Dòng họ của người hmông trắng ở xã sà phìn, huyện đồng văn, tỉnh hà giang - Pdf 29

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
SẦM THỊ DƯƠNG
DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI HMÔNG TRẮNG Ở XÃ SÀ PHÌN,
HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: PHẠM QUANG HOAN
Phản biện 1: :

Phản biện 2:

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội vào hồi giờ ngày tháng năm 2014.
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên địa bàn tỉnh Hà Giang có ba nhóm Hmông cư trú gồm Hmông
Trắng, Hmông Hoa và Hmông Xanh, trong đó đông nhất là nhóm Hmông
Trắng. Với dân số 244.277 người, chiếm 31% dân số, người Hmông có dân số
đông nhất tỉnh, cư trú tập trung ở 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và
Quản Bạ. Người Hmông ở Hà Giang là một những trong chủ nhân văn hóa của
vùng đất cao nguyên đá Đồng Văn, đồng thời văn hóa tộc người Hmông góp
phần tạo nên sự đa dạng văn hóa của các dân tộc ở tỉnh Hà Giang.
Dòng họ của người Hmông mang những đặc thù riêng, đặc biệt là tính
cố kết dòng họ đã làm nên bản sắc văn hóa của tộc người này. Sự cố kết dòng
họ liên/xuyên biên giới, liên/xuyên quốc gia vừa thể hiện mặt tích cực nhưng

- Tìm hiểu đặc điểm, mối quan hệ và vai trò của dòng họ người Hmông
Trắng ở xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Nêu nên những mặt tích cực và hạn chế trong quan hệ dòng họ người
Hmông, từ đó đề xuất cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa,
đồng thời kiến nghị một số giải pháp trong tổ chức thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc Hmông.
3. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dòng họ của người Hmông Trắng ở xã Sà
Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sâu về 5 dòng họ:
Vương, Sùng, Vừ, Lầu, Ly.
- Địa bàn nghiên cứu: xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
4. Nguồn tư liệu của luận văn
Tư liệu chủ yếu của luận văn được thu thập từ nghiên cứu điền dã tại xã
Sà Phìn, ngoài ra còn kế thừa tài liệu đã được công bố của các nhà nghiên cứu
trong và ngoài nước, kế thừa từ các đề tài nghiên cứu khoa học về dòng họ
Hmông, các số liệu báo cáo của Trung ương và địa phương liên quan đến đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu mới về dòng họ người Hmông,
giúp các cơ quan chức năng có thêm cơ sở thực tiễn tham khảo trong xây
dựng và cụ thể hóa chính sách dân tộc, đồng thời góp phần giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa tộc người Hmông, bảo tồn sự đa dạng văn hóa cổ truyền
của các dân tộc Việt Nam.
6. Nội dung, bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
chính của luận văn có 3 chương sau:
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương
pháp và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương II: Các mối quan hệ dòng họ của người Hmông Trắng ở xã Sà Phìn
Chương III: Vai trò của dòng họ người Hmông Trắng ở xã Sà Phìn

