ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN NGUYÊN TOÀN
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ NHÓM TRONG HỖ TRỢ VIỆC
LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY: THỰC
TIỄN
TỪ TRUNG TÂM CHỮA BỆNH VÀ GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN NGUYÊN TOÀN
MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ NHÓM TRONG HỖ TRỢ VIỆC
LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY: THỰC
TIỄN
TỪ TRUNG TÂM CHỮA BỆNH VÀ GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành:
chị trong TTCB&GDLĐXH tỉnh Bắc Ninh đã nhiệt tình hợp tác giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tôi trong quá trình tìm hiểu thông tin, đóng góp ý kiến giúp tôi
thực hiện thành công luận văn.
Tôi đã rất cố gắng hoàn thành luận văn này, tuy nhiên luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những
ý kiến nhận xét, đánh giá của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn này
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Nguyên Toàn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Mô hình công tác xã hội nhóm
trong hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy: thực tiễn từ
Trung tâm chữa bệnh và Giáo dục lao động xã hội Tỉnh Bắc Ninh” là đề tài
nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn
này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tác giả
Nguyễn Nguyên Toàn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
: Công tác xã hội
Mức độ ổn định công việc của người sau cai nghiện ma túy.
55
Bảng 2.3
Nguồn sống chủ yếu của người sau cai nghiện ma túy…..… 56
Bảng 2.4
Mong muốn của người sau cai nghiện ma túy……………..
Bảng 2.5
Bảng 2.6
8
Những khó khăn gặp phải trong khi tìm kiếm việc làm, vay
vốn và sử dụng nguồn vốn…………………………………
Mức độ hiệu quả của hoạt động hỗ trợ việc làm cho người
sau cai nghiện ma túy………………………………………
57
62
65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống
ma túy, đối tượng sử dụng ma túy đang ngày càng tăng. Thống kê cho thấy từ
năm 2010 - 2017, trên thế giới, số người sử dụng ma túy trong độ tuổi 15 - 64
đã tăng từ 226 triệu người lên 255 triệu người, chiếm 5% số người trong độ
tuổi này trên toàn cầu. Trong đó có 32,5 triệu người sử dụng các loại ma túy
gốc thuốc phiện đã qua điều chế, 16,5 triệu người sử dụng thuốc phiện tự
nhiên, 37 triệu người sử dụng Amphetamine, 22 triệu người sử dụng Ecstasy
và 183 triệu người sử dụng cần sa [48].
Tại Việt Nam, số liệu báo cáo của Bộ Công an về thực hiện công tác
phòng chống tệ nạn ma túy, tính đến hết năm 2017 toàn quốc có 222.582
người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng 11.831 người so với năm 2016.
Người nghiện có ở tất cả các địa phương, ở mọi thành phần, lứa tuổi song chủ
yếu là lớp trẻ; khoảng 50% người nghiện có các vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Hiện nay, gần 2/3 thanh niên nghiện ma túy không có việc làm hoặc có việc
làm nhưng không ổn định, đây là vấn đề nan giải trong việc giải quyết tình
trạng nghiện và giải quyết việc làm cho thanh niên trong bối cảnh dư thừa lao
động hiện nay. Nghiện ma túy cũng là tác nhân chủ yếu làm thanh niên vi
phạm pháp luật. Tỷ lệ vi phạm pháp luật trong thanh niên nghiện ma túy
khoảng 50% và gấp hơn 100 lần so với nhóm thanh niên không nghiện. Tỷ lệ
phạm nhân phạm tội về ma túy trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ
là 41,04%, tỷ lệ phạm nhân có tiền sử nghiện ma túy là 28,25%. Đây là thực
tế cần quan tâm khi xây dựng chính sách đối với người sử dụng, người nghiện
ma túy, không chỉ xem trọng khía cạnh y tế mà cần cân nhắc trọng tâm là các
khía cạnh xã hội và đảm bảo an toàn xã hội để đảm bảo tính toàn diện [47].
