1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, ô nhiễm môi trƣờng đang diễn ra ở mọi nơi. Không chỉ do sự phát
triển của các ngành công nghiệp mà còn do sự phát triển từ các hoạt động nông
nghiệp. Các khu chăn nuôi tập trung cũng phát triển, thay thế cho các hình thức
chăn nuôi nhỏ lẻ. Tạo nhiều lợi ích kinh tế, cung cấp thực phẩm cho khu vực trong
và ngoài nƣớc. Giải quyết việc làm cho đại bộ phận nông dân nông thôn. Tuy nhiên
với sự phát triển và ngày càng đổi mới của ngành chăn nuôi đã dẫn đến việc nhiều
bất cập. Các chất thải từ ngành chăn nuôi sinh ra ngày càng nhiều, làm cho môi
trƣờng thiên nhiên bị tác động mạnh, mất đi khả năng tự làm sạch. Phần lớn các khu
chăn nuôi tập trung ở nƣớc ta chƣa đầu tƣ về hệ thống xử lý chất thải. Việc kiểm
soát mùi hôi và dịch bệnh chƣa đƣợc chủ đầu tƣ quan tâm. Quy trình công nghệ xử
lý thì chƣa triệt để dẫn đến trình trạng ô nhiễm tại khu vực chăn nuôi. Mặc khác, các
vùng chăn nuôi tập trung chƣa đƣợc quy hoạch đồng bộ. Một số khu chăn nuôi còn
nằm xen kẻ trong khu dân cƣ cũng là ảnh hƣởng đến sức khỏe và môi trƣờng xung
quanh.
Để giải quyết vấn đề đó, cần nhận biết từng vấn đề nhƣ chất thải rắn, nƣớc
thải, mùi hôi trong chăn nuôi tập trung để từng bƣớc có biện pháp quản lý, giảm
thiểu tác động đến môi trƣờng.
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Huyện Dầu Tiếng nằm về phía tây bắc của tỉnh Bình Dƣơng. Ngoài ngành
trồng trọt đã hình thành lâu đời, huyện còn định hƣớng phát triển ngành chăn nuôi,
đặc biệt là chăn nuôi theo hình thức trang trại đang đƣợc khuyến khích phát triển.
Trên địa bàn huyện Dầu Tiếng có khoảng 710 hộ chăn nuôi heo. Ngoài các hộ chăn
nuôi heo nhỏ lẻ để phát triển kinh tế gia đình, trên địa bàn huyện đã hình thành các
trang trại nuôi heo lớn theo hình thức trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Cung cấp
thực phẩm cho tỉnh Bình Dƣơng và các vùng lân cận. Tuy nhiên, việc xử lý, kiểm
soát việc ô nhiễm môi trƣờng do chăn nuôi heo trên địa bàn huyện chƣa đƣợc
trƣờng của chăn nuôi heo đến môi trƣờng. Xác định nguồn ô nhiễm phát sinh từ
3
ngành chăn nuôi heo trên địa bàn. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô
nhiễm phù hợp với từng loại hình chăn nuôi heo. Làm cơ sở cho các hộ chăn nuôi
lựa chọn các biện pháp phù hợp áp dụng trong chăn nuôi của mình. Từng bƣớc cải
thiện môi trƣờng chăn nuôi heo trên địa bàn.
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
1.1. NGUỒN GỐC CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
Chất thải phát sinh trong chăn nuôi heo, gồm:
- Chất thải từ bản thân vật nuôi phát sinh : phân, lông, vảy da, nƣớc tiểu và các
chất bài tiết từ hô hấp, tiêu hóa,…
- Nƣớc thải: nƣớc vệ sinh chuồng trại, nƣớc tắm rửa gia súc, vệ sinh dụng cụ
và thiết bị chăn nuôi, ….
- Thức ăn thừa, thức ăn rơi vãi, vật dụng chăn nuôi, vỏ bao đựng thức ăn, dụng
cụ thiết bị thú y
- Xác vật nuôi chết, bệnh phẩm thú y,…
- Khí thải từ chuồng nuôi, từ hố chứa phân, nƣớc thải; nơi chế biến thức ăn
cho gia súc, …
- Tiếng ồn phát sinh từ chuồng nuôi gia súc, nơi chế biến thức ăn,…
- Bùn lắng từ các mƣơng dẫn, hố chứa chất thải, nơi xử lý chất thải,…
Tất cả chất thải chăn nuôi nếu không đƣợc quản lý, kiểm soát sẽ ảnh hƣởng
đến sức khỏe vật nuôi và con ngƣời.
