Lạm phát ở Việt Nam hiện nay- Nguyên nhân và giải pháp khắc phục - Pdf 29


Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
viện kinh tế và phát triển

tổng quan
đề tài cấp bộ năm 2009
lạm phát ở Việt Nam hiện nay:
nguyên nhân và giải pháp Cơ quan chủ trì : Viện Kinh tế và Phát triển
Chủ nhiệm đề tài : TS. Nguyễn Thị Hờng
Th ký đề tài : ThS. Nguyễn Thị Miền 7964

Hà Nội 2010 MỤC LỤC


và giải pháp khắc phục 42
1.2.6. Nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý
và giải pháp khắc phục 43
1.2.7. Một số nguyên nhân khác 45
1.3. Kinh nghiệm chống lạm phát và khủng hoảng ở một số nước
trên thế giới và một số bài học cho Việt Nam 49
1.3.1. Kinh nghiệm một số nước Đông Nam Á thời kỳ
khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998 49
1.3.2. Kinh nghiệm chống lạm phát và khủng hoảng
của một số nước Mỹ La tinh 55
1.3.3. Một số bài học rút ra cho Việt Nam 60
Phần II:
Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam từ năm 2004 đến nay 65
2.1. Tổng quan về những vấn đề về lạm phát trong giai đoạn
từ 1986 – 2003 65
2.2. Diễn biến lạm phát từ 2004 và các nguyên nhân gây ra lạm phát
ở Việt Nam hiện nay 71
2.2.1. Diễn biến lạm phát của Việt Nam từ năm 2004 đến nay 71
2.2.2. Nguyên nhân lạm phát do tổng cầu tă
ng nhanh 78
2.2.3. Nguyên nhân lạm phát do tổng cung ngắn hạn giảm 82
2.2.4. Nguyên nhân lạm phát do yếu tố tiền tệ 89
2.2.5. Nguyên nhân gây ra lạm phát do mất cân đối ở một số
lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế 94
2.2.5.1. Nguyên nhân gây ra lạm phát của Việt Nam do mất
cân đối tổng cung - tổng cầu trong trung và dài hạn 94
2.2.5.2. Nguyên nhân gây ra lạm phát do mất cân đối trong thu
chi ngân sách và hiêu quả đầu từ ngân sách thấp 101
2.2.5.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát do mất cân đối trong
cán cân thương m

3.2.4. Gii phỏp an sinh xó hi 158
3.2.5. Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý và điều hành
chính sách kinh tế vĩ mô 162
3.2.6. Mt s gii phỏp khỏc 175
Kt lun 177
Danh mc ti liu tham kho 179

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với những
thành tựu quan trọng. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, Việt
Nam đã chuyển từng bước chắc chắn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng
đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế để tự tin
bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã khẳng định
mức độ tiến bộ mà chúng ta đạt được trong hơn 20 năm qua.
Đến nay, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp và đang
nỗ
lực theo đuổi mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Làm thế
nào để chúng ta có thể đạt được mục tiêu này trong hơn 10 năm nữa, khi mà
kinh tế vĩ mô của chúng ta trở nên bất ổn, sự ổn định của nền kinh tế đang trở
nên rất mong manh? Lạm phát đang đã có dấu hiệu quay trở lại từ năm 2004 và
tăng tốc từ giữa năm 2007. Thêm vào đó, tác động c
ủa cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ thế giới, khởi đầu từ Mỹ, đã làm cho nền kinh tế Việt Nam chao
đảo mạnh hơn. Từ chỗ phải trải qua tình trạng lạm phát bùng lên dữ dội và cối
năm 2007 đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một tình huống

