HỌC VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRIỆU QUỲNH CHÂU
TIỂU LUẬN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tên đề tài luận án:
DÒNG HỌ NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
CHUYÊN NGÀNH: NHÂN HỌC
MÃ SỐ: 62 31 03 02
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh
Hà Nội - 2014
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam
có 1.626.392 người, là dân tộc có số dân đứng thứ 2 sau dân tộc Kinh
(73.594.000 người, chiếm 85,7%). Người Tày có số dân đông nhất trong
các dân tộc thiểu số ở nước ta, cư trú rải rác trên tất cả 63 tỉnh, thành
phố nhưng tập trung tại một số tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng
(207.805 người, chiếm 41% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (155.510 người,
chiếm 52,93% dân số toàn tỉnh), Với địa bàn cư trú đa dạng, người Tày
đã tạo nên những sắc thái văn hoá địa phương phong phú, đa dạng.
Nghiên cứu về người Tày, nhiều học giả và nhiều tài liệu đã khẳng
định người Tày có mặt ở miền Bắc Việt Nam từ cuối Thiên niên kỷ thứ
nhất Trước Công nguyên. Trong Thư tịch cổ Trung Quốc gọi các bộ lạc
ở vùng phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là Bách Việt. Bộ lạc Âu
Việt của nhóm Tày - Nùng và bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt - Mường
nằm trong Bách Việt về sau liên minh với nhau thành Nhà nước Âu Lạc
của thủ lĩnh An Dương Vương - Thục Phán, cư trú ở Bắc Bộ và Bắc
ngành Nhân học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dòng họ trên thế giới
Vấn đề dòng họ đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan
tâm từ rất sớm. Trong đó phải kể tới các tên tuổi như Emily A.Schultz,
Robert H.Lavenda, Lévi-Strauss, Radcliffe-Brown,
Với học thuyết về liên minh, nhà Dân tộc học người Pháp nổi tiếng
Claude Lévi-Strauss trong tác phẩm The Elementary Structures of
Kinship (Cấu trúc cơ bản của quan hệ thân tộc) đã đưa ra mô hình một
trật tự xã hội có cấu trúc chặt chẽ. Theo ông, mọi xã hội con người đều
xây dựng trên một đơn vị tối thiểu về thân tộc, là hạt nhân của thân tộc.
Ông là người đầu tiên nhấn mạnh đến tầm quan trọng của liên minh bên
trong cấu trúc thân tộc, và nêu bật lên sự cần thiết phải trao đổi có đi có
lại trong cấm kỵ loạn luân. Với phương pháp cấu trúc, Lévi-Strauss đã
đem lại một sinh khí mới cho việc nghiên cứu quan hệ thân tộc [132].
Theo hai tác giả Emily A.Schultz và Robert H.Lavenda trong tác
phẩm Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh thì dòng họ được
xác định bằng những mối quan hệ với tổ tiên, vì vậy chúng có một bề
dày thời gian. Nguyên tắc của quan hệ dòng họ bao gồm sự truyền lại
qua mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái và liên kết những người này lại
với nhau thành một nhóm xã hội. Trong một số xã hội, tư cách thành
viên trong một dòng họ sẽ quyết định cách thức người đó được huy động
để phục vụ cho hành động xã hội như thế nào. Những quan hệ bắt nguồn
từ hành vi tính giao được gọi là hôn nhân và những mối quan hệ dựa trên
sinh đẻ được gọi là quan hệ dòng họ. Quan hệ dòng họ là một phạm trù
có tính chất chọn lọc, phản ánh quan điểm của nền văn hóa nào đó về vai
trò của con người. Xã hội mẫu hệ đề cao vai trò của phụ nữ thông qua
sinh đẻ và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng họ trên cơ sở này, không
chú ý nhiều đến vai trò của nam giới trong sinh sản. Ngược lại, xã hội
phụ hệ đề cao vai trò của người cha và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng
tạo nên kết cấu làng xã và rộng hơn là đất nước, bởi gia đình - họ hàng -
làng - nước được coi là sự tổng hòa của các mối quan hệ văn hóa - xã hội
- chính trị - luật tục trong xã hội truyền thống.