Giang còn rất hiếm cũng như chưa có một khảo cứu điểm chuyên biệt nào về
dòng họ của người Hmông trên địa bàn một xã. Luận văn đi sâu tìm hiểu về
dòng họ người Hmông Trắng ở xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
Luận văn làm rõ nội hàm hai khái niệm cơ bản đó là dòng họ và quan
hệ dòng họ.
Theo Vương Duy Quang, dòng họ người Hmông được hiểu như sau:
xét trên hệ thống thân tộc, khái niệm dòng họ của người Hmông bao gồm
những người đàn ông thuộc các thế hệ khác nhau sinh ra từ một ông tổ và vợ
con của họ. Cụ thể hơn, đó là tất cả những người theo trực hệ tính từ chắt của
Ego (xinhz nzưr). Để diễn tả hình tượng từ một ông tổ sinh ra ấy, đồng bào
dùng thuật ngữ iz trôngs Hmôngz - “cùng một cây người”. Theo tiếng Hmông
trôngs có nghĩa là cây, ở đây hàm ý chỉ một cộng đồng. Từ trôngs lại phân ra
thành nhỏ hơn.
Tác giả luận văn cho rằng mỗi dòng họ Hmông được xem như một đơn
vị cố kết cộng đồng huyết thống theo dòng cha. Tiêu chuẩn để nhận ra dòng
họ là các vị tổ tiên mà dòng họ thờ phụng. Ông tổ là người đã chết mà người
già ở thế hệ cao nhất trong phả hệ còn nhớ.
Quan hệ dòng họ Hmông là một thực thể vừa mang tính sinh học vừa
mang tính xã hội, kết nối những con người - các thành viên trong dòng họ với
nhau và các mối quan hệ này cũng biến đổi qua thời gian.
1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu
Luận văn tiếp cận nghiến cứu thông qua hai lý thuyết là lý thuyết chức
năng cấu trúc và lý thuyết tiếp biến văn hóa. Việc sử dụng hai lý thuyết trên
để tiếp cận nghiên cứu về dòng họ người Hmông, là sự tương hỗ “vừa đủ” để
giải thích một cách biện chứng sự tồn tại và biến đổi của thiết chế dòng họ -
một nét đặc trưng văn hóa của tộc người này. Lý thuyết chức năng cấu trúc
có giá trị trong việc nghiên cứu và giải thích sự tồn tại lâu bền của các thiết
chế xã hội, nhưng lại ít có giá trị cho việc nghiên cứu và giải thích sự biến

chiếm 87,12% dân số toàn huyện (60.893/69.823 người). Sà Phìn là một trong
những xã của huyện Đồng Văn có 100% dân số là người Hmông Trắng, với
tổng dân số 2.804 khẩu/574 hộ, trong đó có 1.405 nữ và 1.399 nam.
1.3.3. Một số đặc điểm về kinh tế
Luận văn giới thiệu khái quát các đặc điểm kinh tế cơ bản về trồng trọt,
chăn nuôi, nghề thủ công, kinh tế khai thác tự nhiên, các hoạt động trao
đổi, mua bán của người Hmông ở xã Sà Phìn.
1.3.4. Một số đặc điểm xã hội
Luận văn giới thiệu khái quát về đặc điểm làng bản, các loại hình gia
đình và các mối quan hệ trong gia đình của người Hmông ở xã Sà Phìn.
1.3.5. Một số đặc điểm văn hóa
Tác giả luận văn khái quát về một số đặc điểm văn hóa vật chất của
người Hmông ở xã Sà Phìn gồm nhà cửa, trang phục, đồ dùng sinh hoạt, ăn
uống của người Hmông ở xã Sà Phìn.
Tiểu kết chương 1
Với mục đích cung cấp cái nhìn tổng thể cho toàn luận văn, chương 1 giới
thiệu những nghiên cứu về người Hmông và dòng họ người Hmông; đồng thời
nêu rõ các lý thuyết nghiên cứu được đề tài áp dụng, gồm lý thuyết chức năng
cấu trúc và lý thuyết tiếp biến văn hóa, sự tương hỗ bổ trợ giữa hai lý thuyết đã
giúp đề tài có cách tiếp cận khoa học và đầy đủ hơn khi lý giải các vấn đề về
dòng họ người Hmông ở xã Sà Phìn. Phương pháp nghiên cứu chính của luận
văn là điền dã dân tộc học, đã giúp thu thập được nguồn tư liệu mới phong phú,
góp phần làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu.
Chương 2
CÁC MỐI QUAN HỆ CỦA DÒNG HỌ
NGƯỜI HMÔNG TRẮNG Ở XÃ SÀ PHÌN
2.1. Đặc điểm dòng họ
2.1.1. Quan niệm về dòng họ của người Hmông
Dòng họ của người Hmông là quan hệ có tính chất đặc biệt, vừa mang
nét chung khi xét về cách xác định thân tộc bằng huyết thống, vừa có tính đặc