1.2. THÀNH PHẦN, TÍNH CHẤT CHẤT THẢI CHĂN NUÔI HEO
Chất thải chăn nuôi là loại chất thải đặc trƣng chứa nhiều chất hữu cơ, vi sinh
Giá trị
1
pH
-
6,47 – 6,95
2
Vật chất khô
g/kg
213 – 342
3
NH
4
-N
g/kg
0,66 – 0,76
4
N
tổng
g/kg
7,99 – 9,32
5
Tro
g/kg
32,5 – 93,3
6
Chất xơ
g/kg
151 – 261
7
2
Vật chất khô
g/kg
30,9 – 35,9
3
NH
4
g/kg
0,13 – 0,4
4
N
tổng
g/kg
4,90 – 6,63
5
Tro
g/kg
8,50 – 16,3
6
Chất xơ
g/kg
123 – 196
7
Carbonat
2
Độ đục
mg/ml
420 – 550
3
BOD
5
mg/ml
3500 – 8900
4
COD
mg/ml
5000 – 12000
5
SS
mg/ml
680 – 1200
6
P
tổng
mg/ml
36 – 72
7
N
tổng
mg/ml
220 – 460
8
Dầu mỡ
1.3. TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƢỜNG CỦA CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
Ngành chăn nuôi là ngành dễ gây ô nhiễm môi trƣờng. Chất thải chăn nuôi với
hàm lƣợng các chất ô nhiễm cao nhƣ các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, chất
dinh dƣỡng nhƣ nitơ, photpho, các khoáng chất, vi sinh vật, mầm bệnh, nếu chúng
không đƣợc kiểm soát, xử lý sẽ tác động mạnh đến môi trƣờng. Chúng có thể tác
động trực tiếp thông qua ô nhiễm thực phẩm, lan truyền các mầm bệnh, làm biến
đổi hệ sinh thái trong đất, nƣớc….
1.3.1. Tác động đến môi trƣờng nƣớc
Phần lớn nƣớc thải chăn nuôi phát sinh do quá trình vệ sinh chuồng trại, tắm
rửa gia súc. Nƣớc thải chăn nuôi có thể tác động vào môi trƣờng nƣớc thông qua hai
con đƣờng chính:
- Nƣớc thải đƣợc thải trực tiếp không qua xử lý vào hệ thống kênh rạch, ao
hồ,… gây ô nhiễm nguồn nƣớc mặt.
- Nƣớc thải từ quá trình sử dụng phân bón chảy tràng trên mặt đất, làm phát
tán ô nhiễm vào đất gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm.
9
Chất thải chăn nuôi khi xâm nhập vào nguồn nƣớc sẽ làm thay đỗi pH của
nƣớc, tăng khã năng hấp thụ hóa học và lý học của nƣớc, tăng hàm lƣợng các kim
loại năng, giảm lƣợng oxy hòa tan và tăng các yếu tố gây bệnh.
Ngoài ra, Chất thải chăn nuôi làm tăng chất dinh dƣỡng nhƣ nitơ, photpho
trong nƣớc, gây ra hiện tƣợng phú dƣỡng hóa ảnh hƣởng đến đời sống thủy sinh vật
trong môi trƣờng nƣớc mặt. Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào khối lƣợng nƣớc thải,
khã năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận hay lƣợng nƣớc pha loãng.
Các chất thải thấm xuống đất đi vào nƣớc ngầm gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc
ngầm nhất là các giếng mạch nông gần chuồng nuôi gia súc hay hố chứa chất thải
không xây dựng đúng kỹ thuật.
Bảng 1.4 : Thành phần ô nhiễm và tính chất nƣớc thải chăn nuôi heo (khi
hốt phân trƣớc khi rửa chuồng)
STT
14
7
NO
3
-
mg/l
6
8
P-tổng
mg/l
0,41
Nguồn: Trƣơng Thanh Cảnh, 2006.
