Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học chương 1, sinh học 11 - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======

ĐINH THỊ LUYẾN SỬ DỤNG KĨ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG
DẠY HỌC CHƢƠNG I – SINH HỌC 11 (CTC)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Sinh học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. ĐỖ THỊ TỐ NHƢ
HÀ NỘI - 2014
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đinh Thị Luyến K36A – SP Sinh


LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Chương I - Sinh học 11
(CTC)” đã được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Tố Như và sự cố
gắng của bản thân tôi.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi, không trùng với kết quả nghiên cứu của bất kì tác giả khác.
Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Đinh Thị Luyến Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đinh Thị Luyến K36A – SP Sinh

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

STT
Kí hiệu viết tắt
Đọc là
1
CTC
Chương trình chuẩn
2
GV


Đinh Thị Luyến K36A – SP Sinh

MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Giả thuyết khoa học 2
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Đóng góp của đề tài 4
8. Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1.Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài 5
1.1.1. Lịch sử phát triển phương pháp dạy học tích cực trên thế giới 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học tích cực ở Việt
Nam 5
1.2. Cơ sở lí luận 8
1.2.1. Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học 8
1.2.1.1. Phương pháp dạy học 8
1.2.1.2. Phương pháp dạy học tích cực 10
1.2.1.3. Kĩ thuật dạy học 12
1.2.2. Kĩ thuật mảnh ghép 13
1.2.2.1. Khái niệm kĩ thuật mảnh ghép 13
1.2.2.2. Mục tiêu sử dụng kĩ thuật mảnh ghép 13
1.2.2.3. Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép 13
1.2.2.4.Yêu cầu khi thực hiện kĩ thuật mảnh ghép 15
1.2.2.5. Ưu điểm và nhược điểm của kĩ thuật ghép 16

3.4. Kết quả 67
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1. Kết luận 68
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2

Đinh Thị Luyến K36A – SP Sinh

2. Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC

Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 1 K36A – SP Sinh

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
Vấn đề vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới theo phương
hướng nào, từ lâu đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đặt ra và xác định rõ
trong các văn kiện, nghị quyết đề cập đến GD&ĐT. Nghị quyết Trung ương 4 khoá
VII đã đề ra nhiệm vụ: “đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc
học, phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại
để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề.
Nghị quyết Trung ương 2 Khoá VIII tiếp tục khẳng định: “phải đổi mới phương
pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ”.

cực được quan tâm và chú ý.
Kĩ thuật mảnh ghép có vai trò quan trọng đối với việc dạy và học của GV và
HS. Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học tạo ra hoạt động đa dạng, phong
phú, HS được tham gia vào các hoạt động với nhiệm vụ khác nhau và các mức độ
yêu cầu khác nhau. Trong kĩ thuật mảnh ghép khiến HS chủ động, tích cực, nỗ lực
tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành vai trò trách nhiệm của
mỗi cá nhân.
Thông qua các hoạt động này hình thành ở HS tính chủ động, năng động, linh
hoạt, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập đối với chính mình và các
bạn trong lớp. Đồng thời hình thành ở học sinh các kĩ năng giao tiếp, trình bày, hợp
tác, giải quyết vấn đề
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài:“Sử dụng kỹ
thuật mảnh ghép trong dạy học Chương I - Sinh học 11 (CTC)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng kĩ thuật mảnh ghép vào tổ chức dạy học Chương I: Chuyển hóa vật
chất và năng lượng, Sinh học 11 – CTC.
3. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng kỹ thuật mảnh ghép một cách hợp lý và khoa học vào tổ chức
dạy học Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng – CTC thì sẽ nâng cao được
hiệu quả dạy học Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng – CTC.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 3 K36A – SP Sinh

4. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng
lượng, Sinh học 11 – CTC.
4.2. Khách thể nghiên cứu

dạy học tích cực trong dạy học.
- Xây dựng được một số hoạt động dạy và học theo kĩ thuật mảnh ghép trong
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh học 11- CTC.
- Thiết kế được một số giáo án dạy học nội dung kiến thức Chương I, Sinh
học 11 có sử dụng kĩ thuật mảnh ghép.
8. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu vận dụng kĩ thuật mảnh ghép vào trong dạy học
Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh học 11 – CTC.

Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 5 K36A – SP Sinh

PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài
1.1.1. Lịch sử phát triển phương pháp dạy học tích cực trên thế giới

Từ năm 1970 đã có nhiều công trình nghiên cứu về PPDH: Tác giả Nguyễn
Sĩ Tý (1971) với công trình nghiên cứu: “Cải tiến PPDH nhằm phát triển trí thông
minh của HS thông qua chương Di truyền và biến dị”, tác giả Lê Nhân (1974) với
công trình: “ Kiểm tra đánh giá kiến thức bằng phiếu kiểm tra đánh giá”.
Đặc biệt từ năm 1980 đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát huy tính tích
cực học tập, phát triển tư duy HS, như các công trình nghiên cứu của Giáo sư Đinh
Quang Báo, Vũ Đức Lưu.
Năm 1994 Giáo Sư Trần Bá Hoành với công trình nghiên cứu: “Dạy học lấy
HS làm trung tâm, thiết kế bài học theo PPDH tích cực”.
Tháng 12/1995 Bộ giáo dục tổ chức hội thảo quốc gia về đổi mới PPDH theo
hướng hoạt động hóa người học.
Từ năm 2000 trở đi: Đẩy mạnh cải cách giáo dục, đổi mới mục tiêu, nội dung
và PPDH ở tất cả các bậc từ tiểu học đến THPT. Luật giáo dục công bố năm 2005,
Điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương
trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Các chương trình bồi dưỡng giáo
viên và ứng dụng công nghệ thông tin của các tập đoàn máy tính như Intel,
Microsoft đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá và sử dụng PPDH tích cực ở
Việt Nam.
Từ năm 1997 đến nay, chính phủ Vương quốc Bỉ với 2 dự án hỗ trợ cho các
tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng áp dụng phương pháp
dạy và học tích cực. Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến năm
2003 và dự án Việt Bỉ II đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến năm 2009 với mục tiêu
là nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học, trung học cơ sở các
tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Dự án đã cho ra cuốn tài liệu Dạy và học tích cực
– Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học. Cuốn tài liệu này được biên soạn với sự

Tuy nhiên, việc vận dụng kĩ thuật mảnh ghép vào trong dạy học ở các cấp
học vẫn còn hạn chế, không được phổ biến.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 8 K36A – SP Sinh

1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học
1.2.1.1. Phương pháp dạy học
Đã có rất nhiều khái niệm về phương pháp dạy học được đưa ra như sau:
1. N.M. Veczilin và V.M. Coocxunskaia: “Phương pháp dạy học là cách thức
thầy truyền đạt kiến thức, đồng thời là cách thức lĩnh hội của trò”. [2]
2. Nguyễn Ngọc Quang (1970): “PPDH là cách thức làm việc của thầy và
của trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò
tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”. [5]
3. Đặng Vũ Hoạt (1971): “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy
và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm
thực hiện các nhiệm vụ dạy học”. [5]
4. Đinh Quang Báo (2000): “PPDH là cách thức hoạt động của thầy tạo ra
mối liên hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt mục đích dạy học”. [2]
5. Trần Bá Hoành (2002): “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ
chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục
tiêu dạy học”. [5]
Có thể thấy, vấn đề PPDH đang là vấn đề tranh luận nhiều trong LLDH và
PPDH bộ môn. Sự không thống nhất trong định nghĩa thuật ngữ phương pháp dạy
học là do sự sử dụng đồng nghĩa các từ “phương thức”, “con đường”, “cách thức”,
“kiểu”…cùng với việc lựa chọn thuật ngữ là sự tranh luận về dấu hiệu bản chất thể
hiện trong câu định nghĩa PPDH.
Về thuật ngữ, trong PPDH phổ biến sử dụng thuật ngữ “cách thức”. Cách

một nội dung khoa học nào đó theo một logic hợp lí, rồi bằng logic của nội dung đó
mà chỉ đạo hoạt động của học trò. Như vậy trong PPDH có 2 chức năng gắn bó với
nhau là: chức năng truyền đạt và chức năng chỉ đạo (chức năng điều khiển). Về phía
học sinh, khi học các em vừa tiếp thu điều thầy giảng, lại vừa tự điều khiển quá
trình học của bản thân, dựa trên logic bài giảng của thầy truyền đạt học sinh tự chỉ
đạo việc học tập của bản thân (tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra –
đánh giá). Như vậy, trong PPDH hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó mật
thiết với nhau như hai mặt của một hoạt động.
Như vậy, PPDH phải thể hiện được các liên hệ biện chứng sau:
- Giữa dạy và học.
- Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong việc dạy.
- Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong việc học.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 10 K36A – SP Sinh

