Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng là
khoảng thời gian khó khăn và thử thách đối với các doanh nghiệp nói
chung và đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng vốn đã
quen với cơ chế quản lý bảo hộ của Nhà nước, nay lại phải chịu sự sàng lọc
khắc nghiệt của cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển. Để đứng vững và
khẳng định mình trên thị trường các doanh nghiệp không thể làm gì khác là
phải tiếp nhận cái đúng, cái mới và xoá bỏ những tư tưởng trì trệ, bảo thủ.
Từ đó tạo điều kiện cho thị trường phát triển hữu hiệu.
Cơ chế thị trường nếu biết vận hành nó sẽ phát huy được những mặt
tích cực mà chúng ta không thể phủ nhận được. Tuy nhiên nó cũng đặt ra
một yêu cầu là cơ chế quản lý kinh tế Nhà nước phải thực sự đổi mới.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với Nhà nước đã chuyển
giao cho các doanh nghiệp Nhà nước quyền lợi to lớn và gắn liền với nó là
những trách nhiệm nặng nề. Chính vì vậy, để thích nghi được trong cơ chế
thị trường, mỗi doanh nghiệp phải tìm ra đáp án của 3 vấn đề kinh tế lớn đó
là: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? phù hợp với
năng lực và ngành nghề của mình. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải
lựa chọn phương thức quản lý thích hợp và hiệu quả. Vì thế, quản lý hoạt
động sản xuất kinh doanh bằng kế hoạch ngày càng được coi trọng và trở
thành công cụ quản lý chủ yếu của doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp ở
nước ta đã có những đổi mới mạnh mẽ. Tuy nhiên sự đổi mới đó vẫn còn
nhiều vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện trên nhiều phương diện từ việc
lập kế hoạch đến việc tổ chức thực hiện, kiểm tra theo dõi, điều chỉnh thực
hiện kế hoạch.
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong thời gian thực tập tại Công ty Lắp máy và Xây dựng 69-3
quyết định sự tồn tại, phát triển hoặc trì trệ của doanh nghiệp. Nếu quản lý
hoạt động đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp khắc phục các hạn chế, liên kết
gắn bó các yếu tố nội lực bên trong đặc biệt là yếu tố con người, tận dụng
được cơ hội bên ngoài tạo sức mạnh tổng hợp cho doanh nghiệp. Để quản
lý đúng đắn cần có phương thức quản lý đúng, hiệu quả. Và kế hoạch hoá
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một phương thức quản
lý có hiệu quả. Vậy thế nào là kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp?
Hiểu một cách tổng quát nhất, theo từ điển bách khoa Việt Nam kế
hoạch hóa là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các
qui luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt các qui luật kinh tế để tổ chức quản lý
các đơn vị kinh tế - kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản
xuất xã hội theo những mục tiêu thống nhất.
Theo cách hiểu trên, kế hoạch hóa được thực hiện ở nhiều qui mô và
phạm vi khác nhau. Kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (gọi tắt là kế hoạch hóa doanh nghiệp) được xác định là một
phương thức quản lý theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can
thiệp một cách có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp
vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được mục
tiêu đề ra. Hay nói cách khác kế hoạch hóa doanh nghiệp là một qui trình ra
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái
tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong
muốn đó. Như vậy kế hoạch hóa trong doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng
tiên đoán mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện theo mục tiêu
đặt ra. Công tác này bao gồm các hoạt động:
- Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp và các mục tiêu đó được cụ thể hóa bằng các chỉ
những mục tiêu. Thị trường bản thân nó rất linh hoạt và thường xuyên biến
động, kế hoạch hóa và quản lý bằng kế hoạch hóa giúp các doanh nghiệp
dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra để quyết định nên làm
cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm trong một thời kỳ nhất định.
Mặc dù chúng ta ít tiên đoán chính xác được tương lai và các yếu tố nằm
ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp có thể phá vỡ cả những kế hoạch tốt
nhất đã có, nhưng nếu không có kế hoạch thì có nghĩa là chúng ta đã để cho
các sự kiện có liên quan đến sinh mệnh sống của doanh nghiệp mình diễn
ra một cách ngẫu nhiên và tính rủi ro sẽ tăng lên.
- Lập kế hoạch là dự kiến các vấn đề của tương lai mà tương lai thì ít
khi chắc chắn, tương lai càng dài thì các quyết định càng kém chắc chắn.