Để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc ngƣời ta sử dụng các chỉ tiêu COD,
BOD
5
, TSS, N
tổng
, P
tổng
, pH, Coliform,
1.3.2. Tác động đến môi trƣờng đất
Chất thải chăn nuôi chứa lƣợng lớn chất hữu cơ nitơ, phopho. Đây là nguồn
phân bón giàu dinh dƣỡng cho cây trồng, nếu bón vào đất sẽ tăng độ phì nhiêu. Nếu
bón phân không hợp lý hoặc phân tƣơi, chúng sẽ tích tụ lại làm bão hòa hay quá bão
hòa chất dinh dƣỡng trong đất gây mất cân bằng sinh thái đất, thoái hóa đất. Đây
10
cũng là nguồn ô nhiễm gây suy thoái môi trƣờng đất và làm giảm năng suất cây
trồng. Chất thải chăn nuôi gây tác động đến môi trƣờng đất theo hai con đƣờng
chính:
lên khí quyển và tăng sự xâm nhập nitơ vào
nƣớc ngầm. Lƣợng nitơ thừa đƣợc chuyển hóa thành nitrat, làm cho nồng độ nitrat
trong đất tăng cao gây độc cho hệ vi sinh đất cũng nhƣ cây trồng. Đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật ƣa nitơ, photpho phát triển, hạn chế chủng loại vi
sinh vật khác, gây mất bằng hệ sinh thái đất. Mặt khác, gây hiện tƣợng phú dƣỡng
hóa trong đất dẫn tới phú dƣỡng hóa nguồn nƣớc ngầm.
Các hợp chất chứa Photpho: gồm các hợp chất phospho vô cơ và hữu cơ.
Photpho trong đất có khả năng kết hợp với các nguyên tố Ca, Cu, Al,… thành các
chất phức tạp, khó có thể phân giải, làm cho đất cằn cỗi, ảnh hƣởng đến sự sinh
trƣởng và phát triển của thực vật.
Lưu huỳnh: khi bón phân gia súc dƣới dạng lỏng sunfur sẽ chuyển sang dạng
sulfite tạo nên độc tố gây nguy hiểm cho hệ sinh vật đất.
Ngoài ra, việc bổ sung chất kích thích tăng trƣởng (một số kim loại nặng)
trong thành phần thức ăn vật nuôi. Khi các chất này đƣợc thải ra cùng phân và nƣớc
11
tiểu có thể dẫn tới tích tụ một lƣợng lớn các kim loại này trong đất. Nếu kéo dài, các
kim loại này sẽ tích lũy làm thay đổi tính chất hóa lý, phá hoại kết cấu đất, làm đất
nghèo nàn, hạn chế sự phát triển của cây trồng. Mặt khác, nếu các kim loại này
đƣợc cây trồng hấp thụ thì chúng có thể tích tụ trong quả, thân, lá, và cuối cùng
ảnh hƣởng trực tiếp đến con ngƣời, thông qua con đƣờng ăn uống.
Chất thải chăn nuôi đƣợc thải trực tiếp ra đất, các chất hữu cơ, kim loại, theo
mƣa, nƣớc chảy tràn thấm qua đất vào mạch nƣớc ngầm, làm ô nhiễm mạch nƣớc
ngầm.
1.3.3. Ô nhiễm môi trƣờng không khí
1.3.3.1. Nguồn phát sinh
Khí thải chăn nuôi phát sinh chủ yếu từ các loại hình chăn nuôi, cách quản lý,
thu gom chất thải; hệ thống thu gom, lƣu trữ và xử lý chất thải; từ ao, vƣờn có sử
dụng chất thải chăn nuôi làm thức ăn, phân bón,…
Tùy theo điều kiện nhiệt độ môi trƣờng, phƣơng thức thu gom, bảo quản và xử
- Nhóm 1: Các khí gây kích thích.
Chúng bao gồm: H
2
S, NH
3
, indol, skatol và phenol ở nồng độ bán cấp tính.
Nhóm khí này gây tổn thƣơng đƣờng hô hấp và phổi, đặc biệt là gây tổn thƣơng
niêm mạc của đƣờng hô hấp. Ngoài ra, NH
3
còn gây hiện tƣợng kích thích thị giác,
làm giảm thị lực.
- Nhóm 2: Các khí gây ngạt.
Các khí gây ngạt đơn thuần nhƣ CO
2
và CH
4
, Những khí này trơ về mặt sinh
lý. Tuy nhiên, nếu hít vào với nồng độ cao sẽ làm giảm khả năng tiếp nhận oxy của
quá trình hô hấp và gây nên hiện tƣợng ngạt.
