho thấy phần lớn các giờ dạy học Sinh học được thể hiện theo hướng: giáo
viên chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, sử dụng phương pháp diễn giảng kết hợp với đàm
thoại; khi kiểm tra đánh giá giáo viên chủ yếu sử dụng câu hỏi tái hiện kiến thức. Qua các tiết
thi giáo viên dạy giỏi cho thấy giáo viên có khả năng vận dụng các phương pháp dạy học tích
cực từ đó giúp học sinh học tập tích cực lên, giờ học sôi nổi. Tuy vậy số tiết như trên vẫn là
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 4 K36A - SP Sinh
những con số rất khiêm tốn so với mặt bằng chung. Do vậy chúng ta cần tích cực vận dụng
các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy hơn nữa.
1.3.Vai trò của kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học
Khi đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực thì việc sử dụng kĩ thuật
“mảnh ghép” vào trong dạy học là một trong số những kĩ thuật dạy học tích cực được quan
tâm và chú ý.
Kĩ thuật mảnh ghép có vai trò quan trọng đối với việc dạy và học của GV và HS. Sử
dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, HS được tham
gia vào các hoạt động với nhiệm vụ khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau. Trong kĩ
thuật mảnh ghép khiến HS chủ động, tích cực, nồ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt
động để hoàn thành vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lí luận cho đề tài như: lí luận dạy học
Sinh học, các tài liệu hướng dẫn dạy học, tài liệu về dạy học tích cực,
6.2.Phương pháp điểu tra
Điều tra về hiểu biết của giáo viên về lí thuyết kĩ thuật mảnh ghép việc vận dụng kĩ
thuật mảnh ghép trong dạy học Sinh học.
Lấy ý kiến của một số giáo viên về việc vận dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học.
6.3.Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến nhận xét, đánh giá của một số thầy cô giáo có kinh nghiệm, tâm huyết với
nghề về các giáo án dạy học có sử dụng kĩ thuật mảnh ghép đã xây dựng.
7. Đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa lí luận cho việc sử dụng các kĩ thuật, phương pháp dạy học
tích cực trong dạy học.
- Xây dựng được một số hoạt động dạy và học theo kĩ thuật mảnh ghép trong Chương
I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh học 11- CTC.
- Thiết kế được một số giáo án dạy học nội dung kiến thức Chương I, Sinh học 11 có
sử dụng kĩ thuật mảnh ghép.
8. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu vận dụng kĩ thuật mảnh ghép vào
trong dạy học Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng
lượng, Sinh học 11- CTC.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN cứu
■
CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 6 K36A - SP Sinh
1.1.1. Lịch sử phát triển phương pháp dạy học tích cực trên thế giới
Từ năm 1920 ở Anh đã hình thảnh nhả trường kiểu mới, chú ý đến sự phát triển trí
Đinh Thị Luyến 7 K36A - SP Sinh
Năm 1994 Giáo Sư Trần Bá Hoành với công trình nghiên cứu: “Dạy học lấy HS làm
trung tâm, thiết kế bài học theo PPDH tích cực”.
Tháng 12/1995 Bộ giáo dục tổ chức hội thảo quốc gia về đổi mới PPDH theo hướng
hoạt động hóa người học.
Từ năm 2000 trở đi: Đẩy mạnh cải cách giáo dục, đổi mới mục tiêu, nội dung và
PPDH ở tất cả các bậc từ tiểu học đến THPT. Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có
ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách
giáo khoa và phương pháp dạy học. Các chương trình bồi dưỡng giáo viên và ứng dụng công
nghệ thông tin của các tập đoàn máy tính như Intel, Microsoft đóng vai trò đáng kể trong việc
truyền bá và sử dụng PPDH tích cực ở Việt Nam.
Từ năm 1997 đến nay, chính phủ Vương quốc Bỉ với 2 dự án hồ trợ cho các tỉnh miền
núi phía Bắc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng áp dụng phương pháp dạy và học tích cực.
Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến năm 2003 và dự án Việt Bỉ II đầu tư
cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến năm 2009 với mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên tiểu học, trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Dự án đã cho
ra cuốn tài liệu Dạy và học tích cực
- Một sổ phương pháp và kĩ thuật dạy học. Cuốn tài liệu này được biên soạn với sự hợp tác
tích cực của các chuyên gia thuộc Trung tâm Giáo dục dựa trên kinh nghiệm (CEGO) trường
Đại học Leuven, Vương quốc Bỉ, chuyên gia giáo dục của Hồng Kông và các chuyên gia giáo
dục trong nước. Tài liệu giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực hiện đang
được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực, nhằm giúp cho GV,
cán bộ quản lí giáo dục Việt Nam tiếp cận với một số phương pháp và kĩ thuật dạy học phát
huy tính tích cực của HS như: Phương pháp dạy học theo góc, học theo hợp đồng, học theo
dự án và các kĩ thuật khăn phủ bàn, mảnh ghép, sơ đồ tư duy
* về kĩ thuật mảnh ghép
dạy học”. [5]
4. Đinh Quang Báo (2000): “PPDH là cách thức hoạt động của thầy tạo ra mối liên hệ qua lại
với hoạt động của trò để đạt mục đích dạy học”. [2]
5. Trần Bá Hoành (2002): “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các
hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu dạy học”. [5]
Có thể thấy, vấn đề PPDH đang là vấn đề tranh luận nhiều trong LLDH và PPDH bộ
môn. Sự không thống nhất trong định nghĩa thuật ngữ phương pháp dạy học là do sự sử dụng
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 9 K36A - SP Sinh
đồng nghĩa các từ “phương thức”, “con đường”, “cách thức”, “kiểu” cùng với việc lựa chọn
thuật ngữ là sự tranh luận về dấu hiệu bản chất thể hiện trong câu định nghĩa PPDH.
về thuật ngữ, trong PPDH phổ biến sử dụng thuật ngữ “cách thức”. Cách thức làm
việc của thày và trò hướng đến sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của trò.
về dấu hiệu bản chất của phương pháp thì quá trình dạy học được cấu thành từ hoạt
động quan hệ qua lại giữa thầy và trò nên PPDH phải phản ánh mối quan hệ qua lại giữa dạy
(hoạt động làm việc của thầy) và học (hoạt động làm việc của trò). Chúng là hai hoạt động
khác nhau về đối tượng, nhưng chung nhau về mục đích, tác động qua lại và cùng tồn tại như
hai mặt của đồng tiền xu. Trong sự thống nhất này, phương pháp dạy giữ vai trò chủ đạo,
phương pháp học có tính độc lập tương đối, nhưng chịu sự chi phối của phương pháp dạy,
đồng thời cũng có ảnh hưởng đến phương pháp dạy. Tức là, giáo viên giữ vai trò chủ đạo
nhưng học sinh lại được đặt ở vị trí trung tâm (vai trò tích cực, độc lập, sáng tạo của học
sinh).
Mặt khác, mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học có cả dấu hiệu bề ngoài
(hình thức) và dấu hiệu bên trong (nội dung). Biểu hiện bên ngoài của phương pháp được thể
hiện bằng ngôn ngữ, bằng các đối tượng vật chất, vật chất hóa (tranh, ảnh, mô hình, kí hiệu )
và các hành động vật chất (cân, đo, đong đếm ). Logic của hoạt động tư duy cũng như đặc
điểm của tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình nhận thức tạo nên mặt bên trong
của phương pháp. Các biện pháp logic: Quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu
tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa là biểu hiện bên trong, mặt nội dung của PPDH. Như
vậy, mặt bên trong của phương pháp vừa biểu hiện logic của nội dung khoa học, vừa biểu
Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính chất tương đối. Sự phân biệt giữa quan điểm
dạy học và PPDH, giữa PPDH và kĩ thuật dạy học nhiều khi không rõ ràng.
1.2.1.2. Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng để chỉ những
phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học. “Tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt
động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng nghĩa trái với tiêu
cực. Thuật ngữ phương pháp dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp
học.
