BÀI TẬP LỚN
Môn: quá trình và thiết bị thủy lực trong công nghệ hóa học
Đề tài : Tính toán thiết kế đường ống, thùng cao vị, bơm chất lỏng cho nhà
máy sãn xuất soda có năng suất 12m3/h ?
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SÔĐA
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SÔĐA
1.Khái niệm chung
2. Lịch sử hình thành và phát triển
II. PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT
1. Phương pháp tự nhiên
2. Phương pháp Leslanc
3. Phương pháp Solvay hay phương pháp amôniac
4. Phương pháp cacbonat hóa xút
III. ỨNG DỤNG
1. Ứng dụng trong thủy tinh
2. Ứng dụng trong chất tẩy rửa
3. Ứng dụng trong hóa chất
IV. THỊ TRƯỜNG VÀ TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG
1. Thị trường châu á- thái bình dương
2. Thị trường toàn cầu
V. Ý NGHĨA VÀ SU THẾ CỦA SÔĐA
1. Ý nghĩa của sô da trong nền kinh tế quốc dân
2. Xu thế phát triển
VI. TÍNH TOÁN THIẾT KẾ HỆ THỐNG SẢN XUẤT
VII. BẢN VẼ CHI TIẾT
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SÔĐA
1. Khái niệm chung
1
Natri cacbonat, hay còn gọi là sôđa, là một sản phẩm khoáng chất tồn tại tự
nhiên ở quặng trona, nacolit và trong nước khoáng giàu natri cacbonat hoặc
nước biển. Sôđa được sử dụng cho nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp
đều cần sự có mặt của soda. Nhu cầu soda đứng thứ 11 tính về sản lượng
khi so với các hợp chất vô cơ, hữu cơ, kể cả hoá dầu. Bởi tầm quan trọng
của mình, soda được đề cập sản xuất từ những năm 1775. Năm 1775, Viện
Hàn lâm khoa học Pháp nêu giải thưởng cho phát minh tìm kiếm phương
pháp sản xuất soda trong công nghiệp. Năm 1773 Va-lơ đã đề ra phương
pháp sản xuất xút bằng cách cho acid chì vào dung dịch muối ăn đặc, theo
phản ứng:
2NaCl + H2O + xPbO = 2NaO[(x-1)PbO].PbCl2
Phương pháp này không được ứng dụng trong công nghiệp vì nồng độ xút
tạo thành trong dung dịch rất nhỏ, mức độ chuyển hoá của phản ứng rất
chậm, acid chì lại rất độc, hại cho sức khoẻ.
Vì vậy phương pháp này chỉ mang tính chất lịch sử chứ không có tác dụng
thực tế sản xuất
3
Sau đó, Lê-bơ-lan đưa ra phương pháp chế tạo soda từ
muối ăn, acid sulphuric và đá vôi. Năm 1791 Lê-bơ-lan đã xây dựng nhà máy
sản xuất soda theo phương pháp của mình ở gần Paris.Từ đó phương pháp
Lê-bơ lan ngày càng hoàn chỉnh và chiếm độc quyền trong công nghiệp chế
tạo các hợp chất kiềm. Phương pháp Lê-bơ-lan tuy đã giải quyết được nhu
cầu công nghiệp ở thế kỷ XVIII tuy vậy vẫn tồn tại nhiều nhược điểm: sản
phẩm chưa tinh khiết, quá trình sản xuất phức tạp, nặng nhọc…
Năm 1861, Solvay, kỹ sư người Bỉ đã phát minh ra
phương pháp amoniac để chế tạo soda. Năm 1865, công suất xưởng chế tạo
soda theo phương pháp Solvay đạt 10 tấn/ngày. Phương pháp Solvay lúc đầu
bị sự cạnh tranh mạnh bởi phương pháp Lê-bơ-lan. Sau đó, do tính ưu việt về
sự tinh khiết của sản phẩm, giá thành thấp, điều kiện làm việc nhẹ nhàng so
với phương pháp Lê-bơ-lan, không bao lâu phương pháp Solvay đã chiếm ưu
thế và được phát triển mạnh. Cho đến năm 1900, sản xuất soda theo phương
pháp này đã chiếm tới 90% tổng sản lượng soda, và cho đến sau chiến tranh
thế giới lần I phương pháp Lêbơ- lan thực tế không còn tồn tại trong công
II. PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT
Hiện nay trên thế giới, tùy thuộc vào tài nguyên và điều kiện kinh tế mỗi
nước, quá trình sản xuất sô đa có thể thực hiện theo một trong các phương
pháp sau:
