VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN
TỪ THỰC TIỄN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
VÀ BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm
Hữu Nghị.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận
văn này trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Nguyễn Thị Minh
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Phạm Hữu Nghị, là
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm và tất
cả các thầy, cô trong Khoa Công tác xã hội- Học viện Khoa học xã hội
Việt Nam đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Học viện.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Bệnh
THỰC TRẠNG BỆNH NHÂN VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG VÀ BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TRUNG ƯƠNG 44
2.1 Thực trạng bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viện Nội tiết Trung ương và bệnh viện Nhi
Trung ương 45
2.1.1 Thực trạng bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viên Nội tiết Trung ương 45
2.1.2 Thực trạng bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viện NhiTrung ương 49
2.2 Thực trạng về các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Nhi Trung ương và bệnh viện Nội
tiết Trung ương hiện nay 51
2.2.1 Thực trạng về các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Nhi Trung ương hiện nay 51
1
2.2.2 Thực trạng về các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Nội tiết Trung ương: 53
2.3 Thực trạng về sự hỗ trợ của các dịch vụ xã hội đối với các bệnh nhân trong các bệnh viện
tuyến Trung ương hiện nay 56
Chương 3 61
NHU CẦU VỀ CTXH TRONG BỆNH VIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG BỆNH VIỆN. 61
3.1 Nhu cầu về công tác xã hội trong bệnh viện 61
3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện tốt mô hình công tác xã hội trong bệnh viện 72
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BN BỆNH NHÂN
CTXH CÔNG TÁC XÃ HỘI
CSSK CHĂM SÓC SỨC KHỎE
DVXH DỊCH VỤ XÃ HỘI
KCB KHÁM CHỮA BỆNH
NVCTXH NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
tâm nhằm phát triển hệ thống các dịch vụ CTXH trong bệnh viện. Làm được
điều này đồng nghĩa với việc giải quyết những vấn đề xã hội trong bệnh viện
như sự quá tải bệnh viện và sự căng thẳng trong quan hệ Bác sỹ và bệnh nhân,
hỗ trợ chăm sóc giảm nhẹ bệnh tật cho người bệnh, điều phối và cung cấp
dịch vụ cũng như tư vấn tâm lý, hỗ trợ phát triển cho bệnh nhân và người nhà
bệnh nhân trong quá trình điều trị. Nói tóm lại, những khó khăn trong lĩnh
vực CSSK tại các hệ thống bệnh viện ở Việt Nam sẽ đươc cải thiện nếu có sự
xuất hiện của nhân viên CTXH chuyên nghiệp.
5
Việt Nam đã bước vào chặng cuối thời kỳ chuyển tiếp về dân số học và
dịch tễ học với tuổi thọ tăng cao, cùng với đó là tiến bộ vượt bậc của ngành y
học, các khung chính sách và pháp lý đã được cải thiện, nhưng tình trạng bất
bình đẳng về sức khỏe, CSSK và tiếp cận dịch vụ y tế vẫn đang gia tăng, đặc
biệt đối với các nhóm dễ bị tổn thương và yếu thế trong xã hội. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là những khó khăn trong việc
cung cấp dịch vụ mà các cơ sở y tế nước ta đang phải đối mặt.
Đầu tiên phải kể đến tình trạng quá tải bệnh nhân là một cản trở đến
hoạt động điều phối và cung cấp dịch vụ trong các bệnh viện. Tính đến cuối
năm 2011, cả nước có khoảng 1.162 bệnh viện với 25.342 giường bệnh,
Trong số này có 39 bệnh viện trung ương với 20.924 giường bệnh, 382 bệnh
viện tuyến tỉnh với 92.857 giường bệnh và 561 bệnh viện huyện với 7.048
giường bệnh , 48 bệnh viện ngành với 5.727 giường bệnh, 132 bệnh viện
ngoài công lập với 6.941 giường bệnh. Trong khi đó tại hầu hết các bệnh viện
của cả nước, nhất là các bệnh viện tuyến trên thường xuyên ở trong tình trạng
quá tải, vượt mức so với số giường bệnh cho phép. Công suất sử dụng giường
bệnh chung của các bệnh viện tuyến trung ương năm 2009 là 116% tăng lên
120% năm 2010 và 118% năm 2011. Trầm trọng hơn cả là các bệnh viện K:
249%, Bạch Mai: 168%, Chợ Rẫy: 154%, Phụ sản Trung ương: 124% (theo
đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2010-2020 của Bộ Y tế năm 2012).