Chúng ta có thể tìm thấy những mô tả về phả hệ của các dòng họ,
hệ thống các dòng họ trong các tác phẩm lớn như: Đại Việt sử ký toàn
thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục Tuy
nhiên, các tác phẩm này chưa đi sâu tìm hiểu về cấu trúc, nội dung, ảnh
hưởng của dòng họ.
Tài liệu đầu tiên có nhiều gợi ý quan trọng cho đề tài của chúng tôi
là công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre Gourou. Từ
khảo sát thực tế tác giả đã thống kê được 202 dòng họ ở vùng châu thổ
sông Hồng và bước đầu có những nhận xét về tên họ, sự phân bố các họ
tại làng xã, vùng miền [50]. Đây có thể xem là công trình nghiên cứu có
quy mô đầu tiên ở Việt Nam về dòng họ.
Vào những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu dòng
họ được triển khai mạnh mẽ dưới nhiều góc độ khác nhau như Sử học,
Xã hội học, Dân tộc học, Văn hóa học… tiêu biểu là các công trình của
Trần Quốc Vượng, Phạm Quang Hoan, Ngô Thị Chính, Phan Văn Các,
Đặng Nghiêm Vạn, Phan Đại Doãn, Mai Văn Hai…
Từ góc nhìn văn hóa học, Trần Quốc Vượng với bài viết “Đôi lời
về văn hóa dòng họ ở Việt Nam” trong Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An
với sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI
đã có những phân tích về hệ thống thân tộc, dòng họ của người Việt với
mối quan hệ ba họ, đó là: họ bố, họ mẹ, họ vợ chồng. Từ phương diện
Dân tộc học, trong bài Bàn về dòng họ người Việt của Đặng Nghiêm Vạn
lại cho rằng “họ” có thể được hiểu theo ba nghĩa: (1) Là những người
cùng mang một tên họ, nhưng không thể chứng minh có chung một
nguồn gốc…; (2) Là những thành viên mang cùng tên họ, có cùng một
nguồn gốc…; (3) Là những người cùng thuộc về một ông tổ 5 đời (chi
họ) [124]. Từ góc nhìn Sử học, Phan Đại Doãn trong bài Cơ sở kinh tế
của các thành viên trong dòng họ. Theo đó, dòng họ đóng một vai trò
nhất định trong lịch sử xây dựng làng mới… Dòng họ còn đóng vai trò
như một chỗ dựa tinh thần, và đôi khi là cả vấn đề chính trị chứ không
phải chỉ đơn giản là sự viện trợ về vật chất cho các thành viên trong làng
[117 ].
Trong các công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở miền núi
phía Bắc Việt Nam cũng có một số lượng lớn đề cập đến dòng họ, trong
đó tập trung chủ yếu vào các dân tộc có số lượng cư dân lớn như Thái,
Nùng, Hmông, Dao
Năm 1987, với bài viết “Quan hệ dòng họ trong xã hội người
Hmông”, tác giả Vương Duy Quang đã nhấn mạnh đến sự cố kết của
dòng họ của người Hmông ở ba bình diện cơ bản: cộng đồng cư trú, cộng
đồng ý thức và tình cảm, cộng đồng tôn giáo và lễ nghi [92].
Bàn về thiết chế dòng họ người Hmông trong bài viết “Vai trò của
các thiết chế xã hội truyền thống trong việc quản lý nguồn tài nguyên
cộng đồng người Hmông”, Phạm Quang Hoan cho rằng, tính cố kết dòng
họ của người thể hiện ở hai phạm trù, đó là: cố kết rộng (bao gồm tất cả
những người cùng dòng họ không phân biệt người đó cư trú ở đâu) và cố
kết hẹp (mỗi dòng họ được xem như là một đơn vị cố kết cộng đồng
huyết thống theo dòng cha) [64].
Đề cập đến dòng họ và quan hệ dòng họ của người Thái, Cầm
Trọng trong bài viết “Quan hệ dòng họ trong các bản của người Thái ở
Vùng Tây Bắc” cho rằng, trong một bản Thái cũng có khá đầy đủ mối
quan hệ: ải nọng, lúng ta, nhính xao; ba họ này có mối quan hệ mật thiết
lẫn nhau, thể hiện không chỉ trên góc độ huyết thống mà còn cả những
quan hệ khác xoay quanh nó, đó là không phải anh cũng là em; chẳng
phải họ bên vợ cũng là họ bên mẹ, bên bà; không phải họ bên nội cũng là
họ nhà dâu gia.