Thậm chí ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản lý vẫn
phải tìm cách tốt nhất để đạt mục tiêu đặt ra, phân công, phối hợp hoạt
động giữa các bộ phận trong hệ thống tổ chức trong quá trình thực hiện
mục tiêu kế hoạch và tháo gỡ, ứng phó với những bất ổn trong diễn biến
sản xuất kinh doanh. Như vậy công tác kế hoạch hóa cho phép ứng phó với
những bất định và thay đổi của thị trường.
- Công tác kế hoạch hóa tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh
nghiệp. Công tác kế hoạch hóa thường hướng tới cực tiểu hóa chi phí vì nó
chú trọng vào các hoạt động hiệu quả. Kế hoạch thay thế sự hoạt động
manh mún, không được phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung,
thay thế luồng hoạt động thất thường bằng một luồng đều đặn. Thay thế
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những phán quyết vội vàng bằng những phán quyết có cân nhắc kỹ lưỡng.
Quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ thường được chia thành nhiều công
đoạn có liên quan chặt chẽ, mang tính dây truyền với nhau. Quá trình đó
cần phải được phân chia thành các tác nghiệp kinh tế, kĩ thuật chi tiết theo
thời gian và không gian. Công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp tạo cơ sở cho
các bộ phận này vào việc thực hiện các lựa chọn chiến lược chung
Thứ ba, chức năng quyền lực
Việc công bố một qui trình kế hoạch hợp lí và khoa học là một trong
những phương tiện để khẳng định tính đúng đắn của các định hướng chiến
lược đã chọn, qui trình kế hoạch có thể được xem là một trong những
phương tiện mà người lành đạo nắm giữ để định hướng tương lai của doanh
nghiệp và thực hiện sự “thống trị” của họ.
Trong nội bộ doanh nghiệp, kế hoạch đem lại cảm giác được quản lý
một cách hợp lí và mọi người đều được đóng góp vào kế hoạch với tư cách
người ra quyết định.
3.2. Nguyên tắc của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Cũng như các công tác quản lý khác, kế hoạch đòi hỏi phải tuân thủ
những qui tắc nhất định nhằm tạo điều kiện tiền đề cho việc nâng cao hiệu
quả và giảm thiểu các tiêu cực có thể có trong hoạt động doanh nghiệp. Sau
đây là những nguyên tắc cơ bản nhất đối với công tác kế hoạch hóa doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Thứ nhất, nguyên tắc thống nhất
Cũng như các công tác quản lý khác, kế hoạch hóa cũng đòi hỏi phải
có tính thống nhất. Doanh nghiệp được cấu thành bởi một hệ thống khá
phức tạp, bao gồm các mối quan hệ dọc và ngang. Nguyên tắc thống nhất
yêu cầu bảo đảm sự phân chia và phối hợp chặt chẽ trong quá trình xây
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dựng, triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch giữa các cấp, các phòng ban
chức năng trong một doanh nghiệp thống nhất. Nguyên tắc này được thể
hiện ở các nội dung sau:
- Trong một doanh nghiệp tồn tại nhiều quá trình kế hoạch riêng biệt.
Các kế hoạch bộ phận đi vào giải quyết những mảng công việc mang tính
chức năng, đặc thù riêng, với mục tiêu và tổ chức thực hiện khác biệt. Vì
đầy đủ tính chủ động của mình đối với hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi
người tham gia sẽ xuất hiện những động cơ mới để hoạt động có hiệu quả
hơn và doanh nghiệp có thêm nguồn lực để giải quyết những nhiệm vụ
trong tương lai.
Thứ ba, nguyên tắc linh hoạt
Do những bất định trong tương lai và sai lầm có thể có ngay cả trong
những dự báo thông thái nhất nên kế hoạch phải mang tính linh hoạt để
giảm bớt thiệt hại do các sự kiện chưa lường trước được gây ra. Nội dung
của nguyên tắc này được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:
- Cần phải có nhiều phương án kế hoạch và mỗi phương án chỉ là
một kịch bản chứ không nên coi nó là một văn bản pháp lý. Tương ứng với
mỗi phương án là những điều kiện áp dụng cụ thể về nguồn lực, thị trường
và các điều kiện kinh doanh.
