Dòng họ của người tày ở huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn - Pdf 42

VIỆN HÀN
- LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

TRIỆU QUỲNH CHÂU

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI TÀY
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Ở HYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Chuyên ngành: Nhân học
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Mã số: 62 31 03 02
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài “Dòng họ của người Tày ở huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo đóng
góp ý kiến trong suốt quá trình làm luận án.
Tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Viện Dân tộc học, Khoa Dân tộc Nhân học, Phòng Quản Lý Khoa học và Đào tạo thuộc Học viện Khoa học xã hội đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi theo học nghiên cứu sinh, cũng như giúp đỡ về
các thủ tục trong quá trình viết, bảo vệ luận án.
Lãnh đạo huyện Bạch Thông, các xã Vi Hương, Quang Thuận, thị trấn Phủ
Thông đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình khảo sát, nghiên cứu. Đặc biệt, xin
bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc về sự đón tiếp nhiệt tình của đồng bào Tày ở các thôn bản,
đã vui lòng cung cấp những tư liệu quý báu để tôi hoàn thành luận án này.
Tác giả luận án cũng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc Đại học
Thái Nguyên, Ban lãnh đạo Trường Đại học Khoa học, Phòng Thanh tra - Pháp chế
nơi tôi đang công tác, cũng như sự giúp đỡ ân tình của gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, đã động viên tạo điều kiện thời gian, tinh thần, vật chất, chia sẻ công việc
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu./.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Triệu Quỳnh Châu


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Các chữ viết tắt

DT


Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó Giáo sư

PL

Phụ lục

PVS

Phỏng vấn sâu

THCS

Trung học cơ sở

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TS

Tiến sĩ

Tr


CỦA DÒNG HỌ TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI TÀY HIỆN NAY
4.1. Vai trò của dòng họ trong đời sống người Tày ở huyện Bạch Thông ............... 118
4.2. Một số thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội ở dòng họ người Tày
huyện Bạch Thông .................................................................................................... 127
4.3. Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của dòng họ người Tày ở huyện Bạch
Thông ........................................................................................................................ 130
Tiểu kết Chương 4 ..................................................................................................... 137


KẾT LUẬN ............................................................................................................... 139
CHÚ THÍCH ............................................................................................................. 142
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............. 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 144
PHỤ LỤC BẢNG ..................................................................................................... 155
PHỤ LỤC BẢN ĐỒ.................................................................................................. 171
PHỤ LỤC ẢNH ........................................................................................................ 172
PHỤ LỤC GIA PHẢ CÁC DÒNG HỌ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BẠCH THÔNG192


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Phân bố các dòng họ người Tày ở huyện Bạch Thông............................... 50
Bảng 2.2: Thuật ngữ tên gọi các thế hệ ở người Tày huyện Bạch Thông… .............. 65
Bảng 2.3: Thuật ngữ tên gọi các thế hệ ở người Tày huyện Bạch Thông ở Bạch
Thông theo địa bạ Gia Long 4 (1805) ......................................................................... 70
Bảng 3.1: Một số hình thức tương trợ trong đám cưới cho con trai gia đình ông
Nông Đức Nguyên thôn Đầu Cầu, thị trấn Phủ Thông ............................................... 93
Bảng 3.2: Một số hình thức tương trợ trong đám cưới cho con trai gia đình ông
Nông Đức Chu thôn Đầu Cầu, thị trấn Phủ Thông ..................................................... 95
Bảng 3.3: Một số hình thức tương trợ trong đám tang của gia đình ông Hoàng Lục
Diệm . ....................................................................................................................... 102

khác nhau, góp phần tạo nên sự đa dạng trong thống nhất của nền văn hoá các dân
tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Một trong
những thành tố văn hoá tộc người đến nay luôn giữ vai trò quan trọng đối với cộng
đồng người Tày ở huyện Bạch Thông chính là thiết chế dòng họ.
Thiết chế dòng họ của người Tày là một trong những yếu tố văn hóa có nhiều
điểm tương đồng với một số dân tộc thiểu số khác, nhưng đồng thời cũng có những
nét đặc thù riêng. Dòng họ có vị trí đặc biệt quan trọng, là một trong những thành tố
cốt lõi tạo nên xã hội người Tày. Là nền tảng cho sự tồn tại của thiết chế xã hội
truyền thống, giữ vai trò quan trọng chi phối đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội, trong sự phát triển chung của địa phương, quốc gia. Thông qua các hoạt động