1. Khai thác sô đa thiên nhiên.
Sô đa thiên nhiên nằm dưới dạng các dung dịch nước có chứa các muối
khoáng, trong đó có khoáng Na
2
CO
3
hòa tan. Trong các nguồn nước khoáng
chứa sô đa thì hồ Sirlis thuộc bang California, Mỹ có chứa 4 - 6% Na
2
CO
3
là
nguồn khai thác sô đa thiên nhiên lớn nhất thế giới do Công ty American
Postash and - Chemical Corp khai thác. Với công suất 160.000 tấn sô đa/ năm
thì phải xử lý trên 4 triệu m
3
nước khoáng, tiêu tốn nhiều nhiệt để bay hơi
nước, do đó giá thành sản phẩm khá cao và khó cạnh tranh trên thị trường
hiện nay. Vì vậy, sản xuất sô đa từ nguồn muối tự nhiên chỉ chiếm dưới 3%
tổng lượng sản xuất hàng năm.
2. Phương pháp Leslanc
Nguyên lý : Ðiều chế Na2SO4 muối ăn và axít H2SO4 :
2NaCl + H2SO4 = Na2SO4 + 2HCl
Sau đó nung trong lò quay cùng với than và Canxicacbonat ở 1000oC
Na2SO4 + 2C +CaCO3 = Na2SO4 + CaS + +2CO2
b. Ðiều chế muối amôn hóa:
Công đoạn này là cho nước hấp thụ NH3 để tạo thành nước muối amôn
hóa . Khí NH3 và CO2 tan trong nước sẽ xảy ra các phản ứng :
2NH3 + CO2 + H2O = (NH4)2CO3 (4)
(NH4)2CO3 + CO2 + H2O = 2NH4HCO3 (5)
và cả phản ứng tạo thành cacbonat :
2NH3 + CO2 = NH2COONH4
7
Khí chưng có nhiệt độ 67 - 69oCđược đưa vào thiết bị làm lạnh (3) bằng
nước.Sau đó đưa vào thiết bị hấp thụ (2) phần lớn NH3 và 1 phần CO2 trong
khí chưng được hấp thụ trong thiết bị nay .Khí lên tháp chưng (1) để tiếp tục
hấp thụ khí NH3 và CO2 , sau đó vào tháp rửa (5) sau khi ra khỏi tháp (5) đã
hấp thụ được khoảng 21,5g/l NH3 & 8,2 g/l CO2 được đưa vào tháp (1) Dung
dịch nước muối amôn hóa ra qua hệ thống làm lạnh (11) để hạ nhiệt độ
xuống 30oC rồi sang công đoạn cacbon hóa .
c. Cacbon hóa nước muối amôn hóa :
Trong công đoạn này, nước muối amôn có tác dụng với CO2 tạo thành huyền
phù Natri cacbonat - Quá trình này được gọi là cacbon hóa .
2NH3 + CO2 + H2O = (NH4)2CO3 (4)
(NH4)2CO3 + CO2 + H2O = 2NH4HCO3 (5)
Khi lượng HCO3 đủ lớn ,bắt đầu xảy ra phản ứng trao đổi ion tạo thành
NaHCO3 kết tủa.
NH4HCO3+ NaCl <=> NaHCO3 + NH4Cl
Hiệu suất tạo thành NaHCO3 phụ thuộc vào nồng độ trong khí và vào nhiệt
độ NaHCO3 được băng chuyền đưa vào phiễu (1) rồi vào lò nung Xô Ða (2)
dài khoảng 25m.
Thời gian nung khoảng 3 giờ ,lò đốt bằng mazut hoặc than .Không khí dùng
để đốt nhiên liệu được thổi qua thiết bị trao đổi nhiệt (3) tới 300oC ,rồi vào
buồng đốt (4). NaHCO3 bị phân hủy thành Na2CO3 có hàm lượng khoảng 96
-> 98% ,sản phẩm ra lò được (5) đưa vào kho ,sau khi đã làm sạch.