Các khí gây ngạt hóa học CO là những khí gây ngạt bởi chúng kết hợp với
hemoglobin của hồng cầu máu gây ngăn cản quá trình thu nhận hay quá trình sử
dụng của oxy các mô bào.
Protein
NH
3
Indol, skatol, phenol
H
2
- Nhóm 3: Các khí gây mê.
Đại diện nhóm này là hydrocacbon, có ảnh hƣởng nhỏ hoặc không gây ảnh
hƣởng tới phổi nhƣng đƣợc hấp thụ vào máu thì có tác dụng nhƣ dƣợc phẩm gây
mê.
- Nhóm 4: Nhóm chất vô cơ hay hữu cơ dễ bay hơi.
Những chất này bao gồm các nguyên tố và hợp chất độc dễ bay hơi. Chúng
tạo ra các khí có nhiều tác dụng khác nhau sau khi đƣợc hấp thụ vào cơ thể, chẳng
hạn nhƣ khí H
2
S ở nồng độ cấp tính.
1.3.3.2. Tác động khí, bụi trong không khí khu vực chăn nuôi
Tác động do mùi
Mùi trong chăn nuôi chủ yếu do tác động kết hợp giữa nhiều loại khí thải phát
tán vào môi trƣờng không khí. Nhiều trƣờng hợp nhiều khí kết hợp với bụi làm tăng
mức độ gây mùi và thời gian ảnh hƣởng trong không khí.
Mùi phát sinh từ quá trình phân hủy kỵ khí chất hữu cơ có nguồn gốc từ
protein, lipid, hydratcarbon trong phân, nƣớc tiểu gia súc, thức ăn thừa, phụ phẩm
của chế biến thực phẩm dùng cho gia súc. Ngoài ra, mùi còn phát sinh từ xác động
vật chết chƣa xử lý, mùi do phun thuốc khử trùng chuồng trại hay nơi lƣu chứa
phân.
Mức độ ảnh hƣởng của mùi vào môi trƣờng xung quanh phụ thuộc vào quá
trình lƣu trữ và xử lý chất thải, nhiệt độ, độ ẩm, gió, mật độ nuôi gia súc và khẩu
phần thức ăn của gia súc.
Để đánh giá mức độ ô nhiễm không khí do chất thải chăn nuôi, ngƣời ta
thƣờng quan tâm đến NH
3
và H
2
S. Đây là hai khí tạo mùi chủ yếu trong các khí sinh
ra do quá trình phân hủy kỵ khí bởi vi sinh vật.
700 ppm (dƣới 60 phút)
Lập tức ngứa ở mắt, mũi và cổ họng
5000 ppm – 10000 ppm (vài
phút)
Gây khó thở và mau chóng nghẹt
thở, co thắt do phản xạ họng, xuất
huyết phổi, ngất do ngạt, có thể tử
vong.
10000 ppm trở lên
Tử vong
Với heo
50 ppm
Năng suất và sức khỏe giảm, nếu hít
thở lâu dễ gây ra chứng viêm phổi và
các bệnh khác về đƣờng hô hấp
100 ppm
Hắt hơi, chảy nƣớc bọt, ăn không
ngon
300 ppm trở lên
Lập tức ngứa mũi, miệng, tiếp xúc
lâu dài sinh ra hiện tƣợng thở gấp
Nguồn: Trƣơng Thanh Cảnh, 2010.
15
NH
3
là khí không màu, có mùi khai, dễ tan trong nƣớc và gây kích thích.
Trong không khí, ở nồng độ cao, NH
3
có thể gây kích thích niêm mạc mắt, mủi, làm
Trên 600 ppm
Mau chóng tử vong
Với heo
Liên tục tiếp xúc với 20
ppm
Sợ ánh sáng, ăn không ngon miệng, có
biểu hiện thần kinh không bình thƣờng
200 ppm
Có thể sinh chứng thủy thủng ở phổi
nên khó thở và có thể gây bất tỉnh, chết
Nguồn: Trƣơng Thanh Cảnh, 2010.