1


kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, nghi lễ thờ cúng dòng họ của các cá
nhân, các gia đình người Tày đã tạo nên chất keo bền vững, chặt chẽ, trong quan hệ
dòng họ, đồng thời thể hiện vai trò và vị trí của dòng họ đối với các gia đình thành
viên, với cộng đồng xã hội. Dòng họ người Tày ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn,
trước đây được hình thành dựa trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp, khép
kín. Ngày nay trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
hội nhập quốc tế, dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan, văn hoá tộc
người Tày ở huyện Bạch Thông trong đó có thiết chế dòng họ đang có những biến đổi
nhất định để phù hợp, thích nghi với những biến đổi đang diễn ra ở tộc người Tày huyện
Bạch Thông nói riêng, tỉnh Bắc Kạn nói chung.
Từ trước đến nay, đã có không ít những thành tựu nghiên cứu về dân tộc
Tày với những cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu khác nhau về nhiều góc
độ, lĩnh vực, vấn đề khác nhau như các lễ thức trong nghi lễ vòng đời (sinh nở,
cưới hỏi, tang ma...), đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần... Tuy nhiên, việc
tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về dòng họ người Tày ở huyện Bạch Thông
chưa được các nhà Dân tộc học/Nhân học ở Việt Nam quan tâm thoả đáng. Lựa

xây dựng nông thôn mới vùng người Tày hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu người Tày tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn trên các phương
diện đặc điểm, vai trò và mối quan hệ của dòng họ trong đời sống kinh tế, văn hoá,
xã hội từ truyền thống đến biến đổi.
Việc lựa chọn dòng họ để nghiên của cứu luận án theo một số tiêu chí sau:
thứ nhất lựa chọn các dòng họ có cách bố trí bàn thờ tổ tiên, tục cúng hang chàn
khác nhau như họ Hoàng, Đinh, Nông, Lường ... để thấy được sự khác biệt của các
dòng họ. Thứ hai, ở các điểm nghiên cứu lựa chọn một số dòng họ có dân số đông
và tụ cư từ lâu đời để thấy được quá trình phát triển của các dòng họ.

3


Trong quá trình thực hiện đề tài để bảo mật thông tin cá nhân một số nhân vật
đã được tác giả luận án thay đổi.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Về không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu ở các xã Vi Hương (vùng cao), Quang
Thuận (vùng thấp), thị trấn Phủ Thông (giáp thành phố), đây là những nơi người Tày cư
trú tập trung và còn lưu giữ được nhiều phong tục tập quán truyền thống.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu dòng họ của người Tày ở huyện Bạch
Thông, tỉnh Bắc Kạn trước năm 1986 (trước đổi mới) và sự biến đổi từ đổi mới năm
1986 đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc. Đặc biệt, luận án
bám sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể để

Phỏng vấn sâu: đối tượng được phỏng vấn sâu có sự đa dạng về nghề
nghiệp, giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn... Nội dung các cuộc phỏng này được
chuẩn bị sẵn bằng một bộ câu hỏi phù hợp với nội dung nghiên cứu của luận án.
Thảo luận nhóm: tác giả thực hiện các cuộc thảo luận nhóm với nhiều thành
phần tham dự (Bí thư chi bộ, Trưởng bản, Chi hội trưởng Hội Phụ nữ, Chi hội
trưởng Hội Nông dân...). Những ý kiến của những người này giúp cho tác giả có
được thông tin đa chiều khi đánh giá, tìm hiểu, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy
các yếu tố tích cực cũng như hạn chế của dòng họ người Tày ở huyện Bạch Thông,
tỉnh Bắc Kạn. Ngoài ra, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh cũng được sử
dụng nhằm thu thập các tài liệu, báo cáo, thông tin có liên quan về các vấn đề dòng
họ dân tộc Tày.…
Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong ngành
Dân tộc học/Nhân học nhằm bổ sung, hoàn thiện các kiến thức còn thiếu sót trong
quá trình thực hiện luận án.