.10 H
2
O rồi lọc tách và làm mất nước sẽ
thu được sô đa (Na
2
CO
3
). Tuy nhiên nguyên liệu xút lại đắt hơn sô đa do phải
qua giai đoạn điện phân, cô đặc dẫn đến tiêu hao nhiều năng lượng nên giá
thành của xút cao, chỉ những nước có giá điện năng rẻ mới có thể sử dụng
phương pháp này. Tỷ lệ sô đa đi từ xút hiện nay trên thế giới chiếm dưới 10%
tổng lượng sô đa sản xuất và sức cạnh tranh kém.
III. ỨNG DỤNG
1. Ứng dụng trong thủy tinh
Sôđa chiếm 13 - 15% trong số nguyên liệu được
đưa vào cho sản xuất thủy tinh, nó được sử dụng để nấu thủy tinh, làm giảm
nhiệt độ nấu chảy của cát silic trong quá trình nấu chảy và làm tăng tính
mềm dẻo. Mặc dù sôđa chỉ là vật liệu có khối lượng lớn thứ hai trong sản xuất
thủy tinh, nhưng nó lại chiếm tới 50 - 60% tổng chi phí nguyên liệu đầu vào
1. Ứng dụng trong chất tẩy rửa
9
Sôđa được sử dụng làm chất độn và chất phụ gia
trong xà phòng và chất tẩy rửa; đặc biệt nhu cầu sôđa cho chất tẩy rửa chiếm
khoảng 10 - 12% trên toàn thế giới. Hiện mức tiêu thụ sôđa cho thị trường
chất tẩy rửa đã tăng khoảng 100 nghìn tấn/năm do giảm sử dụng
perborat (vì đã được thay thế bằng percacbonat).
2. Ứng dụng trong hóa chất
Sôđa được sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều sản
phẩm hóa chất gốc natri, chiếm 30% nhu cầu. Các sản phẩm hóa chất này
được sử dụng trong nhiều ứng dụng như: nông nghiệp, tác nhân làm sạch và
kiệt. Cho dù trữ lượng quặng trona có giới hạn, nhưng trữ lượng đá vôi,
muối, amoniac lại rất phổ biến và rất nhiều. Đôi khi, sôđa được sản xuất như
sản phẩm phụ của quá trình sản xuất nhôm từ nephelin xienit.
Giá sôđa ở Đông Âu được đoán là sẽ tăng 5 Euro (6,6USD)/ tấn
Trong vài năm gần đây, Công ty Rio Tinto đã phát triển quặng trona Kazan ở
khu vực Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ). Hiện nay Công ty Sođa Eti đang khai thác vùng
trầm tích Trona Beypazari cũng được đặt tại khu vực Ankara của nước này.
Một tập đoàn đầu tư ở Bắc Kinh (TQ) đã xây dựng một nhà máy với trị giá
100 triệu USD tại Kungrad (Ubêkitxtan). Nhà máy này đã đi vào hoạt động
giữa năm 2006 với công suất 100 nghìn tấn sôđa/ năm nhờ sử dụng nguồn
muối lấy từ Barsakelmes và đá vôi lấy từ Jamanssay. Ubêkitxtan sẽ tiêu thụ
khoảng 60 - 70 nghìn tấn/năm và còn lại là xuất khẩu.
Sôđa tổng hợp đắt hơn (tính cả về các chi phí sản xuất và tiêu hao năng
lượng) so với đi từ các quặng sôđa tự nhiên trên thế giới. Tuy nhiên, sôđa
tổng hợp có chất lượng cao hơn rất nhiều so với sôđa được sản xuất từ
quặng trona.
Các sản phẩm phế thải của quy trình Solvay (tổng hợp sôđa) đều có hại cho
môi trường, và có thể gây ra những vấn đề quản lý phế thải nguy hiểm. Hiện
nay, biện pháp để kiểm soát và làm giảm các sản phẩm công nghiệp phế
thải/phát thải các độc tố ra môi trường đang được đặt ra đối với quá trình
sản xuất sôđa tổng hợp. Ngoài ra, quá trình sản xuất sôđa tổng hợp đòi hỏi
nhiều nhân lực hơn so với sản xuất sôđa từ tự nhiên.