H
2
S là một khí độc. Khi tiếp xúc một lƣợng nhỏ có thể làm khó thở, tím da,
co giật và có thể gây chết ngƣời. Cơ chế chủ yếu là do H
2
S gây kích thích màng
nhầy, gây phù đƣờng hô hấp; làm rối loạn chuyển hóa tế bào và cuối cùng tác động
16
lên hệ thần kinh trung ƣơng. Ngoài ra, khi H
2
S đi vào máu sẽ kết hợp với sắt trong
hemoglobin làm mất khã năng vận chuyển oxy trong máu.
Khí cacbonic (CO
2
)
Khí CO
2
đƣợc sinh ra trong quá trình hô hấp của gia súc và quá trình phân
1.3.3.3. Ô nhiễm của tiếng ồn.
Tiếng ồn trong hoạt động chăn nuôi phát sinh từ hoạt động của gia súc hay từ
hoạt động của các công cụ sử dụng trong chăn nuôi. Tiếng ồn chỉ xảy ra ở một thời
17
điểm nhất định, thƣờng là lúc cho gia súc ăn. Ở những cơ sở chăn nuôi với số lƣợng
lớn, ngƣời tiếp xúc với tiếng ồn nhiều có thể rơi vào trình trạng căn thẳng về tâm lý,
sức khỏe. Với nồng độ lớn vƣợt quá 85 dB có thể gây điếc.
1.4. QUẢN LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI HEO
1.4.1. Thu gom
Phân và nƣớc tiểu sau khi vật nuôi thải ra đƣợc thu gom khỏi chuồng trại càng
sớm càng tốt, tránh các vi sinh vật phân hủy phân và nƣớc tiểu sinh ra mùi hôi,
tránh phát tán ra môi trƣờng và gây bẩn vật nuôi. Đồng thời, tạo điều kiện cho côn
trùng, ruồi muỗi truyền bệnh cho ngƣời và vật nuôi.
Tùy thuộc vào loại hình chăn nuôi, quy mô chăn nuôi hay phƣơng pháp xử lý
chất thải sẽ có phƣơng pháp thu gom khác nhau. Phƣơng pháp tốt nhất là tách riêng
phần phân rắn trƣớc khi dội rửa chuồng hoặc tắm cho vật nuôi. Nhƣ vậy, nồng độ ô
nhiễm trong nƣớc thải thấp hơn rất nhiều so với những cơ sở chăn nuôi rửa chuồng
chƣa thu gom phân.
Các vật liệu độn chuồng phải đƣợc thu gom và xử lý nhƣ phân rắn. Xác súc vật
chết, các bệnh phểm thú y hay các chất thải rắn khó phân hủy cần đƣợc thu gom
riêng biệt và xử lý theo quy định về vệ sinh thú y.
1.4.2. Lƣu trữ và bảo quản
Việc lƣu trữ chất thải nhằm mục đích tránh cho việc phát tán phân ra ngoài môi
trƣờng, giảm gây mùi hôi và ổn định thành phần chất hữu cơ trong phân. Tùy theo
loại phân, quy mô chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi và mục đích sử dụng chất thải của
cơ sở mà thiết bị lƣu trữ và thời gian lƣu trữ phân khác nhau. Thông thƣờng nơi lƣu
trữ phân là hố chứa, bể lắng, bãi chứa phân, ao chứa,… Cần lƣu trữ phân cách biệt
với chuồng trại chăn nuôi, xa nhà ở và nguồn cung cấp nƣớc để không ảnh hƣởng đến
sức khỏe vật nuôi và con ngƣời. Phải đậy kín tránh phát tán mùi hôi, mầm bệnh và
thải chăn nuôi heo.
Ngoài keo tụ còn loại bỏ đƣợc P tồn tại ở dạng PO
4
3-
do tạo thành kết tủa
AlPO
4
và FePO
4
.
19
Phƣơng pháp này loại bỏ đƣợc hầu hết các chất bẩn có trong nƣớc thải chăn
nuôi. Tuy nhiên chi phí xử lý cao. Áp dụng phƣơng pháp này để xử lý nƣớc thải
chăn nuôi là không hiệu quả về mặt kinh tế.
1.4.4.3. Phƣơng pháp sinh học
Chất thải chăn nuôi chứa nhiều chất dinh dƣỡng, thành phần của chúng dễ
dàng phân hủy trong môi trƣờng. Vì vậy, Chất thải chăn nuôi thƣờng đƣợc xử lý
bằng các phƣơng pháp sinh học. Phƣơng pháp sinh học thƣờng đƣợc sử dụng rộng
rãi trong thực tế vì chi phí cho việc xử lý thấp, không đòi hỏi kỹ thuật cao, tiêu diệt
đƣợc mầm bệnh và có thể tận dụng các sản phẩm sau xử lý.