Bên cạnh công trình nghiên cứu của Cầm Trọng còn phải kể tới các
bài viết “Đôi nét về dòng họ người Thái vùng đường 7, tỉnh Nghệ Tĩnh”
Có thể thấy vấn đề dòng họ và quan hệ dòng họ đã được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm từ các góc độ tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, chưa
có nhiều công trình đi sâu phân tích sự tác động, ảnh hưởng của các nhân
tố khách quan (địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế - xã hội, mặt bằng văn hóa,
tín ngưỡng tôn giáo, sự cố kết dòng họ, dòng họ trong mối quan hệ với
quyền lực…) đến quan hệ dòng họ cũng như sự phát triển, vai trò và vị
trí của nó trong đời sống của cộng đồng dân cư.
Đối với dân tộc Tày, từ lâu đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, nhất là các khía cạnh văn hóa vật chật, văn hóa tinh thần Riêng
vấn đề dòng họ qua khảo sát tư liệu cho thấy, vấn đề dòng họ vẫn chưa
được chú ý đúng mức, vẫn còn là mảnh đất bỏ ngỏ. Đây cũng là vấn đề
cấp thiết để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu, nhằm hướng tới bổ sung cơ
sở dữ liệu về dân tộc Tày toàn diện hơn.
3. Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
3.1. Một số khái niệm cơ bản
- Dòng họ (clan): Là toàn thể những người cùng huyết thống.
Tính huyết thống có thể được tính theo bên bố (chế độ phụ hệ), hoặc bên
mẹ (chế độ mẫu hệ). Theo đó, khi nói tới cấu trúc, tổ chức dòng họ là đề
cập tới cấu trúc, tổ chức của những người cùng huyết thống.
- Quan hệ dòng họ: là mối quan hệ với những người bên họ bố, họ
mẹ và họ vợ/chồng (của người có vợ/chồng). Theo đó, khi nói tới cấu
trúc, chức năng của quan hệ dòng họ là đề cập tới cấu trúc, chức năng
của mối quan hệ với ba họ nêu trên.
- Tiểu chi - chi họ (Lineage): Tiểu chi (Lineage) là một nhóm
người cùng nguồn gốc theo dòng cha, cùng chung một ông tổ. Độ sâu về
thế hệ không thành vấn đề miễn là con cháu có thể lần ngược lại mối
quan hệ của họ về ông tổ chung của mình. Nếu đây là trường hợp trực
hệ, họ coi mình là thành viên cùng trong một nhà, anh em cùng bố.
Nguyên tắc của tiểu chi là một gia đình mở rộng theo dòng cha. Điểm
quan trọng là mối quan hệ ràng buộc giữa cha - con và giữa các anh em
với các tộc người ở đồng bằng, trung du và miền núi. Làng bản là đơn vị
cư trú chủ yếu của người dân, có một địa giới riêng, một cơ cấu tổ chức,
một hạ tầng cơ sở, những tập tục sinh hoạt, tín ngưỡng, thờ cúng riêng.
Làng bản không chỉ gắn bó với người đang ở mà cả với người đã đi xa vì
nó là nơi chôn rau cắt rốn. Làng bản Việt Nam tạo dựng nên một nền văn
hóa mang phong cách dân tộc. Có thể nói đối với người Việt Nam, làng
bản là nơi con người hướng về như một cội nguồn.
Riêng làng là từ thuần Việt, cũng như các tên gọi của các tộc người
gọi chính quê hương mình. Người Việt có từ làng, người Mường gọi là
quêl, người Thái, người Tày, người Nùng gọi là bản, các dân tộc thiểu số
Trường Sơn -Tây Nguyên gọi là bon, buôn hay theo tiếng gọi Chăm là
plây, plê, palây, blê, hlây tùy theo cách phát âm của từng địa phương
[91].