10
Có rất nhiều nghiên cứu quốc tế đề cập đến tình hình sử dụng ma tuý,
những tác hại của ma tuý và những mô hình hỗ trợ, can thiệp người sử dụng
ma tuý. Những nghiên cứu này đưa ra bài học hữu ích cho Việt Nam trong
việc đánh giá và hỗ trợ người nghiện ma tuý và người sau cai nghiện ma tuý.
2.1.1 Các nghiên cứu về tình hình nghiện ma tuý
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy tự nhiên, mà đại
diện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâu trước đây. Hơn 8000
năm trước đây, thuốc phiện đã được người Somai ở Tây Á sử dụng, người ta
đã biết được những khoái cảm và sự thoải mái hết sức mà thuốc phiện mang
lại khi dùng [57]. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma túy tự
nhiên đã trở thành thói quen và tập tục của nhiều dân tộc ở nhiều vùng đất
khác nhau. Từ khi phát hiện ra tác dụng kích thích của các loại ma túy tự
nhiên cũng như tổng hợp, số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng. Việc
sử dụng ma túy gắn bó chặt chẽ tới cảm giác của con người, tới cuộc sống
tâm lý của họ. Trên phương diện xã hội, ma túy đã gây ra những tác hại rất
lớn. Chính vì thế cuộc chiến chống tệ nạn ma túy đã có từ lâu đời và nhiều
thế kỷ.
Theo Báo cáo Tình hình Ma túy Thế giới năm 2018, có khoảng 275
triệu người trên toàn thế giới, chiếm khoảng 5,6% dân số thế giới trong độ
tuổi 15-64, đã sử dụng ít nhất một lần trong năm 2016. Có khoảng 31 triệu
người sử dụng ma túy mắc các chứng rối loạn, cần được điều trị. Ước tính ban
đầu cho thấy rằng, trên toàn cầu, có 13,8 triệu người trẻ tuổi từ 15-16 tuổi sử
dụng cần sa trong năm qua, tương đương với khoảng 5,6%. Số người nghiện
ma túy ở khu vực châu Á nhiều nhất, sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu
và châu Đại dương [70].
Cũng theo Báo cáo của WHO năm 2018, có khoảng 450.000 người chết
do hậu quả của sử dụng ma túy trong năm 2015. Trong đó, có 167.750 người
công khai hoặc tiềm ẩn và những lời phê phán về nguyên tắc và điều cấm
trong xã hội [68].
13
2.1.2 Các nghiên cứu tiếp cận giải quyết vấn đề cai nghiện ma tuý
Việc nghiên cứu về người sau cai nghiện ma tuý (NSCNMT) đã giành
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế thới, với nhiều cách tiếp
cận khác nhau. Các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để các nhà CTXH
nghiên cứu các mô hình CTXH nhóm hỗ trợ việc làm cho người sau nghiện
ma túy như:
Cách tiếp cận phân tâm học: Cách tiếp cận này được hình thành ở
Pháp, theo thuyết này thì việc dùng ma túy có liên quan tới các xung đột và
các rồi nhiễu trong quá trình phát triển. Kemberg (1975) cho rằng khi xung
đột Edipe còn tồn tại ở tuổi thanh thiếu niên, thì những người ở lứa tuổi này sẽ
tìm kiếm sự giải thoát tội lỗi và các ức chế khác ở việc dùng ma túy [63].
Theo cách tiếp cận nhận thức xã hội, A. Bandura là một đại diện, theo
ông nhận thức về khả năng của mình là khái niệm trung tâm của sự điều chỉnh
hành vi của bản thân. Khái niệm “cái tôi hiệu quả” (Self-efficacy) do ông đưa
ra được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực
nghiện. Theo ông “cái tôi hiệu quả” là khả năng thực sự có thể làm một việc
gì đó, là sự đánh giá của con người về khả năng của mình trong việc hoàn
thành các nhiệm vụ phù hợp với các hoàn cảnh khác nhau [61].