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy. Tuy nhiên để dạy học theo
phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ
động trước đây.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 11 K36A - SP Sinh
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo cách học
nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò cũng có ảnh hưởng tới cách dạy của thày. Vì vậy,
giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dàn đàn xây dựng cho học sinh phương
pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp phải có
sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới
thành công.
Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực:
> Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt động học
tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Điểm nổi bật của
dạy học tích cực là cường độ và thời lượng hoạt động độc lập của học sinh chiếm phần lớn
thời gian tiết học. Với sự hồ trợ nhiều phương tiện chủ quan, học sinh được đặt vào những
tình huống của đời sống thực tế, quan sát tác động vào đối tượng nghiên cứu từ đó làm nảy
phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để
điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo thuận lợi để học sinh tham gia
đánh giá lẫn nhau. Học sinh được tự đánh giá ngay trong quá trình học bạn, được đối chiếu
sản phẩm của của mình với các bạn trong nhổm.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành
đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải toang bị cho học sinh. Kiểm tra đánh giá sẽ giúp cho
giáo viên thu được thông tin phản hồi kịp thời để linh hoạtđiều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo
hoạt động học.
1.2.1.3. Kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh
trong các tình huống, hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ cụ thể. Kĩ thuật dạy
học rất phong phú về số lượng: Kĩ thuật động não, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn phủ bàn,
kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy, kĩ thuật “KWL”, kĩ thuật học tập hợp tác, lắng nghe và
phản hồi tích cực
1.2.2. Kĩ thuật mảnh ghép
1.2.2.1. Khái niệm kĩ thuật mảnh ghép
Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập kết hợp giữa cá nhân, nhóm
và liên kết giữa các nhổm.
1.2.2.2. Mục tiêu sử dụng kĩ thuật mảnh ghép
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 13 K36A - SP Sinh
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá hợp tác (không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ
học tập cá nhân mà còn phải trình bày truyền đạt lại kết quả và thực hiện nhiệm vụ ở mức độ
cao hơn).
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.
1.2.2.3. Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép
Quá trình thực hiện kĩ thuật mảnh ghép được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (Vòng 1): “Nhóm chuyên sâu”.
+ Nhóm 3: Tìm hiểu về hệ tuần hoàn đơn.
+ Nhóm 4: Tìm hiểu về hệ tuần hoàn kép.
Các nhóm thực hiện nhiệm vụ được giao, tìm hiểu, thảo luận đảm bảo mồi thành viên
trong nhóm phải nắm chắc nội dung để trình bày trong nhóm “mảnh ghép”.
Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
- Sau khi 4 nhóm “chuyên sâu” đã giải quyết các nhiệm vụ được đặt ra ở giai đoạn 1,
mỗi thành viên ở các nhóm “chuyên sâu” khác nhau sẽ hợp thành nhóm mới đó là nhóm
“mảnh ghép”.
- Các thành viên của nhóm chuyên sâu làn lượt trình bày nội dung mà mình đã nắm
rõ ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm “mảnh ghép” nghe.
- Giáo viên giao nhiệm vụ mới:
+ Cho biết những ưu điểm của hệ tuần hoàn kín so với hệ tuần hoàn hở.
+ Cho biết ưu điểm của hệ tuần hoàn kép so với hệ tuần hoàn đơn.
+ Nhận xét về chiều hướng tiến hóa của hệ tuần hoàn.
- Các nhóm mảnh ghép thảo luận thực hiện nhiệm vụ được giao. -Đại
diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác phản hồi.
- Giáo viên kết luận.
Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 15 K36A - SP Sinh
________________Nhiệm vụ phửc họp___________________
Sơ đồ kĩ thuật "mảnh ghép ”
1.2.2.4. Yêu cầu khi thực hiện kĩ thuật mảnh ghép
* Đặc điểm bài học
- Kĩ thuật mảnh ghép phù hợp với những bài học chứa một nội dung hay chủ đề lớn
nằm trọn vẹn trong một bài học, thường bao gồm ừong đó các phần nội dung hay chủ đề nhỏ
có sự liên quan gắn kết chặt chẽ với nhau, sau khi tìm hiểu được nội dung thành phần có thể
hiểu được vấn đề lớn. Những nội dung, chủ đề nhỏ đó được giáo viên xây dựng thành các
nhiệm vụ cụ thể giao cho các nhóm học sinh tìm hiểu nghiên cứu.