Xử lý phân
1) Sản xuất phân hữu cơ
Chất thải chăn nuôi là nguồn nguyên liệu chứa nhiều chất hữu cơ có giá trị
dinh dƣỡng cho cây trồng rất cao. Một trong số phƣơng pháp sản xuất phân hữu cơ
từ phân gia súc là phƣơng pháp ủ phân (compost). Lợi ích của việc sử dụng chất
thải để sản xuất phân hữu cơ nhƣ sau:
- Làm sạch môi trƣờng, giảm mùi, tiêu diệt các mầm bệnh có trong phân
gia súc.
- Tận dụng các chất dinh dƣỡng có trong chất thải để sử dụng cho mục
điểm là thời gian ủ phân phải kéo dài 5 – 6 tháng phân ủ mới dùng đƣợc.
- Ủ nóng kết hợp ủ nguội:
Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay. Để nhƣ vậy cho vi
sinh vật hoạt động mạnh trong 5 – 6 ngày. Khi nhiệt độ đạt 50 – 60
o
C tiến hành nén
chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.
Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt. Để 5 – 6
ngày cho vi sinh vật hoạt động. Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60
o
C lại nén chặt.
Cứ nhƣ vậy cho đến khi đạt đƣợc độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung
quanh đống phân. Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra nhƣ sau: ủ nóng
cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để
giữ cho đạm không bị mất.
21
Để thúc đẩy cho phân chóng ngấu ở giai đoạn ủ nóng, ngƣời ta dùng một số phân
khác làm men nhƣ phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men đƣợc cho thêm vào
lớp phân khi chƣa bị nén chặt.
Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn đƣợc thời gian so với cách ủ nguội,
nhƣng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
2) Bón phân tƣơi
Phân gia súc, gia cầm chứa lƣợng lớn hợp chất chứa nitơ, photpho và các chất
khoáng. Đây là nguồn phân bón giàu dinh dƣỡng cho cây trồng. Khi ta bón phân
tƣơi vào đất, dƣới tác dụng của vi sinh vật có sẵn trong phân và đất, phân đƣợc phân
hủy thành các chất hữu cơ đơn giản và chất vô cơ. Các chất này hòa vào trong nƣớc,
thấm vào đất, góp phần cung cấp chất dinh dƣỡng, tăng cƣờng khả năng bảo tồn
chất dinh dƣỡng và độ ẩm của đất, làm đất thêm màu mỡ.
Tuy nhiên, việc bón trực tiếp phân tƣơi cũng có nhiều khuyết điểm. Trong
nuôi cá…Tuy nhiên hạn chế của các phƣơng pháp này là các cơ sở chăn nuôi phải ở
gần các cánh đồng, ao, hồ hoặc phải đủ diện tích để bố trí để xây dựng.
Cánh đồng lọc và cánh đồng tưới
Phƣơng pháp này vừa kết hợp tƣới nƣớc vừa có thể cung cấp chất dinh dƣỡng
cho đất và xử lý nƣớc thải. Nƣớc thải sẽ đƣợc tƣới lên bề mặt đất với một lƣu lƣợng
và nồng độ chất thải phù hợp. Qua hệ thống lọc tự nhiên của đất, các chất răn lơ
lửng trong nƣớc thải sẽ đƣợc giữ lại. Dƣới tác dụng các vi sinh vật có sẵn trong đất
tạo thành lớp màng sinh học để chuyển hóa và hấp thụ các chất hữu cơ trong đất.
Xử lý nƣớc thải bằng cánh đồng lọc đồng thời có thể đạt 4 mục tiêu:
- Xử lý nƣớc thải.
- Tƣới nƣớc cho cây.
- Tái sử dụng các chất dinh dƣỡng có trong nƣớc thải.
- Nạp lại nƣớc cho các túi nƣớc ngầm.
So với các hệ thống nhân tạo thì việc xử lý nƣớc thải bằng cánh đồng lọc cần ít
năng lƣợng, rẻ tiền, việc thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên, việc xử lý nƣớc thải chăn
nuôi bằng cánh đồng tƣới đòi hỏi phải có diện tích lớn. Có thể khếch tán chất ô
nhiễm vào nguồn nƣớc và phát tán mùi vào không khí.