trình nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu các công trình thuộc hướng này, chúng tôi thấy có thể chia
thành 3 nhóm như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở lý thuyết về lạm phát do nguyên nhân tiền tệ, các tác
giả đã vận dụng vào vi
ệc phân tích, đánh giá nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam
và đồng thời, gợi ý hướng khắc phục.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình sau:
- Phan Sỹ An và Trần Thị Kim Chi, (2008), Lạm phát Việt Nam: Nguyên
nhân và đề xuất chính sách, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 359 tháng 4/2008.
- Nguyễn Cao Đức, (2006), Các nhân tố quyết định lạm phát của Việt Nam
dựa trên cách tiếp cận tiền tệ, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 335, tháng 6/2006.
- Charles Adams, (2008), Chính sách kinh t
ế vĩ mô hiện nay - Những
thách thức đặt ra cho Việt Nam, Tập bài giảng dùng cho lớp đào tạo chính sách
công của Ngân hàng Phát triển Châu á, tháng 6/2007.

3
- Bựi Duy Phỳ, (2007), Mi quan h gia tin t v giỏ c ca Vit Nam
qua mt s mụ hỡnh nh lng, Nghiờn cu kinh t, s 347 - 4/2008.
- Nguyn i Lai, (2008), Nhn din, bỡnh lun v xut quan im
chớnh sỏch v n nh th trng ti chớnh Vit Nam sau mt nm gia nhp
WTO, Tp chớ Phỏt trin kinh t s 360, thỏng 5/2008.
Th hai, cỏc tỏc gi trc tip bn v cỏc gii phỏp ct gim lm phỏt

Vit Nam hin nay bng cỏc cụng c chớnh sỏch ti chớnh - tin t.
Cỏc cụng trỡnh thuc nhúm ny cú rt nhiu. Tiờu biu trong s ú cú mt
s cụng trỡnh in hỡnh:
- Lờ Hựng, (2006), Gii phỏp hon thin v phỏt trin nghip v th
trng m, Nghiờn cu kinh t s 340 thỏng 9/2006.

ệt Nam, Tạp chí Ngân
hàng số 1 + 2/2006.
- Phí Trọng Hiển (2005), Lạm phát mục tiêu: Kinh nghiệm thế giới và giải
pháp cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế tháng 4/2006.
2.2. Hướng nghiên cứu lạm phát của Việt Nam trong mối quan hệ với
tăng trưởng kinh tế
Đi theo hướng này, các tác giả đã vận dụng các lý thuyết kinh tế vĩ mô về
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát (Lý thuyết cổ điể
n, Lý thuyết
Keynes, Lý thuyết hậu Keynes ) để phân tích một số trường hợp ở các nước
châu Á.
Các công trình tiêu biểu cho nhóm này có thể kể đến là:
- Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng, (2008), Quan hệ giữa tăng trưởng
và lạm phát: lý thuyết và kinh nghiệm các nước đang phát triển châu Á, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế số 359 - tháng 4/2008.
- Nguyễn Thị Hường, (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc
làm. Một s
ố vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Kỷ yếu đề tài cấp cơ sở -
Viện Kinh tế và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh năm 2007.
- Lê Quốc Lý, (2006), Đi tìm lời giải cho bài toán: Tăng trưởng kinh tế
cao và lạm phát thấp trong năm 2005, Tạp chí Kinh tế và phát triển 3/2006.
- Nguyễn Quang Thái, (2007), Tăng trưởng nóng: nhận dạng, nguy cơ và
giải pháp (ý tưởng ban đầu), Nghiên cứu kinh t
ế số 347 tháng 4/2007.