→ Từ bản chất của PPDH, có thể nêu nên một khái niệm khái quát nhất về
phương pháp dạy học:
“Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của thầy tạo ra mối liên hệ qua
lại với hoạt động của trò để đạt được mục tiêu dạy học”.
* Phương pháp dạy học có thể được chia theo ba cấp độ: cấp độ vi mô (Quan
điểm dạy học), cấp độ trung gian (Phương pháp dạy học cụ thể), cấp độ vĩ mô (Kĩ
thuật dạy học).
+ Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương
lĩnh, là mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học (có thể hiểu quan điểm dạy học
tương đương với các trào lưu sư phạm).
+ Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của
bài học.
+ Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hoạt động của giáo viên và

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt
động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo
viên sắp đặt. Điểm nổi bật của dạy học tích cực là cường độ và thời lượng hoạt động
độc lập của học sinh chiếm phần lớn thời gian tiết học. Với sự hỗ trợ nhiều phương
tiện chủ quan, học sinh được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, quan
sát tác động vào đối tượng nghiên cứu từ đó làm nảy sinh nhu cầu nhận thức. Học
sinh được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo
cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới.
Học sinh dưới sự hướng dẫn của của giáo viên tiến hành hoạt động, học tập
tìm ra kiến thức mới theo con đường của các nhà khoa học, bản thân học sinh được
khám phá, được trải nghiệm và có được niềm vui trong học tập.

Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho
học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục
tiêu dạy học.
Dạy học tích cực khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh được quan sát,
làm thí nghiệm, nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, giúp các em hình
thành kĩ năng quan sát, kĩ năng làm thí nghiệm, kĩ năng đọc sách. Dạy học tích cực
áp dụng quy trình của phương pháp nghiên cứu đặc thù của bộ môn, giúp học sinh
nắm vững phương pháp nghiên cứu, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề. Kết
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 12 K36A – SP Sinh

quả là tạo sự chuyển biến từ học tập thụ động sang chủ động, rèn luyện phương
pháp tự học, tự nghiên cứu, phát triển năng lực học tập cho học sinh.



Đinh Thị Luyến 13 K36A – SP Sinh

1.2.2. Kĩ thuật mảnh ghép
1.2.2.1. Khái niệm kĩ thuật mảnh ghép
Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập kết hợp giữa cá
nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm.
1.2.2.2. Mục tiêu sử dụng kĩ thuật mảnh ghép
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm.
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá hợp tác (không chỉ nhận thức hoàn
thành nhiệm vụ học tập cá nhân mà còn phải trình bày truyền đạt lại kết quả và thực
hiện nhiệm vụ ở mức độ cao hơn).
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.
1.2.2.3. Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép
Quá trình thực hiện kĩ thuật mảnh ghép được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 (Vòng 1): “Nhóm chuyên sâu”.
+ Giai đoạn 2 (Vòng 2): “Nhóm mảnh ghép”.
* Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
- Lớp học được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 – 6 học sinh). Mỗi nhóm
được giao một nhiệm vụ tìm hiểu, nghiên cứu sâu một phần nội dung học tập khác
nhau nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Các nhóm này được gọi là “nhóm
chuyên sâu”.
- Các nhóm nhận nhiệm vụ và nghiên cứu, thảo luận, đảm bảo mỗi thành
viên trong các nhóm đều nắm vững và có khả năng trình bày lại được các nội dung
trong nhiệm vụ được giao cho các bạn ở nhóm khác. Mỗi học sinh trở thành
“chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm hiểu trong nhóm mới ở giai đoạn tiếp theo.
* Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
- Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1, mỗi học sinh từ các nhóm
“chuyên sâu” khác nhau lại hợp lại thành các nhóm mới, gọi là nhóm “mảnh ghép”.