Hồ sinh học
Trong hồ sinh học luôn tồn tại các sinh vật nhƣ tảo, nấm, vi khuẩn, nguyên
sinh động vật. Khi chất thải đƣợc dẫn vào hồ, các chất có tỷ trọng lớn sẽ bị lắng
xuống đáy, các phần hữu cơ có tỷ trọng nhỏ sẽ lơ lửng trong nƣớc. Ở phần trên giáp
23
với mặt thoáng của nƣớc. Sự có mặt của oxy hòa tan trong nƣớc, các vi sinh vật
hiếu khí sẽ phân hủy các chất ô nhiễm diễn ra mạnh mẽ. Các chất hữu cơ nhanh
chóng bị phân hủy thành CO
2
, nitrit, nitrat, muối, photpho và đƣợc rong, tảo sử
dụng cho quá trình sinh trƣởng và phát triển. Ở dƣới đáy của hồ là nơi hoạt động
của các vi sinh vật kỵ khí và ở phần giữa hồ là vùng hoạt động mạnh của các vi sinh
O, CO
2
. Các yếu tố ảnh hƣởng đến
khả năng làm sạch nƣớc thải của Aerotank là:
- Lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc: cung cấp oxy cho vi sinh vật phát triển và
phân hủy chất hữu cơ.
- Thành phần dinh dƣỡng đối với sinh vật: Cần chú ý nguồn nitơ, photpho.
Theo Trần Hiếu Nhuệ (2001) chất dinh dƣỡng cần thiết cho vi sinh vật BOD:
N: P = 100: 5: 1.
- Các chất có độc tính trong nƣớc thải: gây ức chế đến đời sống vi sinh vật.
- pH của nƣớc thải: pH thích hợp là 6,5 – 8,5.
- Nhiệt độ: nhiệt độ xử lý nƣớc thải trong khoản 6 – 37
o
C, tốt nhất là 15 –
35
o
C.
- Nồng độ chất lơ lửng ở dạng huyền phù: không quá 150mg/l.
Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là thiết bị xử lý nƣớc thải sử dụng các vi sinh vật bám dính.
Trong bể lọc sinh học đƣợc thiết kế lớp vật liệu lọc đƣợc bao phủ bằng màng vi sinh
vật. Màng vi sinh vật trong vật liệu lọc có hoạt tính cao hơn vi sinh vật trong bùn
hoạt tính.
Các vi sinh vật bám dính trên vật liệu lọc gồm vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí và
tùy tiện, nấm, tảo và các động vật nguyên sinh. Vi sinh vật sẽ oxy hóa các chất hữu
cơ trong nƣớc thải. Vi sinh vật hiếu khí lớp ngoài tiêu thụ hết lƣợng oxy khuyếch
tán trƣớc khi oxy thấm vào bên trong. Vì vậy, gần sát bề mặt giá thể, môi trƣờng kỵ
khí hình thành. Khi lớp màng dày, chất hữu cơ bị phân hủy hoàn toàn ở lớp ngoài,
vi sinh sống gần bề mặt giá thể thiếu nguồn cơ chất, chất dinh dƣỡng dẫn đến tình
trạng phân hủy nội bào và mất khả năng bám dính dẫn đến tách ra khỏi giá thể.
Bể tự hoại
Bể tự loại là loại bể xử lý kỵ khí xử lý đơn giản nhất. Ở trong bể, các vi sinh
vật kỵ khí trong bể sinh trƣởng và phát triển bên trong bể, phân hủy chất hữu cơ có
trong nƣớc thải sử dụng cho mục đích năng lƣợng và tăng sinh tế bào mới. Tuy
nhiên, ở một số bể tự hoại, quá trình phân hủy của vi sinh vật diễn ra tự nhiên,
không có sự khấy trộn nên khã năng sự phân bố của vi sinh vật trong nƣớc thải
không đều. Vì vậy hiệu quả xử lý thấp. Ngoài ra, dòng nƣớc thải chỉ vào bể một lần,
không tái sử dụng sinh khối vi sinh vật trong dòng ra, do đó, vừa lãng phí vừa làm
giảm chất lƣợng nƣớc dòng ra. Bể tự hoại có thể áp dụng đối với những hộ chăn
nuôi với số lƣợng nhỏ, không có điều kiện xây hầm biogas.