* Đối với giáo viên
nhóm góp phần hình thành ở học sinh tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và tinh
thần trách nhiệm cao trong học tập đối với chính mình và các bạn trong lớp. Đồng thời hình
thành ở học sinh các kĩ năng giao tiếp, trình bày, hợp tác, giải quyết vấn đề
* Nhược điểm
- Giáo viên phải hiểu sâu lôgic nội dung chương trình từ đó xác định được nội dung bài học
trong đó các phần có mối quan hệ lôgic với nhau để giao nhiệm vụ học tập hợp lí.
- Quản lí hoạt động nhóm sát sao, kiểm soát thời gian cho từng hoạt động.
- Kết quả thảo luận phụ thuộc vào vòng thảo luận thứ nhất, nếu vòng thảo luận này không có
chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả.
1.3.Cơ sở thực tiễn
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 17 K36A - SP Sinh
Vai trò Nhiệm vụ
Trưởng nhóm Hậu cần Thư kí Phản biện
Liên lạc giữa các nhóm khác Liên lạc với
giáo viên
Phân công nhiệm vụ
Chuẩn bị đồ dùng tài liệu cần thiết
Ghi chép kết quả
Đặt câu hỏi phản biện
Liên hệ với các nhóm khác
Liên hệ với giáo viên xin trợ giúp
1.3.1. Mục tiêu điều tra
Tìm hiểu về thực trạng của việc sử dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học sinh học
11.
1.3.2. Đối tượng điều tra
GV Sinh học ở trường THPT Dương Xá (Gia Lâm, Hà Nội), THPT Lý Thái Tổ (Từ
Sơn, Bắc Ninh), THPT Triệu Quang Phục (Yên Mỹ - Hưng Yên), với tổng số 11 GV
1.3.3. Nội dung điều tra
Điều tra về các vấn đề chủ yếu sau:
đó xác định nội dung bài học trong đó các phần có mối quan hệ logic với nhau để giao nhiệm
vụ học tập hợp lí, nếu số lượng thảnh viên không được tính toán kỹ sẽ dẫn đến tình trạng thừa
nhóm, thiếu nhổm.
* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Phần lớn các GV đều nhận thức được tàm quan trọng của việc đổi mới phương
pháp dạy học truyền thống sang dạy học - tự học, song do ảnh hưởng của lối dạy truyền
thống đã quá quen thuộc trong thời gian dài, do thói quen ngại thay đổi cái cũ cũng như ngại
mất nhiều công thức, thời gian cho việc soạn bài theo hướng tăng dần tính tích cực của người
học. Do vậy, những giờ dạy theo phương pháp dạy - tự học tăng cường hoạt động của HS
chưa được nhiều.
+ Do giáo viên chưa được trang bị kiến thức về các kĩ thuật dạy học tích cực cũng
như kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học.
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do học sinh thiếu tự giác, chưa chủ động tích cực trong việc học tập.
+ Do tâm lí nhiều học sinh coi sinh học là bộ môn phụ nên không hứng thú và lười
suy nghĩ, thường học đối phó mà chưa thực sự say mê, yêu thích môn học.
+ Do học sinh đã quen với việc thuộc nội dung trong sách giáo khoa mà chưa chú ý
đến việc phân tích, sâu chuồi và hệ thống hóa kiến thức, không biết tìm ra những điểm khác
biệt trong nội dung kiến thức.