- Ngoài kế hoạch chính cần xây dựng các bộ phận kế hoạch dự
phòng, kế hoạch phụ để có thể tạo dựng khả năng thay đổi phương hướng
khi những sự kiện không lường trước được xảy ra
- Cần phải xem xét lại kế hoạch một cách thường xuyên, định kỳ đối
chiếu lại các sự kiện xảy ra so với dự kiến và điều chỉnh lại các kế hoạch
cần thiết để duy trì quá trình tiến đến mục đích mong muốn. Như vậy tính
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
linh hoạt trong kế hoạch làm cho các nhà quản lý không còn cảm thấy ràng
buộc trong một chương trình cứng nhắc. Chính họ là người quản lý kế
hoạch chứ không phải họ bị kế hoạch quản lý.
4. Hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp
4.1. Phân theo góc độ thời gian
Kế hoạch dài hạn
Bao trùm lên khoảng thời gian dài khoảng 10 năm. Quá trình soạn
lập kế hoạch dài hạn được đặc trưng bởi:
toàn bộ mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp. Trách nhiệm soạn thảo
kế hoạch trước hết là của lãnh đạo doanh nghiệp, vì kế hoạch chiến lược
đòi hỏi trách nhiệm rất cao, qui mô hoạt động rộng lớn của các nhà quản lý.
Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược thành các
chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổ
các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của kế hoạch
chiến lược.
Kế hoạch tác nghiệp
Kế hoạch tác nghiệp được thể hiện cụ thể ở những bộ phận kế hoạch
riêng biệt trong tổng thể hoạt động kinh doanh như kế hoạch sản xuất, kế
hoạch marketing, kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự của doanh nghiệp.
Kế hoạch chiến lược tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp
đến tương lai của doanh nghiệp và đòi hỏi chủ yếu sự tham gia của các nhà
lãnh đạo, trong khi đó kế hoạch tác nghiệp liên quan đến tất cả các lĩnh vực
và bộ phận của doanh nghiệp và huy động tất cả các cán bộ phụ trách bộ phận.
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II/ Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế hoạch hóa trong
doanh nghiệp
1. Công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp
Như ở phần trước đã nêu, công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp gồm
hai hoạt động chính, đó là: lập kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện kế
hoạch. Trong mục này luận văn sẽ đi sâu phân tích rõ hơn nội dung của
từng hoạt động nói trên.
1.1. Công tác lập kế hoạch
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và
đề xuất các chính sách, giải pháp áp dụng để đưa ra một bản kế hoạch cụ
thể cho doanh nghiệp. Bản kế hoạch doanh nghiệp là hệ thống các phương
hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực cần thiết cho việc thực
+ Đánh giá các phương án lựa chọn
+ Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược
- Bước 4
Xác định các chương trình, dự án. Các chương trình thường xác định
sự phát triển của một trong các mặt hoạt động quan trọng của doanh
nghiệp. các dự án thường được xác định một cách chi tiết hơn chương
trình, nó bao gồm các thông số về kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức
huy động và sử dụng nguồn lực, hiệu quả kinh tế tài chính.
- Bước 5
Soạn lập hệ thống kế hoạch chức năng (tác nghiệp) và ngân sách.
Mục tiêu của kế hoạch kinh doanh thường hướng tới là: Đáp ứng đòi hỏi
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, quản lý hiệu quả
nguồn lực, đảm bảo thực hiện các mục tiêu chiến lược, kiểm soát quá trình
triển khai chiến lược. Để thực hiện được các mục tiêu này, kế hoạch chiến
lược cần phải được cụ thể hóa bằng các kế hoạch chức năng, xem như đó là
kế hoạch tác nghiệp để chỉ đạo và điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh. Hệ thống các kế hoạch chức năng bao gồm:
Kế hoạch sản xuất sản phẩm, phát triển sản phẩm mới
Kế hoạch nhân sự
Kế hoạch tài chính
Kế hoạch marketing
Sau khi các kế hoạch tác nghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa
chúng dưới dạng tiền tệ các dự toán về mua sắm các yếu tố sản xuất, nhu
cầu vốn v.v… Ngân sách chung của doanh nghiệp biểu thị toàn bộ thu nhập
và chi phí lợi nhuận hay số dư tổng hợp và các khoản mục cân đối. Ngoài
ngân sách chung các bộ phận hay chương trình doanh nghiệp cũng cần soạn
lập ngân sách riêng của mình.