Theo các nhà tâm lí trị liệu nhận thức: Đại diện tiêu biểu và cũng là
một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tâm lí trị liệu nhận thức ở Mỹ là
Callahan. Ông có cách tiếp cận khác đến vấn đề nghiện. Ông cho rằng nguyên
nhân của nghiện ngập và thôi thúc một số người sử dụng các chất gây nghiện
chính là những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải nghiệm. Callahan (1997)
[62] đã phát hiện ra mỗi liên hệ giữa nghiện và sợ hãi. Việc phát hiện này đã
giúp ông tìm ra một phương pháp chữa trị cho hầu hết các loại nghiện. Nội
có thể hỗ trợ mọi người xác định động lực thay đổi của họ [66].
Ma túy, các tệ nạn liên quan đến ma túy và vấn đề giải quyết hậu quả
do ma túy gây ra không còn bó hẹp ở phạm vi một lĩnh vực, một lãnh thổ mà
nó đã trở thành một vấn đề bức xúc mang tình toàn cầu, ảnh hưởng đến tất cả
các mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa. Nghiên cứu trên thế giới về vấn đề ma
túy, và CTXH trong hỗ trợ giải quyết vấn đề nghiện ma tuý cho thấy tình hình
15
nghiêm trọng cũng như ảnh hưởng tiêu cực của nghiện ma tuý. Bên cạnh đó
các nghiên cứu cũng đưa ra những bằng chứng chứng minh công tác xã hội có
lịch sử và vai trò quan trọng trong hỗ trợ giải quyết vấn đề nghiện ma tuý.
Những bài học từ các nghiên cứu trên thế giới sẽ là bài học cho việc phân tích
và áp dụng CTXH nhóm vào hỗ trợ NSCNMT trong đề tài này.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Tổng quan tài liệu cho thấy ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên
cứu và thực hành công tác xã hội (CTXH) nói chung và mô hình CTXH nhóm
hỗ trợ việc làm nói riêng được thực hiện một cách quy mô, bài bản và tính
hiệu quả thực tiễn cao. Tuy đã có các hoạt động nghiên cứu và thực hành
CTXH dưới nhiều hình thức khác nhau.
2.2.1. Nghiên cứu về việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý
Người sau cai nghiện ma túy là một trong những nhóm đối tượng bước
đầu nhận được sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu và của xã hội. Sau
đây là tổng hợp một số công trình nghiên cứu đến vấn đề hỗ trợ việc làm đối
với NSCNMT như:
Đề tài “Những giải pháp chủ yếu quản lý, dạy nghề cho NSCNMT
trong chương trình 3 năm ở các trường, trung tâm tại Thành phố Hồ Chí
Minh” (2004 - 2005) do Viện nghiên cứu xã hội Thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện. Đề tài nghiên cứu đã giải quyết được vấn đề giúp những người nghiện
sau khi kết thúc 2 năm cắt cơn, chữa bệnh, cai nghiện và phục hồi sức khỏe,
cai nghiện ma túy tại cộng đồng. Qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa được các
loại hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma túy và sau cai nghiện ma
túy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá được thực trạng về cách tổ
chức các hoạt động quản lý giáo dục thanh niên sau cai ở thành phố Hồ Chí
Minh và chỉ ra những mặt hạn chế để tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổ
chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy tại cộng
đồng. Đã đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng tư
vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ma túy ở cộng đồng; đề xuất
đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện; xây
dựng nội dung chương trình giáo dục chuyển biến nhận thức và hành vi thanh
niên sau cai nghiện ma túy ở cộng đồng [24].