5


5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu nhân học đầu tiên về dòng họ người Tày
truyền thống và biến đổi ở huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Luận án góp phần làm rõ vai trò, ảnh hưởng của dòng họ người Tày ở huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Luận án góp thêm cơ sở khoa học và đề xuất một số giải pháp phát huy
những giá trị tốt đẹp của dòng họ, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực trong
xây dựng nông thôn mới ở vùng người Tày nói riêng và vùng các dân tộc thiểu số
nói chung.
Trong một chừng mực nhất định, luận án còn là tài liệu tham khảo cho sinh
viên các bộ môn lịch sử địa phương, văn hoá học, dân tộc học...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

liên minh bên trong cấu trúc thân tộc và nêu bật sự cần phải trao đổi có đi có lại
trong cấm kỵ loạn luân. Với phương pháp cấu trúc, Claude Levis- Strauss đã đem
lại một sinh khí mới cho việc nghiên cứu quan hệ thân tộc [111; tr. 155-163].
Theo hai tác giả Emily A.Schultz và Robert H.Lavenda trong tác phẩm Nhân
học một quan điểm về tình trạng nhân sinh thì dòng họ được xác định bằng những
mối quan hệ với tổ tiên, vì vậy dòng họ có một bề dày thời gian. Nguyên tắc của
quan hệ dòng họ bao gồm sự truyền lại qua mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái và
liên kết những người này lại với nhau thành một nhóm xã hội. Trong một xã hội tư
cách thành viên trong dòng họ sẽ quyết định cách thức người đó được huy động để
phục vụ cho hành động xã hội như thế nào. Những quan hệ bắt nguồn từ hành vi
tính giao được gọi là hôn nhân và những mối quan hệ dựa trên sinh đẻ được gọi là
dòng họ. Quan hệ dòng họ là phạm trù có tính chất chọn lọc, phản ánh quan điểm
của nền văn hóa nào đó về vai trò của con người. Xã hội mẫu hệ đề cao vai trò của
phụ nữ thông qua sinh đẻ và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng họ, không chú ý
nhiều đến vai trò của nam giới trong sinh sản. Ngược lại, xã hội phụ hệ đề cao vai
trò của người cha và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng họ thông qua những người

7


nam giới, coi nhẹ vai trò mang thai của phụ nữ. Các nhà nhân học cho rằng, có thể
có hai cách chính mà người ta sử dụng để thiết lập dòng họ: Dòng họ song hệ là
nhóm các thành viên có liên quan với nhau bằng một quan hệ như nhau, thông qua
bên cha và bên mẹ; dòng họ đơn hệ gồm những người có liên hệ với nhau chỉ thông
qua bên cha hoặc bên mẹ [66].
Nhà nghiên cứu nhân học Grant Evans khi nghiên cứu dòng họ và hôn nhân
lại chỉ tập trung vào mối quan hệ, vai trò của dòng họ và các tổ chức của những xã
hội không có chữ viết [42], còn Radcliffe-Brown từ nguồn tài liệu điền dã cho rằng,
bản chất của một hiện tượng thân tộc hiểu rộng là sự thành lập những đơn vị có cấu
trúc chặt chẽ và trường tồn trong thời gian, nghĩa là có trước những cá nhân thành

việc nghiên cứu dòng họ được triển khai mạnh mẽ dưới nhiều góc độ khác nhau như
Sử học, Xã hội học, Dân tộc học, Văn hóa học. Tiêu biểu là các công trình của các
tác giả Phan Văn Các [17]; Đặng Nghiêm Vạn [102], [103]; Phan Đại Doãn [33],
[34], [35]; Mai Văn Hai [46], Trần Quốc Vượng [107].
Từ phương diện Dân tộc học, trong bài Bàn về dòng họ người Việt, Đặng
Nghiêm Vạn cho rằng “họ” có thể được hiểu theo ba nghĩa: (1) Là những người
cùng mang một tên họ, nhưng không thể chứng minh có chung một nguồn gốc; (2)
Là những thành viên mang cùng tên họ, có cùng một nguồn gốc...; (3) Là những
người cùng thuộc về một ông tổ 5 đời (chi họ) [102; tr.4-14].
Từ góc nhìn Sử học, GS. Phan Đại Doãn trong bài Cơ sở kinh tế và thể chế
tông pháp của dòng họ người Việt cho rằng dòng họ của người Việt có một thể chế
phức tạp và chặt chẽ thường được gọi là thể chế tông pháp. Đó là những quy định
về cách ứng xử giữa con người với con người cùng một tổ tiên, trước hết là các
công việc quan, tang, hôn, tế, hay nói cách khác là các quan hệ trên cơ sở huyết
thống về các mặt. Quan hệ dòng họ với người Việt thực sự có ý nghĩa quan trọng
trong đời sống hàng ngày và có ý nghĩa là điểm tựa thường xuyên của cuộc sống
con người [34; tr.3-9]; trong cuốn Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế văn hoá
xã hội tác giả phân tích rõ đặc điểm tính quan hệ cộng đồng của dòng họ có khả
năng chi phối mạnh mẽ đến các thành viên [35].
Với cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành Xã hội học và Sử học, hai nhà
nghiên cứu Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn trong cuốn Quan hệ dòng họ ở châu thổ
sông Hồng đã chỉ rõ vai trò của dòng họ trong cộng đồng làng xã với tư cách là một
đơn vị kinh tế, một bộ phận của tổ chức quyền lực và quản lý làng xã, một thiết chế
trong đời sống văn hóa tín ngưỡng. Đồng thời tác giả cũng khẳng định sự cố kết của