- Tộc người hay dân tộc (ethnie): là một cộng đồng mang tính tộc
người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được
liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một
tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung
một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể
hiện ở những kí ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng
cữ). Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một
cộng đồng sinh hoạt kinh tế [121, tr.73].
- Nhóm địa phương (group local): là một bộ phận của một tộc
người nhất định, có những mối quan hệ về lịch sử, ngôn ngữ, sinh hoạt
văn hóa, có ý thức tự giác thuộc về tộc người đó. Nhóm địa phương chỉ
được tạo thành khi tự bản thân có một tên gọi riêng phổ biến trong vùng
[121, tr.73].
- Văn hóa tộc người: Văn hóa tộc người được hiểu là tổng thể
những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể giúp cho việc phân biệt tộc
người này với tộc người khác, các nhóm khác. Chính văn hóa tộc người
là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tự giác tộc người. Văn hóa
cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ
cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các
giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể.
Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và
tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên
hệ tình cảm khác. Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do
các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như
kà một hằng số văn hóa.
- Tổ chức xã hội: là khái niệm thường dùng trong xã hội học, và có
thể được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc rộng. Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội
để chỉ bất kể tổ chức nào trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, thì tổ chức xã hội
chính là một tiểu hệ thống xã hội trong một tổ chức xã hội nào đó.
3.2. Cơ sở lý luận
Thuyết tương đối văn hóa (Cultural Relativism) (Frank Boas):
không có nền văn hóa cao, nền văn hóa thấp; không có văn hóa tiến bộ,
văn hóa lạc hậu. Ông cho rằng khi nghiên cứu những nền văn hoá khác
nhau thì có thể tìm ra những điểm chung. Tất cả các xã hội khác nhau
đều phát triển theo một quy luật, đều muốn sáng tạo một nền văn hoá và
nền văn hoá ấy phát triển từ thấp đến cao. Đây là quy luật chung của sự
sáng tạo nhân loại. Cũng do sự phát triển đồng quy nên mỗi nền văn hoá
có một lịch sử riêng của mình và trong quá trình phát triển thì đồng quy
nhau ở một điểm nào đó. Theo ông, mỗi nền văn hoá có lịch sử riêng nên
khi tìm hiểu nền lịch sử của cộng đồng ấy, bắt buộc nhà nghiên cứu phải
thâm nhập vào cộng đồng ấy, biết ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc ấy để
sử dụng trong giao tiếp. Và đặc biệt quan trọng, đó là cách nhìn, phải
xuất phát từ cộng đồng người ở nền văn hoá đó.
Học thuyết này đúng như tên gọi của nó là một sự không áp đặt khi
xem xét về văn hoá dân tộc. Trong quá trình nghiên cứu, việc giải mã nó
phải xuất phát từ phía bên trong lòng nền văn hoá đó. Bởi vì một nền văn
hoá nào cũng mang đậm dấu ấn tư duy, của tình cảm, của ước mong của
đến nay. Đó có thể là sự giao lưu và tiếp biến một cách tự nguyện hoặc
cưỡng bức. Khi đi nghiên cứu đề tài này, nghiên cứu sinh cũng sẽ cố
gắng đưa ra được những yếu tố văn hóa có được do sự giao lưu và tiếp
biến văn hóa của Dòng họ người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
với các tộc người khác trong địa phương và có thể ở phạm vi rộng hơn
(huyện, tỉnh khác).
Thuyết biến đổi văn hóa: Thuyết biến đổi văn hóa chủ yếu hình
thành trên các lý thuyết về biến đổi xã hội được các học giả phương Tây
xây dựng trong ngành Nhân học và Xã hội học. Ở đó, biến đổi xã hội là
một quá trình qua đó các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ
xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay
đổi theo thời gian. Với quan điểm này, văn hóa là một bộ phận của đời
sống xã hội cũng không ngừng biến trong bản thân nó. Đối với việc
nghiên cứu Dòng họ của người Tày ở huyện Bạch Thông, về mặt lí luận
cần phải giải quyết các câu hỏi lớn như: Xác định được các yếu tố tác
động có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống văn hóa; Trong bối cảnh
hiện tại, các hình thái văn hóa truyền thống và văn hóa mới đã tương tác
và ảnh hưởng lẫn nhau ra sao; Trước các biến đổi này, cần xác lập những
mô hình quản lí văn hóa thích hợp nào để đáp ứng với tiến trình biến đổi
này.