kế hoạch là thúc đẩy thực hiện các mục tiêu đặt ra và theo dõi, phát triển
những phát sinh không phù hợp với mục tiêu. Khi phát hiện những phát
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
15
phân tích
môi
trường
Nhiệm
vụ và
mục tiêu
Kế hoạch
chiến
lược
Chương
trình, dự
án
Kế hoạch
tác nghiệp
và ngân
sách
Đánh giá
và hiệu
chỉnh các
pha của
kế hoạch
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sinh không phù hợp điều quan trọng là cần phải tìm được các nguyên nhân
dẫn đến vấn đề đó, những nguyên nhân này có thể thuộc về các cấp thực
hiện kế hoạch, ý thức chủ quan của các nhà lãnh đạo, quản lý hay là những
phát sinh đột xuất nảy sinh trong quá trình triển khai kế hoạch.
nghiệp và các giải pháp cơ chế chính sách cơ bản để đạt đựoc các mục tiêu
chung đó. Để thực hiện được chức năng của mình, các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp phải có khả năng phân tích và hiểu biết rộng rãi trong lĩnh vực này.
1.2.2.2. Các phòng ban chức năng
Trong quy trình lập kế hoạch, lãnh đạo và chuyên viên các phòng
ban chịu trách nhiệm xây dựng các kế hoạch tác nghiệp cũng như đề xuất
các chính sách, giải pháp cần thiết theo chức năng của mình nhằm thực
hiện kế hoạch một cách hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được chức năng
này cán bộ các phòng ban phải thực hiện phân tích môi trường bên ngoài,
bên trong doanh nghiệp, soạn lập các dự án, tham gia đánh giá và duyệt các
phương án chiến lược đề ra cho doanh nghiệp
1.2.2.3. Phòng (ban, nhóm) kế hoạch
Đây là bộ phận chính thực hiện công tác kiểm tra theo dõi thực hiện
kế hoạch, các chức năng của phòng như sau:
- Tư vấn, cố vấn việc soạn thảo chiến lược doanh nghiệp, làm sáng tỏ
mục tiêu của doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin có giá trị, chính xác cho chuyên viên chức năng
các phòng ban và cùng với các phòng ban phối hợp trong việc phân tích,
đánh giá môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của doanh nghiệp.
- Tham gia công tác dự đoán tương lai của doanh nghiệp, tham gia
soạn thảo phần dự báo các chỉ tiêu kế hoạch mục tiêu phát triển cuối cùng
của doanh nghiệp.
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thực hiện các hoạt động tư vấn về những vấn đề kỹ thuật lập, quản
lý, tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kế hoạch cho các phòng
ban chức năng. Tiến hành các phương pháp kế hoạch một cách đúng đắn nhất.
- Cùng với Ban lãnh đạo tổ chức các khóa học cần thiết cho người
tham gia vào công tác kế hoạch để có thể chuẩn bị đổi mới công tác kế hoạch.
Do đó hoàn thiện công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp là một yêu
cầu bức thiết đối với doanh nghiệp muốn hoạt động trên thị trường. Nó
giúp doanh nghiệp phân bổ nguồn lực có hiệu quả, chủ động trong sản xuất
kinh doanh và hạn chế rủi ro.
2.2. Hoàn thiện công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp nhằm nâng
cao chất lượng của kế hoạch trong doanh nghiệp.
2.2.1. Yêu cầu đối với kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường
- Kế hoạch phải là công cụ định hướng cho doanh nghiệp. Điều này
có nghĩa là không sử dụng biện pháp mệnh lệnh mà chủ yếu sử dụng biện
pháp gián tiếp vào thực hiện định hướng đó. Kế hoạch có nhiệm vụ đưa ra
các chỉ tiêu cụ thể và các phương án thực hiện các mục tiêu đó một cách tối
ưu và khả thi.
- Kế hoạch phải có tính linh hoạt. Trong nền kinh tế thị trường, môi
trường kinh doanh có rất nhiều thay đổi bất thường, vì vậy, kế hoạch không
thể là kế hoạch cứng nhắc mà phải linh hoạt mềm dẻo tùy thuộc vào tình
hình thay đổi của thị trường mà thay đổi các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp
để đảm bảo thực hiện được mục tiêu của kế hoạch.