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG KĨ THUẬT MẢNH GHÉP VÀO TỔ CHỨC
■ * •
DẠY HỌC CHƯƠNG I: CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG
LƯỢNG, SINH HỌC 11 (CTC)
2.1.Khái quát về cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 11
2.1.1. về cẩu trúc
- Sinh học 11 giới thiệu hệ thống sống ở cấp cơ thể thông qua 2 đại diện là động vật và thực
vật. Cụ thể là giới thiệu các chức năng sống cơ bản ở cấp cơ thể: Chuyển hóa vật chất và
năng lượng, Cảm ứng, Sinh trưởng và phát triển, Sinh sản dựa trên những kiến thức đã học về
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Thí nghiệm về tách chiết sắc tố và hô hấp.
+ Phần B: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật: gồm 7 bài (15-21) giới
thiệu về sự chuyển hóa vật chất và năng lượng ở cơ thể động vật (Tiêu hóa, hấp thụ, hô hấp,
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 20 K36A - SP Sinh
tuần hoàn, sự vận chuyển các chất trong cơ thể ở các nhóm động vật khác nhau, các cơ chế
đảm bảo cân bằng nội môi ). Thực hành: thí nghiệm đơn giản về tuần hoàn.
- Chương II: Cảm ứng (11 tiết)
+ Phần A: Cảm ứng ở thực vật gồm 3 bài (23-25) giới thiệu về hướng động và ứng
động. Thực hành: Làm được một số thí nghiệm về hướng động.
+ Phần B: Cảm ứng ở động vật gồm 8 bài ( 26-33) giới thiệu về cảm ứng ở động vật
có tổ chức thần kinh khác nhau, điện thế nghỉ, điện thế hoạt động và sự lan truyền truyền
xung thần kinh, truyền tin qua xinap, tập tính của động vật. Thực hành: Xây dựng tập tính cho
động vật nuôi trong gia đình hoặc thành lập phản xạ có điều kiện ở vật nuôi.
- Chương III: Sinh trưởng và phát triển (7 tiết)
+ Phần A: Sinh trưởng và phát triển ở thực vật, gồm 3 bài (34-37) giới thiệu về sinh
trưởng sơ cấp và thứ cấp, các nhóm chất điều hòa sinh trưởng ở thực vật, hooc môn thực vật
và sự phát triển của thực vật, quang chu kì và phitocrom.
+ Phần B: Sinh trưởng và phát triển ở động vật, gồm 4 bài (38-42) giới thiệu về sinh
trưởng và phát triển qua biến thái và không qua biến thái ở động vật, vai trò của hoocmôn
động vật và ảnh hưởng của môi trường đối với sự sinh trưởng và phát triển của động vật và
con người.
- Chương IV: Sinh sản (8 tiết)
+ Phàn A: Sinh sản ở thực vật, gồm 3 bài (41-43) giới thiệu về sinh sản vô tính và
nuôi cấy mô, tế bào thực vật, giâm, chiết, ghép, sinh sản hữu tính và sự hình thành quả, hạt,
và sự chín của hạt quả ở thực vật, các phương pháp nhân giống vô tính. Thực hành: Sinh sản
ở thực vật.
+ Phần B: Sinh sản ở động vật, gồm 4 bài (44-47) giới thiệu về sinh sản vô tính và
hữu tính ở động vật, sự tiến hóa trong các hình thức sinh sản hữu tính ở động vật, thụ tinh
ngoài và thụ tinh trong, đẻ trứng, đẻ con, cơ chế điều hòa sinh sản, điều khiển sinh sản ở động
- Trình bày được vai trò của quá trình quang hợp.
- Nêu được lá cây là cơ quan chứa các lục lạp mang hệ sắc tố quang hợp.
- Trình bày được quá trình quang hợp ở thực vật c
3
, c
4
và CAM; quá trình quang hợp chịu ảnh
hưởng của các nhân tố môi trường và giải thích được quang hợp quyết định năng suất cây
trồng.
- Phân biệt được năng suất sinh học và năng suất kinh tế và nêu được trồng cây dùng nguồn
ánh sáng nhân tạo (ánh sáng của các loại đèn) có thể đảm bảo cây trồng đạt năng suất cao.