9


dòng họ có ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy vai trò của dòng họ đối với các
thành viên [46].



vận động, biến đổi của dòng họ, quan hệ dòng họ tại các địa phương khác nhau, từ đó
bước đầu làm rõ vai trò của quan hệ dòng họ cả về mặt tích cực lẫn hạn chế, trong mọi
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
1.1.2.2. Nghiên cứu về dòng họ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam
Dòng họ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc đã được các nhà dân tộc
học Việt Nam tiến hành nghiên cứu và công bố quan các ấn phẩm như Sơ lược giới
thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, 1968 [63], Những nhóm dân
tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam, 1972 [104]; Người Dao ở Việt Nam,
1971 [38], “Quan hệ dòng họ trong các bản của người Thái ở Vùng Tây Bắc”, 1977
[98], Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử kinh tế - xã hội cổ đại người Thái Tây Bắc Việt
Nam, 1987 [99]; Văn hoá nếp sống của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hà Nhì- Lô Lô,
1985 [53]; “Quan hệ dòng họ trong xã hội người Hmông”, 1987 [76]; Những đặc
điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, 1996 [29]; Đặc trưng văn hoá
và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn - Nghệ An, 1995 [51]; Dân tộc
Khơ - mú ở Việt Nam, 1999 [30]; Dân tộc Si La ở Việt Nam, 2000 [31]; Văn hoá
các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La, 2012 [52], Văn
hoá các dân tộc vùng lòng hồ thuỷ điện Lai Châu, 2016 [89].
Nghiên cứu người Khơ mú, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng các dòng họ mang tên
thú, chim và cây cỏ là tàn dư văn hoá nguyên thuỷ. Qua tên dòng họ, có thể thấy
được vết tích của những bào tộc mẹ (theo Ăng ghen là những thị tộc đầu tiên) và
các thị tộc từ các bào tộc phát triển ra [104]. Tuy nhiên, dòng họ của người Khơ mú được tổ chức khá lỏng lẻo, không chặt chẽ như dòng họ của người Hmông [30,
tr.180]. Với dòng họ người Thái ở vùng Tây Bắc, mối quan hệ: ải nọng, lúng ta, nhính
xao xuất hiện ngay trong một bản, có mối quan hệ mật thiết với nhau, không chỉ về
huyết thống mà còn cả những mối quan hệ khác (không phải anh cũng là em; chẳng
phải họ bên vợ cũng là họ bên mẹ, bên bà; không phải họ bên nội cũng là họ nhà dâu
gia) [98, tr. 73-80]. Tác giả cũng cho rằng sự xuất hiện của tổ chức clan (dòng họ),
gọi theo tiếng Thái là đẳm là một cơ cấu của cộng đồng người lấy dòng máu cha để
quy tụ [99, tr.202]. Đối với người Thái, người Mường dòng họ không chỉ mang tính

[30, tr. 196], với người Thái tất cả mọi thành viên ở trong cùng một tông tộc đều
phải tuân thủ tập tục ngoại hôn. Do vậy ở người Thái, việc thiết lập các quan hệ hôn
nhân trái ngược với những chuẩn mực tập tục của họ dứt khoát bị cấm và bị xã hội
lên án gay gắt và bị nộp phạt rất nặng [16, tr. 42).