Tóm lại, sôđa tổng hợp vẫn có những lợi ích riêng (mặc dù đắt hơn và có hại
cho môi trường) - chất lượng là một trong những ưu điểm của chúng. Tuy
11
nhiên, theo Alan William, một nhà quản lý ở Anh, sôđa là một sản phẩm hàng
hóa trong nhiều lĩnh vực. Cả quy trình Solvay cho sản xuất sôđa tổng hợp và
quy trình monohyđrat cho sản xuất sôđa từ tự nhiên đều có thể sản xuất ra
sôđa với những đặc tính có thể thay đổi được, do đó, sự khác nhau giữa 2 sản
phẩm này là rất ít.
của thị trường. Tata Chemicals hiện đang vận hành các cơ sở sản xuất sôđa
tại Ấn Độ, Kenia, Anh và Mỹ, với tổng công suất 5,3 triệu tấn/ năm, khiến cho
Tập đoàn này trở thành nhà sản xuất sôđa lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau
hãng Solvay của Bỉ.
Tata Chemicals cũng đánh giá rằng tiêu thụ sôđa đang tăng ở tất cả các thị
trường, trong khi đó các khu vực đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ,
12
châu Mỹ La tinh, Đông Nam á đang thể hiện tốc độ tăng trưởng đặc biệt cao
và lành mạnh.
Nhưng một thách thức then chốt đối với các nhà sản xuất sôđa là vấn đề chi
phí đầu vào cao của nguyên liệu và năng lượng. Vấn đề này có vẻ như đang
ảnh hưởng đến tất cả các nhà sản xuất sôđa ở tất cả các khu vực trên thế
giới.
Nhu cầu sôđa trên thế giới
Trung Quốc là nhà sản xuất sôđa lớn nhất thế giới, với sản lượng năm 2009
đạt 19,35 triệu tấn, chiếm gần một nửa tổng sản lượng sôđa toàn cầu. Vì vậy
Trung Quốc cũng đang đóng vai trò chi phối đối với công suất sôđa của thế
giới. Nước có thể cạnh tranh gần nhất với Trung Quốc là Mỹ với sản lượng
sôđa năm 2009 đạt 10 triệu tấn. tiếp theo sau là các nước với công suất nhỏ
hơn như Nga (2,3 triệu tấn), Thổ Nhĩ Kỳ (1,5 triệu tấn), Ấn Độ (1,5 triệu tấn).
Các nhà sản xuất sôđa trên thế giới có những ước tính khác nhau về sản
lượng sôđa toàn cầu năm 2011, nhưng nhìn chung họ đều nhất trí cho rằng
nhu cầu sôđa đang hồi phục.
Công ty FMC Wyoming, nhà sản xuất trona của Mỹ, tin rằng nhu cầu toàn cầu
năm 2011 đạt khoảng 50-51 triệu tấn, tương đương tốc độ tăng trưởng 4-
5% hoặc cao hơn năm 2010 vài triệu tấn. Theo FMC Wyoming, năm đạt mức
sản lượng cao nhất trước đây là năm 2008. Sau đó, nhu cầu đã giảm mạnh
trong năm 2009 khi kinh tế toàn cầu suy thoái. Nhu cầu sôđa bắt đầu tăng
trở lại vào năm 2010 và có khả năng trong năm 2010 sẽ đạt cao hơn mức của
năm 2008 (48,5 triệu tấn).
Wyoming và sở hữu một mỏ sôđa khai thác theo phương pháp dung dịch ở
Colorado, nhưng mỏ này đã ngừng sản xuất từ năm 2004.
Tuy đã bị tụt hạng so với Trung Quốc và trở thành nước sản xuất sôđa lớn
thứ hai trên thế giới, nhưng Mỹ vẫn là nước cung ứng sôđa tự nhiên lớn nhất
thế giới, chủ yếu được sản xuất ở vùng đầm lầy Green River. Tại đây, tài
nguyên khoảng 47 tỷ tấn trona có thể khai thác đang nằm trong các vỉa
quặng trên một khu vực có diện tích 1000 dặm vuông. Nguồn quặng này đủ
để đáp ứng nhu cầu sôđa của thế giới trong vài trăm năm, nó được hình
thành trong quá trình bay hơi nước của hồ Gosiute thời cổ.