5
2.3. Hướng nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân và
từ đó đề xuất các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay
Các tác giả đi theo hướng nghiên cứu này không chỉ nghiên cứu nguyên

tài chính - tiền tệ - giá cả góp phần khắc phục lạm phát cao, đảm bảo phát triển
kinh tế bền vững, Tạp chí Ngân hàng số 7 tháng 4/2008.
- Nguyễn Ngọc Tuyến, (2008), Bình ổn giá nhìn từ các quan hệ kinh tế vĩ
mô, Tạp chí Tài chính tháng 3/2008.
- Nguyễn Thanh Bình, (2008), Lạm phát, thâm hụt thương mại và giải
pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, Tạp chí Ngân hàng số 13 tháng 7/2008.
- Trọ
ng Hồ, (2008), Chống lạm phát bằng tổ chức lại khâu lưu thông hàng
hóa, Tạp chí Thương mại số 20/2008.
- Nguyễn Đắc Hưng, (2008), Phân tích đúng các nguyên nhân gây ra lạm
phát
để phối hợp đồng bộ các giải pháp kiềm chế, Tạp chí Ngân hàng số 15
tháng 8/2008.
- Gi¸ ®ì kiÒm chÕ l¹m ph¸t, Thêi B¸o Ng©n Hµng ngµy 13/3/ 2010
Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về lạm phát ở Việt Nam, nhưng các nghiên cứu còn hết sức tản mạn, chưa có
công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách đầy đủ, toàn diện. Hiện còn
thiếu những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc nguyên nhân
gây ra lạm phát và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam, bảo đảm cho nền kinh
tế tăng trưởng cao và ổn định cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn và hy vọng đóng góp một
phần nhỏ vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát ở
Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài có ba mục tiêu chính sau đây:
- Phân tích và làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên nhân gây
ra lạm phát cũ
ng như cách khắc phục.
- Phân tích, đánh giá các nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam hiện nay.


Thứ nhất, lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền
kinh tế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát là yếu tố tiền tệ. Đây là khái
niệm lạm phát do các nhà kinh tế học trường phái cổ đ
iển và tân cổ điển đưa ra.
Đại diện tiêu biểu của nhóm này là nhà kinh tế học Milton Friedman.
Thứ hai, lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế và nguyên
nhân của lạm phát không chỉ do yếu tố tiền tệ mà còn bao gồm cả những nguyên
nhân khác như sự biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào quan trọng như giá
năng lượng, vật liệu. Khái niệm này là củ
a các nhà kinh tế học hiện đại - đại
diện tiêu biểu là nhà kinh tế học Paul. A. Samuelson. Với khái niệm này, Paul.
A. Samuelson không đề cập trực tiếp đến sự tăng lên liên tục của mức giá chung
như các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ. Tuy nhiên, khi nói đến lạm phát ông
cũng đã đặt nó trong mối quan hệ so sánh các chỉ số giá quá các thời kỳ, các
năm khác nhau. Do đó, không thể đi đến kết luận rằng quan niệ
m của
Samuelson là mức giá cả chỉ tăng lên một lần đã được coi là lạm phát như một
số tác giả Việt Nam đã từng phê phán.
Thứ ba, lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung hay sự giảm
giá liên tục sức mua của đồng tiền. Đây là khái niệm hiện nay của hầu hết các
tác giả trong và ngoài nước.
Khái niệm lạm phát thứ ba sẽ được sử
dụng trong toàn bộ nghiên cứu của
đề tài. Bởi lẽ, nó đề cập đầy đủ bản chất của lạm phát. Lạm phát không phải là

9
hiện tượng giá cả của một vài hàng hóa hay vài nhóm hàng hóa nào đó tăng lên
mà là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế. Khi mức giá chung tăng
lên mọi người phải trả nhiều tiền hơn cho giỏ hàng hóa và dịch vụ mà họ mua.
Hơn nữa, có thể coi mức giá là thước đo giá trị của đồng tiền. Sự gia tăng của


10
- Phương pháp đo lường các chỉ số lạm phát
Ở hầu hết các quốc gia và Việt Nam (từ năm 1998 đến nay) thường sử
dụng 3 chỉ số quan trọng nhất đó là CPI, D và П để đo lường lạm phát.
a. Cách tính hệ số điều chỉnh GDP – D
Chỉ số điều chỉnh GDP là tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế
GDP danh ngh
D%
GDP th
=∗
Üa
100
ùc tÕ

GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hiện tại tính theo giá hiện hành
GDP thực là giá trị sản lượng tính theo giá của năm gốc. Vì vậy, D có thể
được hiểu như là mức giá của tất cả các thành phần của GDP bao gồm của tiêu
dùng đầu tư (I), mua sắm chính (G) và hàng hóa xuất khẩu.
b. Chỉ số tiêu dùng CPI
CPI là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường lạm phát. CPI đo
lườ
ng chi phí mua một giỏ hàng hóa điển hình của người tiêu dùng. Để tính CPI
người ta tiến hành như sau:
- Bước 1: Chọn một giỏ hàng hóa điển hình đối với người tiêu dùng và
gắn quyền số cho chúng theo mức độ quan trọng của nó trong ngân sách tiêu
dùng đối với mặt hàng đó. Chẳng hạn, để tính chỉ số giá tiêu dùng ở Hoa Kỳ
người ta chọn 364 hàng hóa và dịch vụ riêng biệt được thu thập từ 21.000 cơ sở
trong 91 vùng c
ả nước

tăng thêm 82, từ 490 – 572 mặt hàng. Quyền số của các nhóm hàng để tính CPI
ở Việt Nam cũng thay đổi dựa trên kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê.
Chẳng hạn, quyền số của nhóm lương thực, thực phẩm giảm khoảng 12,98% từ
mức 60,86% tháng 5/1997 xuống còn 47,90% năm 1999 và tiếp tục giảm còn
42,7% năm 2005.
- Bước 2: Chọn thời điểm chỉ số
giá 100% sau đó tính chỉ số giá tiêu dùng
cho thời điểm tính toán. Ví dụ, giả sử ở Hoa Kỳ với các thông số đã chọn như trên
nếu chọn năm 1995 làm năm gốc thì chỉ số giá năm đó là 100%, có nghĩa là:
CPI
1995
= 100 = [(0,20 x 100) + (0,50 x 100) + (0,30 x 100)]
Năm 1996 giá thực phẩm tăng thêm 2% đạt 102%; giá nhà cửa tăng 6%
đạt 106%; giá dịch vụ y tế tăng 10% đạt 110%:
CPI
1996
= 0,20 x 102 + 0,50 x 106 + 0,30 x 110 = 106,4
Nói cách khác, nếu lấy năm 1995 làm gốc (CPI = 100) thì CPI của Hoa
Kỳ năm 1996 là 106,4.
Chỉ số CPI ở Việt Nam từ 1998-2007 được tính cho hàng tháng so với
các gốc so sánh: Cùng tháng năm trước, tháng 12 năm trước, tháng trước. Từ
9/2007 ngoài các gốc trên Tổng cục Thống kê còn tính CPI bình quân từ đầu

12
năm đến kỳ báo cáo so với cùng kỳ năm trước. Do đó, có sự khác nhau giữa các
chỉ số lạm phát theo các cách tính ở trên. Chẳng hạn, nếu tính CPI theo phương
pháp so sánh với tháng trước đó sau đó cộng dồn chỉ số lạm phát của các tháng
để tính lạm phát của cả năm thì năm 2007 chỉ số CPI của Việt Nam là 12,63%
trong khi tính theo phương pháp bình quân thì chỉ số đó chỉ là 8.13%.
Cách tính thứ nhất có ưu đi

nghiên cứu kinh tế Việt Nam mà tiêu biểu là PGS,TS Vũ Ngọc Nhung đã lên
tiếng phản đối Ngân hàng nhà nước Việt Nam vì họ cho rằng lạm phát ở Việt
Nam là lạm phát giá cả chứ không phải do yếu tố tiền tệ gây ra nên không th