Hơn nữa những năm trở lại đây tình trạng bệnh tật gia tăng và xuất hiện
chế độ điều trị. Để thực hiện những hoạt động này trong bệnh viện thì đó quả
là một gánh nặng đối với đội ngũ nhân viên y tế trong tình trạng quá tải hiện
nay. Thêm vào đó, người nhà bệnh nhân, hầu hết khi đến các cơ sở y tế, họ
đều bối rối trong cách thức liên hệ với các phòng ban chức năng trong bệnh
viện, thiếu kỹ năng làm các thủ tục KCB. Do đó nhu cầu được hướng dẫn,
truyền thông về những thủ tục KCB, xuất nhập viện, các thủ tục xin được
7
miễn giảm viện phí, hướng dẫn chính sách ưu đãi và chế độ bảo hiểm y tế là
một nhu cầu tương đối cấp thiết từ phía bệnh nhân và người nhà của họ.
Trên thực tế, với sự quá tải hiện nay, đội ngũ nhân viên y tế không đủ
cả về số lượng và chất lượng để thực hiện các chức năng này, hoặc chăng nếu
có thực hiện được cũng là những hoạt động hết sức rời rạc và chưa được hệ
thống.
Ngoài ra, công tác y tế còn gặp khó khăn trong hoạt động hỗ trợ, tham
vấn tâm lý, chăm sóc giảm nhẹ, hòa hập cộng đồng cho bệnh nhân sau khi
xuất viện.
Hoạt động hỗ trợ, tham vấn tâm lý là một hoạt động rất cần thiết giúp
người bệnh không chỉ được đáp ứng về nhu cầu CSSK thể chất mà còn được
thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, điều này gián tiếp tạo nên thành công trong
quá trình điều trị bệnh. Đối với người bệnh, một nụ cười, một cái nắm tay ấm
áp hoặc một ánh nhìn thiện cảm …nhất là với các trường hợp bệnh nhân mắc
bệnh hiểm nghèo, hay điều trị bệnh ở giai đoạn cuối là món quà động viên
tinh thần rất giá trị và ý nghĩa đối với họ.
Trong bệnh viện hiện nay, các nhân viên y tế đã luôn cố gắng phối hợp
các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh bằng cách
phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị đau và xử lý các triệu chứng thực thể, tư
vấn và hỗ trợ giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội mà người bệnh và gia đình
họ phải chịu đựng. Nhưng có lẽ, các sự trợ giúp về tâm lý, chăm sóc giảm nhẹ
trong khi điều trị bệnh còn thực hiện rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu
người bệnh. Có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan cản trở đến hoạt động
viện cũng đã có và nó giúp cho việc thực hành nghề CTXH trong bệnh viện
ngày càng phát triển. CTXH lần đầu tiên được nghiên cứu triển khai trong các
Bệnh viện vào năm 1905 tại Boston, Mỹ. Đến nay, hầu hết các bệnh viện ở
9
Mỹ đều có phòng Công tác xã hội và đã trở thành một trong những điều kiện
bắt buộc để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện.