17
Tác giả Lê Thị Thanh Huyền (2014) nghiên cứu về “Hoạt động hỗ trợ
tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy (nghiên cứu tại thành phố Hà
Nội)” đã mô tả thực trạng nhu cầu vay vốn, việc làm của NSCNMT trên địa
bàn thành phố Hà Nội; Các yếu tố tác động tới việc làm của người nghiện sau
cai; Và chỉ ra một số biện pháp và hoạt động phù hợp để ổn định cuộc sống
cho NSCNMT. Tuy nhiên, đề tài này chỉ có phạm vi nghiên cứu trong việc hỗ
trợ đào tạo và tìm kiếm việc làm cho NSCNMT trong bối cảnh thực tiễn xã
hội tại Hà Nội [14].
2.2.2. Nghiên cứu về công tác xã hội với người sau cai nghiện ma tuý
Đề tài “Nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy” của tác giả
Tiêu Thị Minh Hường (2015) đã phân tích và tổng hợp được các yếu tố về
tâm lý ảnh hưởng đến nhu cầu và nhu cầu việc làm của NSCNMT. Tác giả đã
đi sâu nghiên cứu nhu cầu lý giải dưới góc độ tâm lý học, từ đó có những
nghiên cứu điển hình về nhu cầu việc làm của NSCNMT, các yếu tố ảnh
hưởng tới việc làm của họ, đề xuất một số biện pháp tâm lý - giáo dục, góp
dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã
hội tiên tiến” [8]. Đồng thời Đề án cũng chỉ ra mục tiêu cụ thể cho từng giai
đoạn và các hoạt động chủ yếu về xây dựng và ban hành hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật về CTXH; Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung
cấp dịch vụ công tác xã hội và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác
viên công tác xã hội; Xây dựng, hoàn thiện chương trình khung, nội dung đào
tạo và dạy nghề công tác xã hội và đề ra các giải pháp cụ thể và đề ra các giải
pháp phát triển ngành CTXH nói chung, và là cơ sở để cung cấp các dịch vụ
CTXH với người nghiện ma túy nói riêng.
Bài viết “CTXH với người nghiện ma túy” của Trung tâm cung cấp
dịch vụ CTXH, qua đó tác giả đã cung cấp những số liệu dẫn chứng sinh động
về thực trạng sử dụng ma túy của tỉnh Bến Tre, và kinh nghiệm tiến hành
CTXH của Đội CTXH tình nguyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre [58]. Tác giả Bùi
Hương với bài viết “Cần tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau cai” đã
nêu ra những khó khăn về việc làm đối với người nghiện ma túy sau cai, đồng
thời khẳng định rằng “Việc hỗ trợ, tạo việc làm cho người nghiện sau cai
giúp giảm thiểu tình trạng tái nghiện, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng;
19
nhưng đây lại là vấn đề khó giải quyết nhất hiện nay…” [59]. Bên cạnh đó,
trong các tài liệu cũng đã chỉ ra: Người nghiện ma túy là một nhóm xã hội đặc
thù, họ không chỉ yếu về mặt thể chất mà yếu cả về mặt tinh thần. Nhìn chung
từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau, các công
trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của công tác hỗ
trợ NSCNMT tái hòa nhập cộng đồng, tìm kiếm việc làm, phòng ngừa tái
nghiện trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, mặc dù công tác tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp và
cộng đồng cùng dang tay giúp đỡ những người đã có một thời lầm lỡ, tạo cho
họ có cơ hội làm lại cuộc đời, diễn ra rất tích cực, tuy nhiên số lượng các đơn
ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng trống ma túy, làm
giảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Bên
cạnh đó đề tài sẽ cung cấp những gợi mở cho NVCTXH trong tiến trình làm
việc với NSCNMT sau này.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng hỗ trợ việc làm đối với
NSCNMT; áp dụng tiến trình CTXH nhóm; từ đó đưa ra đề xuất áp dụng mô
hình công tác xã hội nhóm trong tăng cường hỗ trợ việc làm cho người
nghiện sau cai tại TTCB&GDLĐXH Bắc Ninh.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá, nguyên nhân các yếu tố ảnh hưởng tới
việc làm của NSCNMT.