Hiện có 4 công ty đang khai thác sôđa tự nhiên tại vùng Green River. Ngoài
Công ty Solvay Mỹ thì còn có 3 công ty khác là FMC Wyoming, OCI Chemicals
và Tata Chemicals.
Một nhà sản xuất sôđa quy mô lớn khác của Mỹ là Công ty Searles Vally
Minerals tại California, chi nhánh của Công ty Nirma (Ấn Độ). Tổng cộng, các
nhà sản xuất sôđa tại Mỹ có công suất danh định 14,5 triệu tấn.
Trung Quốc là nước sản xuất sôđa lớn nhất thế giới, nhưng Mỹ lại đang dẫn
đầu thị trường xuất khẩu sôđa: Năm 2008 Mỹ đã xuất khẩu khoảng 5,4 triệu
tấn sôđa (tương đương 45% sản lượng trong nước). Trong các năm trước sự
trông cậy vào thị trường xuất khẩu khiến cho các nhà sản xuất sôđa tại Mỹ dễ
bị tổn thương, nhưng trong 18 tháng qua yếu tố này đã giúp họ duy trì sản
xuất trong bối cảnh thị trường Mỹ trì trệ.
Các nhà sản xuất Mỹ đã thông báo sự sụt giảm đáng kể của nhu cầu sôđa nội
địa trong năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Nhu cầu trên thị trường sôđa nội địa của Mỹ đã giảm 15% trong năm 2009
và chỉ hồi phục được 5% trong năm 2010, tiếp theo là sự tăng trưởng chậm
trong năm 2011, với nhu cầu chỉ tăng 1-2%.
Nhưng bất chấp sự suy thoái trên thị trường nội địa, các nhà sản xuất sôđa
Mỹ vẫn nhận được các đơn đặt hàng lớn, đạt được giá bán cao và vận hành
với toàn bộ công suất - chủ yếu là nhờ thị trường xuất khẩu.
14
sản xuất lâu năm khác tại châu Âu. Ví dụ, tháng 9/2009 Công ty Brunner
Mond đã phải đóng cửa nhà máy sôđa 420.000 tấn/ năm của mình tại Hà
Lan.
Trong khi đó, lĩnh vực sản xuất thủy tinh và kính xây dựng có thể là ngành
tiêu thụ sôđa quan trọng trong vài năm tới. Các nhà sản xuất của Thổ Nhĩ Kỳ
trong lĩnh vực này đang phát triển mạnh và tìm cách đầu tư vào châu Á và
Trung Đông để mở rộng thị trường.
Sản xuất sôđa tại Trung Quốc
Trung Quốc là nước sản xuất sôđa hàng đầu thế giới với những công ty như
Marine Sơn Đông (công suất 2,5 triệu tấn/ năm) và Sanyo Đường Sơn (công
suất 2 triệu tấn/ năm). Tuy phần lớn sản lượng sôđa này đều được tiêu thụ
15
trong nước, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng nổi lên vị trí hàng đầu trên
thị trường sôđa thế giới nhờ đã tăng công suất sôđa lên gấp đôi chỉ sau một
thập niên, đạt 24 triệu tấn/ năm.
Trong vài năm qua, sự tham gia của Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu
đã tăng mạnh: Năm 2008, Trung Quốc đã xuất khẩu trên 2 triệu tấn sôđa. Sự
gia tăng mạnh của hoạt động xuất khẩu sôđa này đã là nguyên nhân gây ra
những lo ngại cho các nhà sản xuất Mỹ mà từ trước đến nay thường chiếm tỷ
lệ lớn trong xuất khẩu sôđa sang các thị trường châu Á.
Tuy nhiên, cân bằng lực lượng này trên thị trường xuất khẩu sôđa lại đang
dịch chuyển. Trong vài năm qua, giá thành sôđa sản xuất tại Trung Quốc đã
liên tục tăng. Mặt khác, đồng nhân dân tệ của Trung Quốc cũng tiếp tục tăng
giá so với USD. Vì vậy, khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất sôđa Mỹ
trên thị trường châu Á đã tăng lên, sản phẩm của họ đã có thể cạnh tranh với
sản phẩm của Trung Quốc ở tất cả các nơi.
