ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
Nguyễn Huy Thông
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ ĐỒNG SƠN,
HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
Nguyễn Huy Thông
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ ĐỒNG SƠN,
HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội (Định hướng ứng dụng)
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Thị Thái Lan
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thái Lan, người
cô kính mến, vì đã hết lòng chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi
hoàn thành luận án này.
Tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới các thầy, các cô, giảng viên của Khoa Xã
hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tích cực giúp đỡ để tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều
kiện về thời gian để tôi hoàn thành tốt luận án của mình.
Tác giả luận án
Nguyễn Huy Thông
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Tổng quan nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 9
4. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 9
5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 9
6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 10
7. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu .................................................. 12
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.............................................................................. 13
9. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 13
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ................................................................ 14
1.1. Khái niệm công cụ ............................................................................................. 14
1.1.1. Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững ..................... 14
1.1.2. Khái niệm hộ nghèo và cách xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam ............... 18
1.2. Mô hình công tác xã hội .................................................................................... 23
1.2.1. Khái niệm mô hình...................................................................................... 23
2.3.4. Hoạt động công tác xã hội về trợ giúp pháp lý .......................................... 81
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 86
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP CỦA MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI VIỆC GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở XÃ ĐỒNG SƠN,
HUYỆN HOÀNH BỔ, TỈNH QUẢNG NINH...................................................... 87
3.1. Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt độngcông tác xã hội với việc giảm nghèo
ở xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ ............................................................................. 87
3.1.1. Về nhận thức, trách nhiệm và chỉ đạo điều hành trong công tác thực hiện
các hoạt động công tác xã hội trong giảm nghèo ..................................................... 87
3.1.2. Sự bất cập trong thực hiện một số cơ chế, chính sách giảm nghèo ........... 88
3.1.3. Nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân
còn hạn chế ............................................................................................................... 89
3.1.4. Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội về giảm nghèo ......................... 90
3.2. Đề xuất cải thiện dịch vụ trợ giúp công tác xã hội ............................................ 93
3.3. Đề xuất các giải pháp ......................................................................................... 95
3.3.1. Tăng cường hoạt động công tác xã hội về tuyên truyền, nâng cao
nhận thức cho hộ nghèo ............................................................................................ 95
3.3.2. Nâng cao hoạt động công tác xã hội về kết nối các nguồn lực
cho hộ nghèo ............................................................................................................. 97
3.3.3. Nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác xã hội ở cấp huyện
và xã Đồng Sơn ......................................................................................................... 98
3.3.4. Tiếp tục xây dựng và phát huy mô hình công tác xã hội đối với
người nghèo ............................................................................................................ 100
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................. 102
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 106
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 111
khó khăn đa chiều đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp nhiều khó
1
khăn. Phần đông người dân ở xã Đồng Sơn sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nên công tác hỗ trợ
giảm nghèo là vấn đề cấp thiết và nan giải [26,tr.5].
Những năm gần đây, mặc dù lãnh đạo địa phương, cán bộ tổ chức đoàn thể đã
không ngừng quan tâm, chỉ đạo, áp dụng thực hiện các chính sách, các chương trình
hỗ trợ giảm nghèo, song hiệu quả đạt được vẫn chưa cao, chưa giải quyết triệt để
tình trạng nghèo tại xã.
Với tình hình như vậy đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần nghiên cứu cả về lý
luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường tính bền vững trong xây dựng, thực
hiện các chương trình, dự án, chính sách thông qua mô hình công tác xã hội hỗ trợ
giảm nghèo, cũng như công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, cần có
những phân tích, đánh giá để tìm ra nguyên nhân, cũng như khắc phục những hạn chế
trong quá trình thực hiện mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo để từ đó
nâng cao tính bền vững của công cuộc hỗ trợ giảm nghèo tại Việt Nam. Chính vì vậy,
tác giả lựa chọn đề tài “Mô hình công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững
tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu trên thế giới trong những năm gần đây liên quan đến chủ
đề của nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề chung về giảm nghèo, giảm
nghèo bền vững và công tác xã hội với giảm nghèo.