các con vật.
Họ Sùng kiêng không giết hại con gấu, vì có liên quan đến câu chuyện
kể rằng ông bố họ Sùng sau khi chết đã hóa kiếp thành loài gấu, cho nên
dòng họ Sùng coi con gấu là vật tổ của mình và lấy tên họ là “Sùng”, theo
tiếng Hmông Sùng nghĩa là con gấu.
Họ Vừ nhận con lợn là tổ tiên.
Họ Lầu kiêng ăn thịt hổ.
Họ Ly kiêng ăn lá lách các con vật.
2.1.3.2. Tập tục trong tang ma
Mỗi dòng họ người Hmông có cách làm ma riêng, sự khác nhau cơ bản ở
các thủ tục sau: cách đặt người chết “đi dọc” hay “đi ngược” hoặc nói cách
khác là đi quan tài hay đi cáng? Đi quan tài là Hmông Hán, tức đã học một số
phong tục làm ma của người Hán như: người chết cho vào quan tài từ trong
nhà, quan tài đặt dọc, đầu hướng về bàn thờ, mộ chôn theo hướng Đông - Tây
(gọi là đi dọc). Tùy theo mỗi dòng họ lại có cách xếp đá ở mộ khác nhau, có
cửa hoặc không có cửa. Còn đi cáng (mul nênhl = đi ngựa), là đặt người chết
lên cáng để ngang dưới bàn thờ, hạ quan tài xuống huyệt mới cho người chết
vào quan tài, mộ chôn theo hướng Bắc - Nam (gọi là đi ngược), mộ không xếp
đá mà đắp đất, có dòng họ rào cây tre xung quanh mộ.
Qua nghiên cứu 5 dòng họ tại xã Sà Phìn cho thấy có 4 dòng họ là Hmông
Hán và một dòng họ là Hmông, cụ thể như sau: các họ Vương, Sùng, Ly (thôn
Há Hơ), Lầu đã học cách làm ma theo người Hán từ việc cho người chết vào
quan tài tại nhà đến cách đặt hướng mộ và mộ xếp đá. Họ Vừ ở thôn Lỳ Chá
Tủng chỉ học cách mộ xếp đá. Riêng họ Ly ở thôn Lũng Thầu là họ Hmông.
2.1.3.3. Tập tục trong các nghi lễ cúng ma của gia đình
* Xử ca (ma tổ tiên): Lễ cúng xử ca được tiến hành vào 30 tết, chủ nhà
bắt một con gà trống đẹp, cắt tiết, rồi vẩy chút tiết gà lên giấy bản, sau đó lấy
một ít lông cổ gà dán vào chỗ tiết vẩy, tháo tấm giấy bản cũ ra và dán tấm mới
lên. Nơi thờ xử ca ở gian nhà giữa, phía bức tường hậu. Trong truyền thống
người Hmông không có bàn thờ, chỗ cắm hương là ống tre gài lên tường phía