- Công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp phải đảm bảo yêu cầu
hiệu quả. Các doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu hiệu quả, nó
là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định phương
án kế hoạch của doanh nghiệp.
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu” vừa
tham vọng vừa khả thi”. Mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi các Doanh nghiệp công
nghiệp phải xây dựng để thực hiện các phương án đó. Tuy nhiên các kế
hoạch này phải có khả năng thực thi.
Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải kết hợp mục tiêu chiến
lược với mục tiêu tình thế. Do đó không chỉ xây dựng các kế hoạch tác
từng loại sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh và sự
biến động giá cả. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh
tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu
quả. Kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được quy mô, cơ
cấu đối với từng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến tác
động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công
tác hoạch định. Những kết quả nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá
để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc
theo khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với các yếu tố hỗ trợ.
Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh tranh, sự biến động giá cả trên thị
trường sẽ làm tăng hiệu quả thực hiện của phương án kế hoạch.
Thứ năm, kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh
doanh, về khả năng và nguồn lực có thể khai thác. Doanh nghiệp căn cứ
vào kết quả phân tích hoạt động kinh tế thời kỳ trước và dự báo khả năng
tương lai ứng với các nguồn lực có thể có, đặc biệt là dựa vào những lợi thế
vượt trội của doanh nghiệp về các mặt chất lượng sản phẩm, kênh tiêu thụ
hợp tác liên doanh, khoa học công nghệ, cạnh tranh…sẽ góp phần làm tăng
tính khả thi của các phương án kế hoạch. Trọng tâm phân tích cần tập trung
vào các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ sáu, hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật. Đây là căn cứ quan
trọng làm cơ sở cho công tác hoạch định. Môi trường kinh doanh biến đổi
rất nhanh đòi hỏi hệ thống này cần được hoàn thiện và sửa đổi sau mỗi chu
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kỳ kinh doanh. Hệ thống định mức kỹ thuật của doanh nghiệp phải gắn bó
phù hợp với hệ thống định mức tiêu chuẩn của ngành và nền kinh tế quốc dân.
Thứ bảy, kết quả nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật, công nghệ, hợp lý hoá sản xuất. Kết quả nghiên cứu là căn cứ hàng
đầu cho hoạt động nghiên cứu triển khai, xác định phương án sản phẩm,
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HÓA Ở
CÔNG TY LILAMA 69-3
I/ Tổng quan về Công ty Lilama 69-3
1 Tổng quan về Công ty Lilama 69-3
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Lắp máy và xây
dựng 69-3
Công ty Lắp máy và Xây dựng 69-3 là Doanh nghiệp Nhà nước trực
thuộc Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam - Bộ Xây Dựng. Tiền thân là Công
trường lắp máy Uông Bí số 9 (năm 1961) và sau này là Xí nghiệp lắp máy
số 6 (năm 1977). Những ngày đầu mới thành lập với số lượng kỹ sư ít ỏi,
đội ngũ công nhân còn non trẻ, phương tiện thi công thô sơ nhưng Công ty
đã có mặt trên rất nhiều công trình xây dựng của vùng Đông Bắc, đặc biệt
Công ty đã lắp đặt thành công toàn bộ công nghệ dây chuyền của Nhà máy
nhiệt điện Uông Bí.
Những năm 80 Công ty được đổi tên thành Xí nghiệp lắp máy 69.
Trong thời gian này, trình độ của công nhân ngày càng được nâng lên, đội
ngũ cán bộ, kỹ sư đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý và chỉ
huy thi công của các chuyên gia nước ngoài nhờ thi công một loạt các công
trình lớn như: Nhà máy nhiệt điện Phả Lại I – nhà máy nhiệt điện lớn nhất
cả nước thời kỳ đó; Nhà máy xi măng Hoàng Thạch – Công trình thứ 2 do
nước ngoài đầu tư xây dựng vào thời điểm đó tại Việt Nam.
Đầu năm 1993, Công ty được sát nhập với Xí nghiệp Lắp máy 69.4
Hoàng Thạch và có tên gọi là Công ty Lắp máy và Xây dựng 69-3.
Công ty Lắp máy và Xây dựng 69-3 thuộc Tổng Công ty Lắp máy
Việt Nam là một Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo cơ chế độc lập
V¬ng ThÞ Loan KÕ ho¹ch 44
24
25