Thuyết sinh thái văn hóa: lý thuyết sinh thái văn hóa của Julian
Stewart nhằm để tiếp cận cách con người sử dụng văn hóa để thích nghi
với môi trường tự nhiên cụ thể. Con người trải nghiệm cuộc sống của
mình và thích nghi với các môi trường tự nhiên thông qua bối cảnh văn
hóa. Sinh thái văn hóa là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển
tương ứng với những môi trường nhất định như sinh thái biển đảo, sinh
thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên…
Việt Nam có rất nhiều loại hình sinh thái tự nhiên tương ứng với vùng cư
trú của các tộc người. Trong quá trình sinh tồn, con người phụ thuộc rất
nhiều vào thiên nhiên. Từ những thành tựu văn hóa có được qua sự thích
sử địa phương, văn hoá học, dân tộc học…
3.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dưới góc nhìn Nhân học, trong đó phương
pháp chủ đạo là điền dã dân tộc với các hình thức sau:
- Quan sát, quan sát tham dự: giúp nghiên cứu sinh có được cái
nhìn khái quát ban đầu về địa bàn nghiên cứu. Bên cạnh đó, sử dụng
phương pháp quan sát tham dự kết hợp cùng ghi âm, chụp ảnh, quay
phim nghiên cứu sinh có thể chứng kiến, lưu giữ hình ảnh về tổ chức
dòng họ của người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn
- Phỏng vấn sâu: để có thể đi sâu tìm hiểu chi tiết tổ chức bản của
người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn trước và sau khi đổi mới,
nghiên cứu sinh xác định đối tượng tham gia phỏng vấn sâu được nghiên
cứu sinh lựa chọn sẽ đa dạng về nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, trình độ
học vấn để có cái nhìn toàn diện về vấn đề. Nội dung các cuộc phỏng
vấn sâu này sẽ được chuẩn bị sẵn bằng một bộ câu hỏi phù hợp với nội
dung nghiên cứu của luận án.
- Thảo luận nhóm: để có cái nhìn đa chiều từ nhiều hướng, các
cuộc thảo luận nhóm với nhiều thành phần tham dự (bí thư, trưởng bản,
hội nông dân ) sẽ được nghiên cứu sinh sử dụng. Đây sẽ là công cụ đắc
lực giúp nghiên cứu sinh thu thập thông tin đa chiều khi đánh giá, tìm
hiểu, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy được các nét đẹp văn hoá
truyền thống của người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Bên cạnh điền dã dân tộc học, nghiên cứu sinh cũng sử dụng một
số phương pháp liên/đa ngành sau:
- Phương pháp thu thập tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: thu
thập các tài liệu, báo cáo, thông tin có liên quan về các vấn đề dân tộc
Tày, về dòng họ
- Phương pháp điều tra xã hội học: dùng phiếu hỏi để hỏi ý kiến
của người dân về các vấn đề liên quan đến luận án. Dùng phần mềm
SPSS xử lý kết quả điều tra của phiếu hỏi. Những dữ liệu định lượng này
6. Đào Duy Anh (1957), Cổ sử Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
7. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
8. Đỗ Thị Phương Anh (2006), Văn hóa dòng họ Nguyễn Quý ở làng
Đại Mỗ (xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội), Luận văn thạc sỹ Văn
hóa học, Tư liệu tại Thư viện Dân tộc học.
9. Lê Minh Anh (2000), Dòng họ và quan hệ dòng họ của người Việt ở
làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Khóa luận tốt
nghiệp, Tư liệu Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
10. Lê Minh Anh (2014), Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình,
Luận án Tiến sĩ Nhân học, Học viện Khoa học xã hội.
11. Lê Minh Anh (2011), "Hôn nhân truyền thống của người Nùng Phàn
Slình", Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 327, tr.21-25.
12. Nguyễn Tuấn Anh (2001), "Quan hệ dòng họ với đời sống kinh tế hộ
gia đình ở một xã nông thôn Bắc Trung Bộ", Tạp chí Xã hội học, số 4,
tr.55-62.