Những nghiên cứu về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
Các tác giả Tara Bedi, Aline Coundouel, Marcus Cox, Markus Goldstein,
Nigel Thornton (2006), “Beyond the number: understanding the institution for
monitoring poverty reductions strategies” (vượt quá số lượng: hiểu về cơ quan
giám sát các chiến lược giảm nghèo) [42], đã chỉ ra nền tảng của mối quan hệ trong
nghiên cứu sau đây:
Tập thể tác giả David Cox Manohar Pawar (2003), “International Social Work:
issues, strategies and Programs”, New York press (Công tác xã hội quốc tế: các
vấn đề, chiến lược và các chương trình) [40], đã giới thiệu về lịch sử công tác xã hội
quốc tế, hoàn cảnh ra đời công tác xã hội quốc tế, các chương trình công tác xã hội
thực hiện, quyền hợp pháp được thực hiện công tác xã hội quốc tế, nâng cao trách
3
nhiệm thực hiện, phát triển cộng đồng. Đồng thời, cuốn sách đưa ra chương trình và
kế hoạch phát triển ở địa phương nghèo, vùng nghèo ở đô thị. Cuốn sách cũng đề
cập đến vai trò của nhân viên thực hiện công tác xã hội trong giảm nghèo, đồng thời
đề cập đến những thách thức trong công tác xã hội trong giảm nghèo.
Nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong giảm nghèo, các tác giả Gid
G.Wairire, Agnes P.Zani, Mumbi Machera and Pius M.Mutie (2014), “The Role of
Social work in poverty reduction and realization of MDGs in Kenya”, University of
Nairobi Press (Vai trò của công tác xã hội trong giảm nghèo và thực hiện các Mục
tiêu thiên niên kỷ tại Kenya) [46] đã giới thiệu về vấn đề nghèo tại Kenya, cũng như
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo tại nước này. Cuốn sách
cũng đề cập đến khái niệm nghèo, các chương trình giảm nghèo, nhận thức về công
tác xã hội trong giảm nghèo. Cuốn sách đã cho thấy góc độ nghiên cứu trường hợp
tại Kenya, tuy nhiên nghiên cứu này mang tính tổng quát của một nước, chưa đề cập
đến các vùng nghèo tại Kenya.
Trong cuốn “Poverty eradication and the role for social workers” ( Xóa đói
giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội) [1] đã chỉ ra rằng: trong thực
tế, tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo
đã tăng lên, những nguồn lực thiếu là nguyên nhân đẩy con người vào đói nghèo. Ở
cấp vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với
đói nghèo, cũng với việc đánh giá rủi ro, làm việc một cách sáng tạo để giúp người
dân hiểu được hoàn cảnh của mình và thay đổi hành vi và môi trường sống của họ.
những tác động của công cuộc đổi mới đến người nghèo gắn liên với các vấn đề y
tế, giáo dục, tín dụng...đưa ra một số vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần xem xét để
nâng cao hiệu quả giảm nghèo ở Việt Nam.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã kết hợp với UNDP có báo cáo năm
2004 về Đánh giá Chương trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và chương
trình 135. Báo cáo tập trung vào một số chính sách như tín dụng, y tế, giáo dục,
khuyến nông và định canh, định cư. Đây là một báo cáo đánh giá tổng thể chương
trình mặt trận quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình 135 đã ghi nhận những
thành tựu của cả hai chương trình. Đồng thời cũng nêu bật những thách thức cần phải
khắc phục của chương trình để có tác động tích cực, nhằm cải thiện chất lượng sống
của người nghèo. Đồng thời, báo cáo đã đưa ra các khuyến nghị về cải thiện cách
thức xác định hộ nghèo, xác định những trọng điểm của chương trình [2, tr.19].
5
Do đặc trưng về yếu tố địa lý, cũng như các đặc trưng về dân tộc, điều kiện
sản xuất...nên các nghiên cứu về giảm nghèo phần nhiều được thực hiện ở khu vực
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Điều này cũng phản ánh đặc điểm về đối
tượng, địa bàn mà các chính sách giảm nghèo đang bao phủ. Điển hình là các
nghiên cứu của UNDP về “Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở Châu
Á và Thái Bình Dương: giới và đói nghèo”, năm 2012, do Trung tâm vùng Châu Á
và Thái Bình Dương xuất bản [7], đã giới thiệu những định nghĩa và thước đo về
đói nghèo, sự tương tác về giới ảnh hưởng tới đói nghèo và mối liên hệ giữa chính
sách việc làm, quan hệ giới và đói nghèo.