Tổ chức dòng họ của người Hmông được quản lý bằng luật tục tộc họ
và được điều hành bởi những người đứng đầu dòng họ, bao gồm trưởng họ,
bà cô và người cầm quyền ma, quyền khách, đó là những người theo dõi, đề
xuất, giải quyết những vấn đề liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần và
tâm linh của dòng họ cũng như các công việc có liên quan tới cộng đồng xã
hội chung (đối ngoại).
2.2.1. Những người có uy tín trong dòng họ
* Trưởng họ (Uô thơưx = đứng đầu) hay (Hâur pâul = cái gốc): là
người đàn ông đứng tuổi (khoảng ngoài 40 tuổi, không nhất thiết phải là
người già), có phẩm chất đạo đức tốt, gia đình mẫu mực, kinh tế khá giả có
thể giúp được anh em, am hiểu phong tục tập quán, hiểu đường lý, đường lẽ,
giải quyết mọi công việc phải vì quyền lợi chung, công bằng, không bênh
vực ai, lời nói mọi người đều kính nể và nghe theo, mới trở thành người đứng
đầu dòng họ “cầm quyền người”.
* Người “cầm quyền ma, quyền khách” (cho đar khuô), đó là người
am hiểu tường tận nghi lễ, cách thức làm ma của dòng họ và trực tiếp phụ
trách những phần việc liên quan đến tín ngưỡng của dòng họ mình. Cho đar
khuô còn được coi như một “cố vấn” của trưởng họ trong việc quyết định
những hành động liên quan đến đối ngoại. Cho đar khuô không do bầu bán,
cũng không bị phế bỏ và có thể cha truyền con nối. Có thể nói, nếu coi
trưởng họ là người đảm nhận chức năng “hành chính” thì cho đar khuô chính
là người đảm nhận chức năng tín ngưỡng của dòng họ.
* Bà cô (Fâux): là chị hoặc em gái của thế hệ cha chú trọng dòng họ
(thuộc cành trên), tháo vát, giỏi giao tiếp, có đời sống gia đình hạnh phúc,
khá giả. Bà cô cũng không do bầu chọn, dựa vào tố chất nổi trội hơn của các
chị em bên bố mà hội đồng người già trong dòng họ suy tôn. Bà cô có trách
nhiệm giám sát mọi thành viên trong việc thực hiện các quy định liên quan
đến luật tục của dòng họ. Đồng thời, bà có quyền quyết định tất cả các vấn đề
liên quan đến phong tục tập quán của dòng họ, mọi tập tục muốn “cai” hoặc
“mở” đều phải mời bà cô về “chửi qua” (tsơưv đuô), người trong dòng họ vi

vai trò là đơn vị quản lý kinh tế, nhưng ít nhiều nó cũng có chức năng điều
tiết một số mối quan hệ kinh tế nhất định giữa các hộ gia đình trong dòng họ
như trong lao động sản xuất, quản lý về đất đai, phân chia tài sản, thừa kế…
2.3.1.1. Trong lao động sản xuất
Mỗi gia đình người Hmông là một đơn vị kinh tế độc lập, tự cung tự
cấp, tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên trong
quá trình lao động sản xuất, các thành viên trong dòng họ luôn trợ giúp nhau,
thể hiện tính cộng đồng chặt chẽ.
2.3.1.2. Trong quản lý đất đai
Theo luật tục Hmông, đất đai canh tác luôn thuộc quyền sở hữu của từng
gia đình. Nói cách khác, khi một dòng họ di cư đến một vùng nào đó, các gia
đình tự khai phá nương rẫy và có quyền sở hữu toàn bộ đất đai ấy. Tuy nhiên,
yếu tố sở hữu đó phần nào vẫn chịu sự chi phối bởi mối quan hệ dòng họ.
Toàn bộ đất đai mà các hộ gia đình khai phá được trên danh nghĩa đều là tài sản
chung của dòng họ. Dòng họ không trực tiếp tham gia vào quản lý sản xuất của
từng hộ gia đình mà tham gia quản lý đất đai. Trưởng họ là người đứng ra giải
quyết mọi vấn đề liên quan đến đất đai, khi có tranh chấp, mâu thuẫn giữa các
hộ gia đình trong dòng họ hoặc khi có người khác đến lấn chiếm. Trường hợp
trong một bản làng có nhiều dòng họ chung sống thì trưởng bản sẽ là người đại
diện cho các dòng họ quản lý đất đai toàn bản.
2.3.1.3. Chia tài sản và thừa kế
Dòng họ người Hmông không có sở hữu chung, nên không có tài sản
chung. Tuy nhiên, khi các gia đình chia tài sản cho con cái, nhất thiết phải có
sự tham dự của dòng họ (trưởng họ và hội đồng người già); ngoài ra còn có
đại diện của một số dòng họ khác trong thôn và trưởng thôn, để giám sát và
góp ý việc phân chia đảm bảo công bằng, đồng thời làm chứng, phòng sau
này nếu có tranh chấp, thì sẽ tham gia giải quyết. Các con trai mới được bố
mẹ chia của cải, con gái chỉ được bộ quần áo, đồ trang sức và ít quà tặng là
đồ dùng gia đình khi đi lấy chồng.
Trong phân chia tài sản, con trai trưởng và con trai út được nhiều hơn