13. Nguyễn Tuấn Anh (2011), "Vốn xã hội và mấy vấn đề đặt ra trong
nghiên cứu vốn xã hội ở Việt Nam hiện nay", Tạp chí Xã hội học, số
3, tr.9-17.
14. Triều Ân (1996), Ca dao Tày Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
15. Triều Ân - Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ - Tục ngữ dân tộc
Tày, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
16. Đỗ Bang (2006), Đóng góp của những người con dòng họ Thân trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội
17. Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương (1998), Nghị quyết Hội nghị Trung
ương V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Hà Nội.
18. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn
(2000), Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
33. Ngô Thị Chính (1997), "Dòng họ với vấn đề dân số", Tạp chí Dân tộc
học, số 2, tr. 41-44.
34. Ngô Thị Chính (1986), "Vài nét về hệ thống thân tộc người Việt",
Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.50-57.
35. Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn (2011), Tổng điều tra dân số và nhà ở
01/4/2009 tỉnh Bắc Kạn, Kết quả toàn bộ, tháng Nxb Thống kê1.Hà
Nội.
36. Hoàng Tuấn Cư (2012), Dòng họ của người Tày trong đời sống xã
hội hiện nay trong Cộng đồng các tộc người ngữ hệ Thái - Kadai ở
Việt Nam truyền thống, hội nhập và phát triển (kỷ yếu hội thảo Thái
học lần VI), Nxb Thế Giới, Hà Nội.
37. Nông Văn Cử, Vài nét về người Tày ở huyện Bạch Thông, Tư liệu
Viện Dân tộc học.
38. Bùi Thế Cường và cộng sự (2010), Từ điển Xã hội học Oxford, Nxb
Đại học Quốc gia.
39. Phan Hữu Dật, Một số vấn đề Dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội.
40. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
41. Khổng Diễn chủ biên (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các
dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
42. Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc (1990), “Mối quan hệ làng, họ
và gia đình truyền thống”, Tạp chí Xã hội học, số 3, tr. 26-34.
43. Phan Đại Doãn (1999), “Cơ sở kinh tế và thể chế tông pháp của dòng
họ người Việt”, Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr. 3-9.
44. Phan Đại Doãn (2003), Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn
hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
45. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng phép nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội.
46. Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý, Nxb Khoa học xã hội,
Đồn tỉnh Bắc Kạn, Luận án Tiến sĩ Nhân học, Học viện Khoa học xã
hội.
60. Lương Thị Hạnh (2010)," Tập tục ma chay cổ truyền của người Tày
Bắc Kạn", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, Tr 121.
61. Erik Harms (2010), Quyền lực ở Việt Nam nhìn từ trong ra: Những
chuyển dịch qua không gian và thời gian và khái niệm của người Việt
về “nội” và “ngoại” trong Hiện đại hóa và động thái của truyền
thống ở Việt Nam - những tiếp cận Nhân học, quyển 1, Nxb Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
62. Bế Văn Hậu (2011), "Tôn giáo, tín ngưỡng của người Tày, Nùng
truyền thống và hiện đại", Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11.
63. Phạm Quang Hoan (1995), "Một số nghi lễ liên quan đến dòng họ ở
người Hmông huyện Kỳ Sơn, Nghệ An", Tạp chí Dân tộc học, số 3,
tr. 14 - 20.
64. Phạm Quang Hoan (2000), "Một số nghi lễ phản ảnh bản sắc và tính
cố kết dòng họ của người Hmông", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,
số 6, tr.62.
65. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (2012), Văn hoá dân gian Tày,
Nùng ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
66. Nguyễn Xuân Hồng (1994), "Dòng họ của người Tà Ôi, Cơ Tu và Vân
Kiều", Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr. 30-32.
67. Nguyễn Văn Huy (1997), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68. Nguyễn Chí Huyên (chủ biên), Hoàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo
(2000), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt
Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
69. Vũ Ngọc Khánh (2006), Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số
Việt Nam, Nxb Thanh niên.
70. Vũ Ngọc Khánh (2004), Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, NXB Văn hoá thông tin.