Các nghiên cứu giảm nghèo có sự tham gia của người dân cũng không được
thực hiện nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu ở quy mô lớn.Thời gian gần đây, xu
hướng lồng ghép gia tăng nghiên cứu định tính trong lĩnh vực giảm nghèo đã được
chú trọng nhiều hơn, nhằm đánh giá toàn diện hơn về các chiều cạnh của vấn đề
nghèo. Điển hình là các nghiên cứu của OXFAM về “Theo dõi nghèo đô thị theo
phương pháp cùng tham gia”, năm 2008 đến năm 2012 [34], tổng hợp về nghèo ở
Tác giả Nguyễn Hải Hữu đã có bài nghiên cứu trên Tạp chí Cộng Sản số 86
về “Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta” [10], đã khẳng
định nghèo đói là vấn đề toàn cầu. Tại Việt Nam đã có những thành tựu trong lĩnh
vực xóa đói, giảm nghèo trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, làm cho bộ mặt
của các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã thay đổi đáng kể, đời sống của đại đa số
người dân được nâng cao. Thành tựu xóa nghèo của nước ta không những thể hiện
sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, mà còn tạo được những hình
ảnh, vị thế tốt đẹp của nước ta trên trường quốc tế. Cùng với những thành tựu đã đạt
được, tác giả còn nêu lên những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình
xóa đói giảm nghèo không tránh khỏi những khó khăn, những mặt chưa đạt được,
đòi hỏi phải có sự nỗ lực giải quyết như nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất
hạn chế, chưa đáp ứng được những mục tiêu đề ra, một số chính sách hỗ trợ chưa
thật sự phù hợp với người nghèo, ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình. Đồng
thời, để thực hiện được mục tiêu của chương trình xóa đói, giảm nghèo, tác giả cũng
nêu nên những giải pháp để thực hiện hiệu quả hơn công tác giảm nghèo.
Ngoài ra, còn có những nghiên cứu của các thạc sĩ chuyên ngành công tác xã
hội về xóa đói, giảm nghèo, như Bùi Văn Dương (2014) về “Vai trò của công tác
7
xã hội trong xóa đói, giảm nghèo tại xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
Nguyễn Thị Huệ (2016) về “ Hoạt động công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo
ở cộng đồng dân tộc Mông, tại xã Cán Chu Phìn, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”;
Đinh Thị Nguyệt (2014) về “Vai trò công tác xã hội trong việc thực hiện chương
trình 135 tại huyện Kim Bôi- tỉnh Hòa Bình giai đoạn II (2006-2010)”....đã nghiên
cứu sâu hơn về sự trợ giúp của công tác xã hội đối với các vùng sâu, vùng khó khăn
của Việt Nam [16].
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2016) cũng có bài nghiên cứu về “Vai trò của
công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững”[4]tại hội thảo công tác xã hội với
người nghèo từ lý luận đến thực tiễn, đã phân tích vai trò của công tác xã hội và làm
nghèo bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với giảm nghèo bền
vững
+ Phân tích thực trạng nghèo và các hoạt động giảm nghèo tại xã Đồng Sơn từ
năm 2013 đến năm 2018
+ Đánh giá các hoạt động mô hình công tác xã hội-phát triển cộng đồngtrong hỗ
trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình hoạt động công tác xã hội đối với
người nghèo trên địa bàn Đồng Sơn và Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao việc
ứng dụng công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Sơn.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Mô hình (các hoạt động phát triển cộng đồng) công tác xã hội trong hỗ trợ giảm
nghèo tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: nghiên cứu được tiến hành trên tại địa bàn xã Đồng
Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
Phạm vi về thời gian nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu các hoạt động công tác xã
hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn trong khoảng thời gian từ
năm 2013 đến năm 2018. Nghiên cứu này được triển khai trong thời gian 8 tháng, từ
tháng 8/2017 đến tháng 3/2018.
9
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung vào hoạt động phát triển cộng đồng của
công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững như sau: i) nâng cao nhận thức người
dân; ii) kết nối các nguồn lực người dân tiếp cận với chương trình, chính sách; iii)
tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục; và iv) hỗ trợ pháp lý.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
75,76% tổng hộ nghèo) được tiến hành tại xã Đồng Sơn. Tổng số hộ tham gia
nghiên cứu đảm bảo tính đại diện cho các loại hình hộ gia đình nghèo, đại bàn khác
nhau của nơi thực hiện nghiên cứu. Thông các bảng khảo sát, tác giả thu thập thông
tin từ cán bộ làm công tác xã hội và hộ nghèo nhằm tìm hiểu điều kiện sống, tình
trạng nghèo và sự hỗ trợ của công tác xã hội đối với người dân tại khu vực này. Đề
tài đã thực hiện các khảo sát với những nội dung sau:
-
Khảo sát tình trạng nghèo tại xã Đồng Sơn
-
Khảo sát về thu nhập của hộ nghèo
-
Khảo sát về việc người dân được tiếp cận thông tin, tuyên truyền
-
Khảo sát về hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân xã
Đồng Sơn
-
Khảo sát về chính sách hỗ trợ giáo dục
-
Khảo sát về chính sách vay vốn của người dân xã Đồng Sơn
Thực trạng nghèo tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh hiện
nay như thế nào?
Có những hoạt động gì trong mô hình công tác xã hội nào đang được thực
hiện trong hỗ trợ giảm nghèo nào hiện đang được thực hiện tại xã Đồng Sơn, huyện
Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh?
Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện mô hình công tác xã hội
trong giảm nghèo bền vững ?
Có những giải pháp nào thúc đẩy mô hìnhcông tác xã hội trong giảm nghèo
bền vững tại xã Đồng Sơn?
Giả thuyết nghiên cứu:
-
Mô hình công tác xã hội: các hoạt động phát triển cộng đồng có thể hỗ trợ
hữu hiệu trong giảm nghèo bền vững thông qua các hoạt động nâng cao nhận
thức, kết nối cộng đồng, huy động các nguồn lực hỗ trợ.
-
Khi thực hiện mô hình công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại Đồng
Sơn, các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình công tác xã hội tại đây có giúp người
dân vượt qua những khó khăn và vươn lên thoát nghèo hay không?.
-
Những giải pháp được nghiên cứu đưa ra đã thúc đẩy công tác giảm nghèo,
nhưng cần thực hiện triệt để hơn các giải pháp này?.
12
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững
1.1.1.1. Khái niệm về nghèo
Hiện nay có nhiều quan niệm về nghèo được các quốc gia thừa nhận. Tại Hội
nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong
khu vực đã thống nhất cao rằng: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không
có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
và những phong tục được xã hội thừa nhận [8, tr.7].
Trong Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại
Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995 đã đưa định nghĩa cụ thể hơn về nghèo là tất cả
những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền
được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại [8, tr.7].
Ngoài ra, cũng có quan niện khác về nghèo mang tính kinh điển và triết lý của
chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ông Amartya Kumar
Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998: để tồn tại, con
người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này,
con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn [8, tr.8].
Trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của tổ chức quốc tế Liên Hợp
quốc (UN) thông qua năm 2007, mục tiêu đầu tiên đó là triệt để loại trừ tình trạng
nghèo và thiếu ăn. Theo đó, nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả
vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được
đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có
nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có
nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình
và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc
14
kỷ của Liên Hợp quốc [7].
15
Đối với Việt Nam, khái niệm nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong
đường lối, chủ trương của Đảng từ năm 2013 tại Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội
nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chính sách xã hội giai
đoạn 2012-2020, cách tiếp cận nghèo đa chiều cũng dựa trên cách tiếp cận của thế
giới nhưng có những điểm cần lưu ý trong quá trình vận dụng để đánh giá, đo lường
nghèo đa chiều. Thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng
nghèo ở Việt Nam hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo
được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”. Các nhu cầu cơ
bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những
nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở...). Cách tiếp cận
theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói, bởi vì: Thứ nhất,
một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an
ninh, vị thế xã hội, v.v...) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông,
thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số
dịch vụ y tế/giáo dục công v.v...). Thứ hai, với các hộ có có thu nhập trên chuẩn
nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những
nhu cầu tối thiểu; vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống,
hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia
rượu và các mục đích khác. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập
trung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất
nhanh, phương pháp này càng bộc lộ nhiều hạn chế.
Như vậy, nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót
những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh
khác. Thay vì xem xét nghèo thu nhập, những ai không được khám chữa bệnh,
không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là
nghèo. Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không
khẳng định: “càng đi vào kinh tế thị trường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã
hội, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm
sóc sức khỏe nhân dân” [35, tr.182]. Đây chính là quyết tâm, là lời hứa của Đảng
Cộng sản Việt Nam với nhân dân về mục tiêu của Đảng.
Từ năm 2016-2020, Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới, hướng tới
giảm nghèo bền vững, tiếp cận đa chiều theo xu hướng chung của các nước trên thế
17
giới. Đây là phương pháp tiếp cận mới, tiến bộ hơn, có tính nhân văn, tác động toàn
diện hơn đến người nghèo. Theo đó, giảm nghèo bền vững là một trong những trọng
tâm của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 nhằm cải thiện và
từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng
nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng,
các dân tộc và các nhóm dân cư [6].
1.1.2. Khái niệm hộ nghèo và cách xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam
Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu
cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng
đồng xét trên mọi phương diện.
Theo Ngân hàng thế giới khuyến nghị tính chuẩn nghèo theo bốn nhóm nước
là chậm phát triển, đang phát triển, phát triển và các nước công nghiệp phát triển
[5]:
- Đối với các nước chậm phát triển: các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có
thu nhập dưới 0,5 USD/ngày.
- Đối với nước đang phát triển là 1 USD - 2USD/ngày
- Các nước Châu Âu là 4 USD/ngày
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
(chuẩn đô la Mỹ nêu trên là tính theo sức mua tương đương, đối với nước ta 1 USD
tương đương với 2800 đồng với thời điểm năm 2004).