Các nghiên cứu này chỉ rõ rằng CTXH trong bệnh viện là việc sử dụng
nguyên lý, phương pháp và kỹ năng của CTXH vào việc trị liệu xã hội cho
người bệnh nhằm gia tăng sự hài lòng của họ khi sử dụng dịch vụ y tế, góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhân viên CTXH có
thể làm việc trực tiếp với bệnh nhân hoặc gián tiếp thông qua việc lập kế
hoạch, tiến hành nghiên cứu, xây dựng chính sách hoặc trong quản lý. Làm
việc trực tiếp với bệnh nhân có thể bao gồm các hoạt động như đánh giá nhu
cầu của bệnh nhân, lập kế hoạch cho việc chăm sóc sau khi điều trị, tư vấn để
giúp các bệnh nhân/người nhà giải quyết với các vấn đề liên quan đến tình
trạng bệnh của họ Ngoài ra, nhân viên CTXH cũng có thể là thành viên của
nhóm điều trị, cung cấp thông tin, tư vấn giúp nhóm điều trị hiểu được các
vấn đề của bệnh nhân. Việc nghiên cứu về CTXH trong bệnh viện của các
nước đã thúc đẩy sự phát triển mô hình CTXH trong Bệnh viện của các Quốc
gia bao gồm CTXH y tế trong bệnh viện và CTXH y tế ngoài cộng đồng.
Chúng ta có thể hiểu đây là một mô hình khép kín của CTXH trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe toàn diện. Các nghiên cứu này đã chỉ rõ sự cần thiết phải
tổ chức hoạt động song song giữa công tác chăm sóc sức khỏe của người dân
tại bệnh viện kết hợp với tại cộng đồng thì mới có thể mang lại kết quả cao.
Trong hệ thống y tế, Việc nghiên cứu hoạt động CTXH trong ngành Y
tế bao gồm CTXH trong bệnh viện và ngoài cộng đồng. Khi mô hình bệnh tật
ở Mỹ chuyển từ các bệnh lây nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm, mô hình
CSSK dựa vào cộng đồng là mô hình y tế phù hợp trong CSSK nhân
dân. Trong mô hình này, bệnh viện chỉ là một khâu trong CSSK, CTXH sẽ
tham gia vào toàn bộ quá trình điều trị của bệnh nhân từ đầu đến cuối.Vì thế,
Dabelko, MSW, PhD lại đưa ra mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân, tác giả
11
chỉ ra rằng những mô hình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ
bậc mà ở đó các Bác sỹ được coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay vào
đó là việc kết hợp chăm sóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo
sự thân thiện hơn cởi mở hơn và xóa bỏ ranh gới phân cấp giữa bác sĩ với
bệnh nhân với mục đích tạo tâm lý thoải mái cho người bệnh.
Ở Việt Nam, ngành CTXH được phát triển từ cuối thập kỷ 40 với sự ra
đời của trường đào tạo chuyên ngành về công tác xã hội đầu tiên tại miền Bắc
tuy nhiên do ảnh hưởng của các yếu tố khách quan (chiến tranh) và chủ quan
(xã hội chưa phát triển, đất nước còn đói nghèo và lạc hậu, hiểu biết của
người dân chưa cao) nên CTXH nói chung và CTXH trong y tế chưa thực sự
được chú trọng, quan tâm song hiện nay xã hội ngày càng phát triển, các loại
bệnh tật ngày càng gia tăng và theo chiều hướng phúc tạp hơn cho nên tỉ lệ
người mắc bệnh và nhu cầu KCB cũng ngày một tăng cao dẫn đến tình trạng
quá tải tại các bệnh viện và xuất hiện mâu thuẫn tiềm ẩn giữa nhân viên y tế
(bác sỹ, điều dưỡng) và bệnh nhân. Việc quá tải bệnh nhân xảy ra ở hầu hết
các bệnh viện nhất là tuyến trung ương. Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng
của CTXH trong Bệnh viện nên Chính Phủ và Bộ Y tế đã triển khai CTXH
trong bệnh viện bằng các chính sách và văn bản pháp luật quy định cụ thể
phát triển CTXH ở nước ta nói chung và trong ngành y tế nói riêng. Cũng từ
đây các công trình nghiên cứu, hội thảo về CTXH trong bệnh viện được tổ
chức hàng năm nhằm định hướng bổ sung cho hoạt động CTXH trong ngành
Y tế ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả cao nhất cho việc chăm sóc
sức khỏe nhân dân. Cùng với đó là sự liên kết của một số ban ngành liên quan
như ngành Giáo dục, ngành Lao động Thương binh xã hội, ngành Y tế đã tổ
chức đào tạo, tập huấn cho NVCTXH nâng cao tri thức, kỹ năng trong quá
trình học tập và làm việc tại các cơ sở Y tế ở Trung ương và địa phương. Một
số tác giả đã biên soạn các giáo trình về CTXH và CTXH trong bệnh viện
nhằm phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của nhiều tổ chức cá nhân trong
đình, nhà trường, bạn bè và cơ quan…Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng
bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã
hội, của những người khác, là sự hoà nhập giữa Cá nhân, Gia đình và Xã hội,
như theo khái niệm của Tổ chức y tế thế giới WHO: “Sức khỏe là một trạng
thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải
chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”. Căn cứ vào những lập luận trên thì tác
giả nhận thấy nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm ứng dụng vào đề tài
- Nghiên cứu về thực trạng mô hình hoạt động CTXH trong bệnh viện
cho thấy hoạt động CTXH có vai trò quan trọng và cần thiết đối với ngành
y tế ( nhất là mối quan hệ liên kết giữa bệnh nhân - người nhà bệnh nhân -
nhân viên y tế).