2.3.2.3. Hôn nhân và gia đình
Đối với đồng bào Hmông, hôn nhân là việc chung của dòng họ. Tất cả
mọi quyền hành trong hôn nhân thuộc về người già, người cao tuổi, đặc biệt
là bà cô, ông cậu. Sự thành công của cuộc hôn nhân phụ thuộc vào việc dòng
họ có tán thành hay không. Trước kia trai, gái người Hmông không thể bảo
vệ tình yêu để đi đến hôn nhân dù thực sự yêu nhau nếu gia đình, họ hàng
không đồng ý, ngược lại có khi chẳng biết mặt mà được họ tộc tán thành, ép
buộc thì cũng nên vợ nên chồng.
2.3.3. Quan hệ dòng họ trong bảo tồn và phát huy bản sắc
Luật tục tộc họ là công cụ quan trọng nhất để dòng họ người Hmông
quản lý, điều hành các mối quan hệ trong đời sống cũng như trong bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa tộc người. Mọi hoạt động của thành viên trong sinh
hoạt hàng ngày của gia đình, dòng họ, làng bản đều được đặt trong “khuôn
mẫu” mà luật tục quy định và cá nhân luôn ý thức, tự giác thực hành đúng
với vị trí của mình trong mối quan hệ dòng họ. Như vậy, việc các thành viên
thực hiện luật tục là cơ sở để dòng họ người Hmông bảo tồn, phát huy bản
sắc văn hóa tộc người, mà biểu hiện rõ nhất là trong các nghi lễ của dòng họ
và các sinh hoạt chung của gia đình.
2.3.3.1. Các nghi lễ của dòng họ
Luận văn tập trung giới thiệu hai nghi lễ chính đó là lễ cúng thần lửa
(thi su) và lễ hội gầu tào (tsang taox = cầu tự).
2.3.3.2. Quan hệ dòng họ trong những sinh hoạt chung của các gia đình
Cùng với các nghi lễ của dòng họ, những sinh hoạt chung của gia đình
như cưới xin, ma chay, cúng tế, làm nhà… cũng là dịp để các thành viên dòng
họ thực hành tập tục. Trong mỗi hoạt động, các thành viên phải ứng xử theo
đúng vị trí, vai vế của mình đặt trong mối quan hệ dòng họ.
2.3.3.3. Quan hệ giữa các dòng họ
Trong địa vực cư trú, giữa các dòng họ người Hmông thiết lập nhiều
mối quan hệ đan xen ở các mức độ đậm, nhạt và chiều hướng khác nhau,
hoặc thân thiện qua quan hệ thông gia, nhập họ; hoặc chỉ là quan hệ láng