Nhu cầu sôđa trong nước của Trung Quốc hiện đang gia tăng và đạt khoảng
20 triệu tấn trong năm 2011 (tăng khoảng 8%). Nhu cầu sôđa ở các nước
châu Á khác cũng tăng khoảng 3-4%/ năm, mặc dù nhu cầu của Nhật Bản
vẫn rất yếu sau thảm họa động đất và sóng thần tháng 3/2011.
thế giới cũng đang hồi phục và các ứng dụng mới trong các lĩnh vực như ắc
quy ion liti, khí đá phiến, xử lý ô nhiễm, sẽ tiếp tục thúc đẩy nhu cầu sôđa .
Trong năm 2011, giá sôđa đã duy trì ổn định ở tất cả các thị trường, với
những dấu hiệu mạnh của các nhà sản xuất cho thấy ưu tiên cao nhất của họ
là xử lý áp lực của giá đầu vào (nguyên liệu và nhiên liệu) theo cách sao cho
đảm bảo lợi nhuận đồng thời đáp ứng nhu cầu sôđa đang ngày càng tăng.
Vấn đề then chốt đối với các nhà sản xuất sôđa châu Âu là kiềm chế chi phí
sản xuất để tăng lợi nhuận. Nhu cầu tại khu vực đang được cải thiện và hoạt
động xuất khẩu cũng đang diễn biến tốt, do đó các nhà sản xuất sẽ có khả
năng tăng giá sôđa nếu cân bằng cung cầu thuận lợi.
Tuy nhiên, giá sôđa tăng cũng sẽ khuyến khích các nhà sản xuất Trung Quốc
gia tăng sản lượng. Vấn đề là liệu các nhà sản xuất Mỹ và Trung Quốc có chấp
nhận hy sinh lợi nhuận để gia tăng thị phần của mình trên thị trường sôđa
hay không?
V. Ý NGHĨA VÀ SU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA SÔĐA
1. Ý nghĩa của sôđa trong nền kinh tế quốc dân
Muốn cho nền kinh tế và công nghiệp phát triển, các nước đều phải phát triển
các ngành công nghiệp sản xuất ra nguyên liệu cho công nghiệp, trong đó sô
đa là loại nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp sản xuất ra các mặt hàng tiêu
dùng và nguyên liệu cho sản xuất một số kim loại màu và các loại thủy tinh
khác nhau. Hai lĩnh vực này sử dụng 50% tổng lượng sô đa sản xuất ra hàng
năm trên thể giới. Theo các nhà kinh tế tổng kết thì tiêu hao sô đa cho một
đơn vị sản phẩm của một số ngành như sau:
- Thủy tinh: 170 - 200 kg/ tấn
- Nhôm oxit: 145 - 225 kg/ tấn
- Chế tạo Creolit: 608 - 610 kg/ tấn
- Bột giặt tổng hợp: 540 - 560 kg/ tấn
- Dầu mỏ:
+ Tách S khỏi dầu: 350 kg/ tấn S
+ Tách dầu: 0,15 kg/ tấn dầu thô
Tồn tại:
- Hiệu suất sử dụng NaCl < 75%.
- Lượng dung dịch thải bỏ lớn, cỡ 7 - 8m
3
/ tấn sản phẩm. Do đó sản xuất sô đa
theo phương pháp Solvay cần phải có nguồn nguyên liệu NaCl rẻ và đá vôi tốt
để giảm giá thành.
Để khắc phục các tồn tại này, hiện nay trên thể giới đang hướng sản xuất sô
đa liên hợp với sản xuất NH
3
để có nguồn CO
2
và NH
3
bổ sung thường xuyên.
Khi đó, sản xuất sô đa không tuần hoàn NH
3
mà tuần hoàn NaCl trong dung
dịch khi chưa phản ứng hết và bổ sung thêm lượng NaCl rắn có độ sạch
tương đối cao. Khi có trong quá trình sản xuất sô đa tạo ra 2 dạng sản phẩm
là sô đa và amoni clorua làm phân bón cho các cây trồng. Vì vậy, phương án
này đảm bảo sản xuất không có chất thải và giảm chi phí nguyên liệu tối đa.
Công nghệ sản xuất sôđa theo phương pháp tuần hoàn NaCl cho phép giảm
30% vốn đầu tư so với phương pháp tuần hoàn NH
3
vì không phải đầu tư cho
phân xưởng tái sinh NH
3
và chế tạo sữa vôi từ đá vôi. Do đó phương án tuần
18