đoạn 1, mỗi thành viên ở các nhóm “chuyên sâu” khác nhau sẽ hợp thành nhóm mới
đó là nhóm “mảnh ghép”.
- Các thành viên của nhóm chuyên sâu lần lượt trình bày nội dung mà mình
đã nắm rõ ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm “mảnh ghép” nghe.
- Giáo viên giao nhiệm vụ mới:
+ Cho biết những ưu điểm của hệ tuần hoàn kín so với hệ tuần hoàn hở.
+ Cho biết ưu điểm của hệ tuần hoàn kép so với hệ tuần hoàn đơn.
+ Nhận xét về chiều hướng tiến hóa của hệ tuần hoàn.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 15 K36A – SP Sinh

- Các nhóm mảnh ghép thảo luận thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Đại diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác phản hồi.
- Giáo viên kết luận.

Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Vòng 1
Vòng 2
1 11
1
1
1
2 22
22
2
3 33
3
3

“chuyên sâu”.
* Đối với học sinh
- Học sinh cần hình thành thói quen học tập hợp tác và những kĩ năng xã hội,
tính chủ động, tinh thần trách nhiệm trong học tập.
- Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động nhóm, các thành viên trong nhóm cần
được phân công các nhiệm vụ như sau:
Vai trò
Nhiệm vụ
Trưởng nhóm
Hậu cần
Thư kí
Phản biện
Liên lạc giữa các nhóm khác
Liên lạc với giáo viên
Phân công nhiệm vụ
Chuẩn bị đồ dùng tài liệu cần thiết
Ghi chép kết quả
Đặt câu hỏi phản biện
Liên hệ với các nhóm khác
Liên hệ với giáo viên xin trợ giúp

1.2.2.5. Ưu điểm và nhược điểm của kĩ thuật mảnh ghép
* Ưu điểm
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm. Nâng
cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác, không chỉ nhận thức hoàn thành
nhiệm vụ học tập cá nhân mà còn phải trình bày truyền đạt lại kết quả và thực hiện
tiếp nhiệm vụ ở mức độ cao hơn.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2


1.3.3. Nội dung điều tra
Điều tra về các vấn đề chủ yếu sau:
- Các phương pháp dạy chủ yếu được sử dụng trong dạy học Sinh học 11.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 Đinh Thị Luyến 18 K36A – SP Sinh

- Việc vận dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Sinh học 11.
- Những khó khăn khi áp dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học Sinh học
11.
- Ưu điểm và hạn chế của kĩ thuật mảnh ghép.
1.3.4. Phương pháp điều tra
- Sử dụng phiếu điều tra (nội dung phiếu điều tra xem ở phụ lục) kết hợp với
dự giờ, tìm hiểu giáo án và trao đổi với một số GV về các nội dung điều tra.
1.3.5. Kết quả điều tra
* Chúng tôi đã lấy được ý kiến của 11 GV dạy Sinh học. Thông qua phiếu
điều tra kết hợp với dự giờ và trao đổi với một số GV về các nội dung điều tra
chúng tôi có rút ra một số kết luận sau:
- Về phương pháp dạy học: Đa số giáo viên dạy Sinh học 11 bằng phương
pháp giảng giải, vấn đáp kết hợp với phương tiện trực quan (tranh vẽ, mô hình).
Một số ít GV còn sử dụng thêm phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề và
hoạt động nhóm.
- Về thực tiễn triển khai việc vận dụng kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học
Sinh học: Có 4/11 GV đã sử dụng kĩ thuật mảnh ghép vào trong dạy học, 2/11 GV
đã biết và hiểu nhưng chưa sử dụng, 5/11 GV chưa biết về kĩ thuật này. Như vậy,
mức độ vận dụng kĩ thuật mảnh ghép vào trong dạy học Sinh học còn thấp, có
trường không vận dụng như trường THPT Dương Xá (Gia Lâm – Hà Nội).
- Khó khăn khi vận dụng kĩ thuật mảnh ghép là mất nhiều thời gian; nhiệm
vụ nêu ra phải hết sức cụ thể, đảm bảo tất cả mọi HS đều rõ và có khả năng hoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status