dùng công cụ tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Ông cho rằng, với hành động đó giải
pháp chống lạm phát vừa không đúng vừa làm giảm động lực tăng trưởng kinh
tế và cần phải loại bỏ lạm phát giá cả ra khỏi chỉ số lạm phát.
Trên thực tế, giá trị đo bằng tiền của hàng hóa thay đổi có thể do hai
nguyên nhân chủ yếu, một là, do lượng ti
ền tăng nhanh hơn so với mức tăng của
cung hàng hóa thì sẽ gây ra lạm phát tiền tệ; hai là, lượng cung hàng hóa giảm
sút do các yếu tố khác nhau như thiên tai, độc quyền… gây ra lạm phát giá cả.
Do đó, không thể loại bỏ lạm phát giá cả khi đo lường chỉ số lạm phát.
Tuy nhiên, để làm cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ một số
nước đã loại bỏ
ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI các mặt hàng như lương thực, thực
phẩm, năng lượng (là những mặt hàng có giá cả biến động do thiên tai, độc
quyền mang tính chất tạm thời). Khi đó, chỉ số lạm phát được gọi là chỉ số lạm
phát cơ bản (core inflation). Bởi vì, họ cho rằng dùng công cụ tiền tệ, chẳng hạn
như nâng lãi suất không thể làm cho giá xăng thế giới giảm xuống. Nhiều nghiên
cứu của các nhà kinh tế cho thấy rằng, các nước có cách tính lạm phát không
hoàn toàn giống nhau, không phải nước nào cũng loại nhiều hàng hóa nói trên ra
khỏi rỏ hàng hóa khi tính CPI.
Đối với Việt Nam không thể và không cần thiết phải loại bỏ những mặt
hàng lương thực, thực phẩm, năng lượng ra khỏi rổ hàng hóa để tính CPI bởi hai
lý do, một là, các mặt hàng lương thực, thực phẩm còn chiếm một tỷ trọng rất
lớn trong cơ cấu tiêu dùng của người dân nước ta; hai là, sự biến động của
những mặt hàng trên trong điều kiện hiện nay không chỉ mang tính chất tạm thời
mà đã trở thành xu hướng dài hạn do các nguồn cung ngày càng hạn chế (giới
hạn bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên). Nhưng, điều đáng lưu ý ở đây là, các


Trong đó:
t
: tỷ lệ lạm phát
P
t
, P
t-1
: chỉ số giá của thời kỳ t và t-1
Với ví dụ ở trên tỷ lệ lạm phát của Hoa Kỳ năm 1996 là:
,
%,%
106 4 100
100 6 4
100

Π= ∗ =

* Phân loại lạm phát
Có rất nhiều cách phân loại lạm phát và trong mỗi cách lại có nhiều cách
phân chia khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Sau đây là một số cách phân
loại cơ bản:
- Căn cứ vào mức độ (tỷ lệ) lạm phát chia thành 3 cấp độ cơ bản:
• Lạm phát vừa phải: đặc trưng của cấp độ này là giá cả tăng chậm và có
thể dự đoán được, tỷ lệ l
ạm phát hàng năm một chữ số (< 10%/năm).
• Lạm phát phi mã: tỷ lệ lạm phát hai chữ số hoặc và > 50%/năm).
• Siêu lạm phát: Lạm phát từ ba chữ số trở lên/năm. Lạm phát đã từng xảy
ra của Đức sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ lạm phát lên đến trên 10 chữ
số (năm 1924 là 10.000.000.000); Việt Nam năm 1986 (774,76%/năm) .

tăng trưởng và sả
n lượng của nền kinh tế.
Khi lạm phát tăng và không được kiểm soát, giá đầu vào sản xuất và giá
đầu ra của các sản phẩm biến động thường xuyên tạo ra môi trường kinh doanh
không ổn định. Điều đó sẽ dẫn đến đầu tư của doanh nghiệp giảm sút. Đầu tư
giảm làm giảm thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp, đến lượt nó sẽ làm giảm
đầu tư trong chu kỳ
tiếp theo Hiệu ứng dây chuyền đó sẽ làm giảm tốc độ tăng
trưởng và sản lượng của nền kinh tế.