12


Khi đề cập đến vai trò của trưởng họ, Phạm Quang Hoan trong công trình
dân tộc Khơ- mú ở Việt Nam cho rằng, trưởng họ ở người Hmông có vai trò rất
quan trọng. Người trưởng dòng họ biết chữ, biết làm nghề thầy cúng thì càng có uy
tín trong dòng họ; không biết chữ, không biết cúng thì mức độ uy tín có giảm đi.
Mọi thành viên trong dòng họ phải luôn nghe theo và làm theo người trưởng dòng
họ. Tuy nhiên, mỗi khi giải quyết việc gì đó, trưởng họ không độc đoán mà có bàn
bạc với các bậc già làng, các bậc cha chú trong dòng họ. Song ý kiến của trưởng họ
mang tính chất quyết định hơn cả [30, tr. 167].
Ngoài các công trình kể trên, dòng họ của dân tộc thiểu số còn được lựa chọn
làm đề tài luận án tiến sĩ, đó là Dòng họ của người Hmông Trắng tỉnh Sơn La do Hồ
Ly Giang thực hiện, nghiên cứu này chỉ rõ đặc điểm dòng họ, các mối quan hệ và
vai trò của dòng họ trong đời sống cộng đồng người Hmông Trắng [39]. Cùng
hướng nghiên cứu dòng họ, Lê Minh Anh chọn đề tài luận án tiến sĩ Quan hệ dòng
họ của người Nùng Phàn Slình (nghiên cứu ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
Trong đó, tác giả trình bày về cấu trúc, chức năng của dòng họ đối với đời sống cá
nhân, gia đình và sự liên kết cộng đồng tộc người, đồng thời đưa ra khuyến nghị
nhằm phát huy yếu tố tích cực, giảm thiểu yếu tố tiêu cực của quan hệ dòng họ ở
người Nùng Phàn Slình trong xây dựng nông thôn mới hiện nay [5].
Có thể khẳng định rằng, tổ chức dòng họ, ở các dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc có vai trò quan trọng trong đời sống tộc người xưa và nay. Dòng họ, dù
là của dân tộc nào cũng đều chi phối đến mọi mặt đời sống của từng gia đình,
từng thành viên cộng đồng cũng như có sự liên quan đến toàn bộ tổ chức kinh tế

hiện đại. Nhưng, công bằng mà nói, quan hệ dòng họ của người Tày trong thời kỳ
Đổi mới cũng nảy sinh thêm nhiều khía cạnh tiêu cực mà thời bao cấp không có.
Chẳng hạn, ngay ở chặng đầu của công cuộc đổi mới, trong việc giao đất giao rừng
cho các hộ gia đình nông dân, do việc chỉ đạo thiếu chặt chẽ và sự buông lỏng quản
lý của chính quyền, một số nơi ở Lạng Sơn, người dân bức xúc đòi lấy lại đất đai
của gia đình mà cha ông họ trước đây là đưa vào hợp tác xã [47, tr.166]. Nghiên
cứu về dòng họ Hoàng ở bản Nầng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Lãng, Hoàng Tuấn Cư
cho rằng, dòng họ không chỉ là một thực thể xã hội mà còn là một môi trường văn
hoá mang tính đặc thù… Hiện nay, nhiều yếu tố truyền thống của dân tộc Tày ở đây
vẫn được giữ nguyên như trước [25, tr. 509, 511]. Cũng nghiên cứu ở bản Nầng,
Hoàng Văn Biểu đã tập trung trình bày về nguồn gốc và cơ sở hình thành dòng họ

14


Hoàng và đi đến kết luận: mọi yếu tố (tác nhân) du nhập đến khác biệt, rồi qua năm
tháng dần sẽ bản địa hoá [13, tr. 522].
Trong công trình của La Công Ý khi đề cập đến dòng họ người Tày đã có một
số nhận định đáng lưu ý. Theo đó, các thành viên của một dòng họ được coi là
những người cùng dòng máu, có chung huyết thống (pi noọng lượt lài) và đều là
con cháu của một ông tổ (pú chỏ). Một số dòng họ lớn, đông thành viên có thể được
chia ra thành các chi họ.
Một số dòng họ người Tày có hệ thống tên đệm giống như ở người Nùng hay
người Dao. Dựa vào hệ thống tên đệm này, người ta có thể biết một người nào đấy
thuộc thế hệ nào, có quan hệ huyết thống với mình gần hay xa. Ví dụ, họ Lệnh ở
Quản Bạ (tỉnh Hà Giang) sử dụng 7 tên đệm khác nhau là Đức, Ân, Quốc, Hậu,
Thế, Anh, Hùng. Người dân cho biết, thoạt kỳ thủy, hệ thống tên đệm của dòng họ
nào cũng gồm 12 tên đệm khác nhau nhưng trải qua quá trình lịch sử lâu dài, một số
tên đệm đã bị loại bỏ, không sử dụng nữa do nhiều người mang những tên đệm đó
bị chết yểu hoặc “bất đắc kỳ từ” [108, tr.235]. Cũng theo tác giả, trước đây, ở người