- Trình bày được ý nghĩa của hô hấp: giải phóng năng lượng và tạo các sản phẩm trung gian
dùng cho mọi quá trình sinh tổng hợp.
- Trình bày được ti thể là cơ quan thực hiện quá trình hô hấp ở thực vật.
- Trình bày được hô hấp hiếu khí và lên men: Trường hợp có ôxi xảy ra đường phân và chu
trình Crep, sản phẩm sinh nhiều ATP; trường hợp không có ôxi tạo các sản phẩm lên men.
- Trình bày được mối liên quan giữa quang hợp và hô hấp.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 22 K36A - SP Sinh
- Nhận biết được hô hấp ánh sáng diễn ra ngoài ánh sáng.
- Nêu được quá trình hô hấp chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm
* Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật
- Phân biệt được trao đổi chất và năng lượng giữa cơ thể với môi trường với chuyển hóa vật
chất và năng lượng trong tế bào.
- Trình bày được mối quan hệ giữa quá trình trao đổi chất và quá trình chuyển hóa nội bào.
- Nêu những đặc điểm thích nghi trong cấu tạo và chức năng của các cơ quan tiêu hóa ở các
nhóm động vật khác nhau trong những điều kiện sống khác nhau.
- Nêu những đặc điểm thích nghi trong cấu tạo và chức năng của các cơ quan hô hấp ở các
nhóm động vật khác nhau trong những điều kiện sống khác nhau.
- Nêu được những đặc điểm thích nghi của hệ tuần hoàn ở các nhóm động vật khác nhau.
thuật mảnh ghép. Vì vậy cần phải chọn ra nội dung thích hợp có thể áp dụng kĩ thuật mảnh
ghép.
* Bước 3: Thiết kế cấc hoạt động tương ứng với từng giai đoạn của kĩ thuật mảnh
ghép
Sau khi xác định được các nội dung có khả năng áp dụng kĩ thuật mảnh ghép, tiến
hành thiết kế các hoạt động tương ứng với từng giai đoạn của kĩ thuật mảnh ghép bằng việc
xây dựng nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm chuyên sâu.
Sau đó xây dựng nhiệm vụ mới cho nhóm “mảnh ghép”, nhiệm vụ mới mang tính
khái quát, tổng hợp kiến thức trên cơ sở nội dung kiến thức (mang tính bộ phận) HS đã nắm
từ các nhóm “chuyên sâu”.
Ví dụ 1: Áp dụng quy trình sử dụng kĩ thuật mảnh ghép dạy “Bài 16: Tiêu hóa ở động
vật (tiếp theo)”
* Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Sau khi học xong bài này, HS phải:
+ Mô tả được cấu tạo của ống tiêu hóa ở thú ăn thịt và thú ăn thực vật.
+ So sánh được cấu tạo và chức năng của ống tiêu hóa ở thú ăn thịt và thú ăn thực vật,
từ đó rút ra được các đặc điểm thích nghi.
+ Rèn kĩ năng quan sát, phân tích tranh hình, nghiên cứu thông tin phát hiện kiến
thức. Rèn các thao tác tư duy: so sánh, tổng hợp.
* Bước 2: Xác định các nội dung dạy học có khả năng áp dụng kĩ thuật mảnh
ghép
Bài có 2 nội dung dạy học chính:
+ Nội dung 1. Tìm hiểu đặc điểm tiêu hóa ở thú ăn thịt.
+ Nội dung 2. Tìm hiểu đặc điểm tiêu hóa ở thú ăn thực vật.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trưởng ĐHSP Hà Nội 2
Đinh Thị Luyến 24 K36A - SP Sinh
Cả hai nội dung trên đều có thể áp dụng kĩ thuật mảnh ghép để HS thấy rõ được
những đặc điểm thích nghi trong cấu tạo và chức năng của cơ quan tiêu hóa ở thú ăn thịt và
thú ăn thực vật. Từ đó thấy được sự khác nhau về cấu tạo ống tiêu hóa và quá trình tiêu hóa
thức ăn của thú ăn của thú ăn thịt và thú ăn thực vật.