- Phân tích lý luận về mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc
làm đối với NSCNMT.
- Áp dụng mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ NSCNMT tìm
kiếm việc làm.
- Đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hỗ trợ, giúp đỡ việc làm đối
với NSCNMT.
21
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ việc làm cho NSCNMT.
5.2. Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm: NSCNMT; Cán bộ làm công
Nghị định số 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 quy định chi tiết thi hành luật
sửa đổi bổ xung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về quản lý sau cai
nghiện ma túy tại nơi cư trú và trung tâm quản lý sau cai; Nghị định số
94/2010/NĐ-CP ngày 9/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia
đình và cộng đồng; các văn bản khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của phương pháp trưng cầu ý kiến nhằm đo lường và thu
thập các thông tin cần thiết để phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài
như: Thông tin của NSCNMT tại địa bàn nghiên cứu (thông tin cá nhân, thực
trạng việc làm; những khó khăn, trở ngại trong quá trình tái hòa nhập cộng
đồng và nhu cầu việc làm của NSCNMT…).
Mẫu khách thể trong trưng cầu ý kiến: 155 người sau cai nghiện tại
TTCB&GDLĐXH Bắc Ninh.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
- Khách thể được lựa chọn để trả lời phỏng vấn sâu bao gồm:
+ Người sau cai nghiện ma túy: 7 người, nhằm tìm hiểu thông tin sâu
về những khó khăn trong cuộc sống, cũng như nhu cầu, nguyện vọng của
người sau cai nghiện ma túy.
+ Cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh đạo,
quản lý tại trung tâm: 05 cán bộ nhằm thu thập thông tin về cơ cấu, tổ chức
của trung tâm, mô hình CTXH nhóm trong hỗ trợ việc làm đối với NSCNMT,
qua đó tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của mô hình
CTXH nhóm hỗ trợ.
+ Gia đình, bạn bè, hàng xóm của NSCNMT: 06 trường hợp, để lắng
nghe ý kiến, đánh giá của họ về NSCNMT, về cách ứng xử, khả năng giao
tiếp, thái độ với công việc và hòa nhập cộng đồng của NSCNMT.
6.4. Phương pháp công tác xã hội nhóm
23
Thuật ngữ “Ma túy” [Drug] được hiểu theo nhiều cách khác nhau trên
thế giới hiện nay. Trong lịch sử Việt Nam, thuật ngữ “Ma túy” xuất hiện ban
đầu chỉ được hiểu là thuốc phiện (có nghĩa là cây thuộc loại papaver
somniferum) [54], về sau khi việc giao lưu buôn bán được mở rộng ra khu
vực và thế giới thì “ma túy” còn được hiểu là thêm các cây cần sa (có nghĩa
là các loại cây nào thuộc chi Cannabis), cây côca (có nghĩa là cây thuộc bất
kỳ loại nào thuộc chi Erythroxylon) [54] và các loại thuốc tân dược gây
nghiện khác. Sở dĩ gọi “Ma túy” là vì các chất này có tác dụng như ma thuật,
ma quái, nó chữa được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn
hoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm cho con người ngây ngất và túy lúy.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1982), ma túy là bất kỳ chất gì mà
khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý
của cơ thể [25]. Một cách định nghĩa mang tính khoa học, chính xác hơn là
khái niệm về ma túy do Liên Hợp Quốc (LHQ) đưa ra. Điều 1, Công ước
thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 của LHQ đã quy định “ma tuý”
nghĩa là bất kỳ chất liệu nào được thống kê trong bảng I và bảng II kèm theo
Công ước này, dù dưới dạng tự nhiên hay tổng hợp [52]. Chương trình kiểm
soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác định:
“Ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc
nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm
trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên
những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng” [19].
25