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã
hội trong bệnh viện
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Mô hình CTXH ở Bệnh viện Nhi TƯ và Bệnh viện Nội Tiết TƯ
* Khách thể nghiên cứu
- Bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Nhi TƯ và Bệnh viện Nội
Tiết TƯ
- Cán bộ y tế công tác tại Bệnh viện Nhi TƯ và Bệnh viện Nội Tiết TƯ.
-Người nhà bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Nhi TƯ và bệnh viện
Nội Tiết TƯ
* Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện cụ thể như sau:
- Từ tháng 3/ 2015 đến tháng 4/ 2015: Thu thập tài liệu và xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài.
14
- Từ tháng 5/ 2015- 6/ 2015: Xây dựng bảng công cụ cho đề tài và triển
khai nghiên cứu thực tế.
nghĩa vụ và trách nhiệm, trong khi đó cách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề
cập đến. Quyền con người ở đây có thể đề cập đến như quyền được bảo vệ
sức khỏe, quyền được KCB tại Bệnh viện khi ốm đau…
Ngoài nhu cầu và quyền, trong mỗi cá nhân còn tự có vai trò và đóng
các vai trò khác nhau như khi ở nhà người phụ nữ đóng vai trò là người mẹ,
nhưng khi đến trường học người mẹ này có thể là giáo viên (nếu như nghề
nghiệp của họ là giáo viên) hoặc có thể sẽ ở vai trò của người đi học (nếu họ
đang đi học). Vai trò ở đây được thể hiện nhiều nhất qua nhân viên Y tế,
NVCTXH trong bệnh viện và những người liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ
xã hội cho bệnh nhân. Tất cả họ đều đóng những vai trò quan trọng trong việc
tạo nên một hệ thống của mô hình CTXH phát triển trong bệnh viện. Họ có
thể đóng vai trò là người hướng dẫn, người tham vấn chính sách (Bảo hiểm y
tế), hoặc là người đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ bệnh nhân…
Nếu như bị ốm đau, bệnh tật phải vào bệnh viện chữa trị thì mong mỏi
của mỗi cá nhân là được sống trong tình yêu thương của cộng đồng, nhận
được sự sẻ chia của gia đình và xã hội để đẩy lùi bệnh tật, sớm được trở về
với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa
đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người
trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động công tác
xã hội.
. Sẽ không thể tiếp cận dựa trên quyền nếu không đề ra câu hỏi: ai sẽ là
người có trách nhiệm tương ứng với quyền của người/ nhóm người này? Như
vậy, về cơ bản, cách tiếp cận dựa trên quyền đặt ra câu hỏi về hành động và
trách nhiệm của những người đảm nhận trách nhiệm. Khi trong mỗi cá nhân,
16
cộng đồng mắc nhiều khó khăn trong cuộc sống, hay mắc những bệnh tật làm
ảnh hưởng đến cuộc sống của họ thì điều họ mong muốn nhất đó chính là
quyền được KCB tại các bệnh viện, quyền đó không chỉ giới hạn ở việc
tương tác giữa bệnh nhân và Bác sỹ mà còn là quyền tôn trọng giữa con
cùng hoàn cảnh với mình.