riêng và các thành viên tự giác tuân thủ.
3.1.2. Vai trò của dòng họ trong tổ chức di chuyển cư
Trong di chuyển cư, dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng, việc
quyết định chuyển cư trong truyền thống do dòng họ quyết định. Hiện nay, sự
ràng buộc của dòng họ trong di chuyển cư không còn mạnh mẽ như trước kia,
quyền quyết định di chuyển cư là của hộ gia đình. Tuy nhiên, do tâm lý cư trú
theo dòng họ, đồng tộc và tập quán du canh du cư nên bộ phận dòng họ người
Hmông ở Hà Giang vẫn lôi kéo anh em di cư tự do.
3.1.3. Vai trò của dòng họ trong hạn chế các tệ nạn xã hội
Trong truyền thống, để hạn chế các tệ nạn xã hội dòng họ dùng luật tục
tộc họ và làng bản để quản lý cộng đồng với những quy định cụ thể. Hiện nay,
làng bản người Hmông được quản lý bằng quy ước và luật pháp của Nhà nước.
3.1.4. Vai trò của dòng họ trong việc giữ gìn và chuyển đổi tín
ngưỡng, tôn giáo
Trước năm 2007, Hà Giang là một trong những địa bàn nóng về tình hình
theo và truyền đạo trái pháp luật, đặc biệt là đạo Tin Lành của một bộ phận
đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là Hmông, Dao). Từ năm 2007 đến nay,
thông qua việc quán triệt thực hiện Thông báo 160 và Chỉ thị số 01/2005/CT-
TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng (Ban Tôn
giáo) và các đơn vị liên quan, giải quyết nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của bộ
phận nhân dân bằng cách cấp giấy chứng nhận đăng ký sinh hoạt đạo Tin Lành
theo điểm nhóm, phân biệt rõ nhu cầu tôn giáo chính đáng với việc lợi dụng đạo
Tin Lành để chống phá Đảng, Nhà nước. Đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động
của các điểm nhóm, tình hình hoạt động của đạo Tin Lành diễn ra ổn định hơn.
Trên địa bàn huyện Đồng Văn có 2 điểm nhóm ở xã Lũng Phìn và Thài
Phìn Tủng, với 70 khẩu/15 hộ. Đối với xã Sà Phìn, đồng bào Hmông không bị
ảnh hưởng của đạo Tin Lành và các tôn giáo khác, các dòng họ người Hmông
nơi đây vẫn giữ gìn và thực hành các tín ngưỡng truyền thống. Quá trình
nghiên cứu tại cơ sở chúng tôi thấy rằng các dòng họ người Hmông ở xã Sà
Phìn rất ý thức trong việc giữ gìn tín ngưỡng truyền thống.

Ly có 4 người, họ Vừ, họ Lầu và họ Tráng mỗi họ 1 người, 6 vị trí còn lại là
các dân tộc Kinh, Tày, Giấy. Như vậy, tỷ lệ cán bộ là người Hmông chiếm
76% trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
3.2.3. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc
Thông qua các chương trình, chính sách dân tộc đã có 6/11 thôn có
đường bê tông, 2 hồ treo và hầu hết các thôn bản đều có công trình nước tập
trung, 100% số hộ gia đình có bể chứa nước. Cơ bản xóa bỏ được nhà tạm
(năm 2013 xóa được 59 nhà). Đất được khai hoang mở rộng diện tích, người
dân được phổ biến, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất, áp dụng các
mô hình giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất, chất lượng cho các hộ
gia đình Hmông, từng bước nâng cao thu nhập. Sự thành công của các chương
trình, chính sách dân tộc trên địa bàn xã Sà Phìn có sự đóng to lớn của vai trò
dòng họ - những người có uy tín trong dòng họ người Hmông.
3.2.4. Công tác phát huy vai trò của người có uy tín
Trên địa bàn xã Sà Phìn hiện nay có 11 người có uy tín, trong đó họ
Sùng 4 người, họ Vàng 4 người, họ Vừ 2 người và họ Lầu /1 người. Để phát
huy vai trò của lực lượng người có uy tín, xã đã cơ cấu bố trí họ tham gia vào
các tổ chức đoàn thể thôn, các tổ hòa giải, tranh thủ ý kiến của người có uy
tín trong việc giải quyết và triển khai các công việc tại thôn bản và địa
phương. Đồng thời thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách về cung cấp thông
tin, động viên hỗ trợ vật chất, tinh thần, khen thưởng, thăm quan học tập kinh
nghiệm…
Tiểu kết chương 3
Dòng họ người Hmông không chỉ phản ánh lịch sử tộc người mà còn
chứa đựng các giá trị văn hóa, xã hội. Các quy ước của luật tục tộc họ đã ràng
buộc, cố kết các thành viên thông qua các mối quan hệ dòng họ. Cùng với việc
làm rõ đặc điểm dòng họ, các mối quan hệ và vai trò của dòng họ, luận văn
phân tích làm rõ vai trò và các giá trị của dòng họ người Hmông ở Hà Giang
nói chung và người Hmông Trắng ở xã Sà Phìn nói riêng.
Ngày nay, mặc dù nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng luật tục

bộ làm công tác dân tộc của tỉnh Hà Giang, từ kết quả nghiên cứu về dòng họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status