bằng huyết thống, bằng những quyền lợi vật chất, bằng những niềm tin tôn giáo, bằng
những mối dây luân lý của cộng đồng” [27; tr. 241 - 242]. Le Play lại cho rằng dòng họ
là quá trình phân ra, nhân rộng ra của gia đình gốc, qua nhiều năm tháng. Nội dung mang
tính đặc trưng cốt lõi của dòng họ chính là quan hệ huyết thống .
Ở trong nước các nhà nghiên cứu cũng có những quan niệm riêng về dòng
họ, nhưng đều thống nhất dòng họ là những thành viên có quan hệ huyết thống được
bắt nguồn từ một thuỷ tổ. Phạm vi không gian của dòng họ có thể trong một thôn
bản, xã cũng có thể trong phạm vi quốc gia, quốc tế.
Khái niệm được sử dụng trong luận án: dòng họ là toàn thể những người
cùng huyết thống. Tính huyết thống được tính theo bên bố, được bắt nguồn từ một
thuỷ tổ. Có mối quan hệ kinh tế với chế độ thừa kế lưu giữ, và truyền trao gia sản.
Có quan hệ văn hoá cộng đồng, với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (thuỷ tổ), được tuân
thủ theo nguyên tắc luân lý gia đình, dòng họ, cộng đồng bền chặt.
Quan hệ dòng họ: là mối quan hệ với những người bên họ bố, họ mẹ và
họ vợ/chồng (của người có vợ/chồng). Theo đó, khi nói tới cấu trúc, chức năng
của quan hệ dòng họ là đề cập tới cấu trúc, chức năng của mối quan hệ với ba họ
nêu trên [116].

16


Ngoại hôn dòng họ: là quy tắc hôn nhân của dòng họ, theo đó người đàn
ông không được lấy người phụ nữ có cùng chung ông tổ với mình, dù đã cách xa
mấy đời, người đàn ông chỉ được phép kết hôn với người ngoài dòng họ của
mình [95; tr 38].
Trực hệ: là mối quan hệ trực tiếp theo chiều dọc: ông bà, cha mẹ, con cái.
Trong hệ thống thân tộc, nguyên tắc nối dõi xác định một cá nhân về phương diện
sinh học do ai trực tiếp sinh ra mình, và kèm theo đó là những quyền và nghĩa vụ
đối với gia đình. Người ta phân biệt trực hệ với bàng hệ. Việc xác định trực hệ đối
với các xã hội phụ hệ và mẫu hệ là không giống nhau. Đối với xã hội phụ hệ (Ego là

huyết thống chỉ tính theo dòng cha. Trong các hệ thống thuộc về dòng họ phía cha,
những đứa con trong mỗi thế hệ được xếp cùng nhóm quan hệ thân tộc của cha.
Mặc dù, những con trai và con gái của người đàn ông cùng chung nhóm huyết
thống, nhưng chỉ các con trai thuộc về dòng họ này.
Dòng họ mẫu hệ: dòng họ mẫu hệ thường được xác định quan hệ huyết
thống chỉ tính theo dòng mẹ. Trong các hệ thống thuộc về dòng họ phía mẹ, những
đứa con trong mỗi thế hệ được xếp cùng nhóm quan hệ thân tộc của mẹ. Mặc dù,
những con trai và con gái của người đàn bà cùng chung nhóm huyết thống, nhưng
chỉ các con gái thuộc về dòng họ này [36, tr.259]
Chi họ: chi họ là những người thuộc một dòng họ cùng một ông tổ 5 đời.
Thật ra ta thường gọi là cửu tộc vì nếu xét từ ego tức là thế hệ "tôi” thì ta thấy phía
trên: Thế hệ + I: cha mẹ (phụ mẫu); thế hệ + II ông bà; thế hệ + III cụ ông, cụ bà; thế
hệ + IV: kỵ ông, kỵ bà; còn trên nữa gọi chung là cao cao tổ đến thuỷ tổ. Phía dưới có:
thế hệ - I: con; thế hệ - II: cháu; thế hệ - III: chắt; thế hệ - IV: chút [105, tr.595]
Giá trị: trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con
người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt, là hay, là
đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ,
giúp khẳng định và nâng cao bản chất người.
- Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có
vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người
trong các xã hội ấy. Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital). Như thế,
khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết của
hệ giá trị thì về thực chất chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status