Tiếp cận dựa trên quyền giúp nhân viên công tác xã hội hướng đến các
giải pháp mang tính bền vững.
Vì một người có thể có nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu
ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn. Vì chỉ
là các vai trò, người ta có thể thay đổi không tiếp tục đóng một vai nào đó
không lành mạnh, hoặc tập đóng một vai mới tốt đẹp hơn cho cuộc sống.
Vai trò của nhân viên CTXH ở đây là giúp khách hàng, TC thấy được
những vai trò khác nhau họ có thể đóng tùy theo hoàn cảnh cá nhân và tài
nguyên có thể huy động được [11, tr. 20].
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả đề cập đến vai trò chủ đạo
ở đây là vai trò của NVCTXH trong bệnh viện đối với bệnh nhân và đối với
nhân viên y tế. Đối với bệnh nhân, NVCTXH là người định hướng, hướng
dẫn cho bệnh nhân khi tham gia KCB tại cơ sở y tế, là người kết nối cung
cấp thông tin về bệnh nhân cho nhân viên y tế nắm rõ hơn, giúp quá trình
điều trị được nhanh chóng và nắm bắt bệnh tật của bệnh nhân một cách
chính xác hơn.
Đối với nhân viên y tế, NVCTXH là người có vai trò trợ giúp trong
việc hỗ trợ về tâm lý khi bệnh nhân có biểu hiện khủng hoảng, hoặc trầm
cảm, hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh viện, hỗ trợ
bệnh nhân trong quá trình nhập và xuất viện…Ngoài ra NVCTXH còn đóng
vai trò là nhà tư vấn như tư vấn về chế độ bảo hiểm, viện phí, hỗ trợ các dịch
vụ liên quan đế bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
18
Với tất cả các yếu tố trên đây, tác giả luận văn này đã sử dụng lý thuyết
Nhu cầu, lý thuyết Quyền con người và lý thuyết vai trò để làm cơ sở phương
pháp luận cho đè tài này.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu, phương
diễn ra trong một số bệnh viện hiện nay.
- Quan sát hoạt động của các nhân viên y tế trong việc tiếp nhận và xử
lý bệnh tật của bệnh nhân nhất là những trường hợp bệnh nhân nặng, bệnh
nhân có vấn đề về tâm lý (khủng hoảng, stress….).
Trong quá trình triển khai mô hình CTXH trong bệnh viện, nhân viên
công tác xã hội phải quan sát những đặc thù của mỗi nhóm bệnh nhân trong
bệnh viện để có cách tiếp cận thích hợp (biểu hiện ở cử chỉ, hành động và lời
nói của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế).
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài này thuộc nhóm đề tài ứng dụng lý thuyết công tác xã hội vào
giải quyết vấn đề thực tiễn, đó là thiết lập, tổ chức mô hình CTXH trong bệnh
viện.
- Nghiên cứu nhằm đưa ra mặt tốt của mô hình CTXH trong bệnh viện
để thấy tính tích cực, hiệu quả và triển khai sâu rộng trong ngành y tế.
- Xem xét những mặt còn hạn chế để tránh những sai sót và định hướng
đúng đắn trong việc xây dựng mô hình đúng, chuẩn phát triển nghề CTXH
trong y tế.
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên quan
đến việc thực hiện mô hình CTXH trong bệnh viện: Thuyết nhu cầu, thuyết về
20
quyền con nguời, thuyết vai trò. Từ đó hình thành tiến trình, hỗ trợ, định
hướng cho việc triển khai mô hình CTXH trong ngành Y tế.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội trong Bệnh viện.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội trong Bệnh viện hiện nay, điển
hình là bệnh viện Nhi Trung ương và bệnh viện Nội Tiết Trung ương.
Chương 3: Nhu cầu về CTXH trong bệnh viện hiện nay và đề xuất các
giải pháp thực hiện.