16
Môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, đầu tư nước ngoài vào trong
nước sẽ giảm mạnh và điều này thêm một nguyên nhân làm giảm GDP và đây là
một tác động rất đáng kể đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Khi lạm phát cao, giá cả bị bóp méo dẫn đến phân bổ nguồn lực không
hiệu quả. Bởi vì, lạm phát cao làm biến dạng giá cả tương đối và quyết
định của
khách hàng, khi đó, thị trường ít có khả năng phân bổ nguồn lực một cách hợp
lý, dẫn đến lãng phí các nguồn lực phát triển.
Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, làm tăng thêm chi phí của doanh nghiệp
do lãi suất tăng và do doanh nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh thực đơn…
góp thêm một nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp,
giảm sản lượng, thu nhập của nền kinh tế.
Th
ứ hai, lạm phát cao gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Khi đầu tư giảm sút do lạm phát gây ra như đã phân tích ở trên doanh
nghiệp sẽ phải sa thải công nhân, làm cho tình trạng thất nghiệp tăng lên, thu
nhập của người lao động bị giảm sút. Đồng thời, lạm phát cao còn làm giảm lợi
tức và tăng thêm chi phí cho người gửi tiết kiệm.
Lạm phát bất ngờ tăng cao, gây mất công bằng xã hội, người cho vay bị

này có thể dẫn đến mất ổn định không chỉ kinh tế mà cả chính trị - xã hội. Điển
hình là trường hợp của Inđônêxia vào những năm cuối của thập kỷ 90 thế kỷ
XX. Đồng tiền càng mất giá, gánh nặng nợ nước ngoài càng tăng càng làm trầm
trọng thêm cán cân đối nội và đối ngoại dẫn đến mất ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhiều doanh nghiệp có thể
bị phá sản, thất nghiệp tăng cao, tệ nạn xã hội sẽ tăng
lên, càng làm sâu sắc hơn những bất ổn định chính trị - xã hội. Do vậy, nhiều
nước trong đó có Hoa Kỳ đã coi "lạm phát" là kẻ thù số 1 của nhân loại.
Hai là, tác động tích cực của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, trong những trường hợp cụ thể một sự
tăng lên của mức giá ở
một mức độ vừa phải có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế.
Từ phân tích lý thuyết các mô hình tổng cung, các nhà kinh tế đã rút ra
phương trình biểu thị mối quan hệ giữa mức giá và sản lượng:
Y =
Y
+ α (P – P
e
) (1)
Trong đó:
Y : sản lượng thực tế của nền
kinh tế ứng với mỗi mức giá.
Y
: sản lượng tiềm năng của
nền kinh tế
P
e
: mức giá dự kiến
α : hệ số co giãn của sản
lượng do sự thay đổi giữa mức giá

1
→ Y
2
.
- Kể cả khi sản lượng đã đạt được mức sản lượng tiềm năng Y, một sự
tăng lên trong mức giá từ
P → P
3
cũng có tác động kích thích sản lượng tăng từ
Y
→ Y
3
. Tuy nhiên, trong trường hợp này sự tăng lên của sản lượng chỉ đạt
được trong ngắn hạn, khi giá tăng lên trong một thời gian nhất định nền kinh tế
sẽ điều chỉnh về mức sản lượng tiềm năng.
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu định lượng của một số tác giả về mối quan
hệ giữa tăng trưởng và lạm phát cũng cho thấy r
ằng, trong những năm tỷ lệ lạm
phát ở mức vừa phải (1996-1997 và 2003-2004) tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt
được ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao xấp xỉ 2 lần so với tỷ lệ lạm phát
1
.
Thứ hai, ở những trạng thái nhất định của nền kinh tế có sự đánh đổi trong
ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp, có nghĩa là một sự tăng lên trong mức giá
có tác động làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn.
Từ phương trình trong mô hình tổng cung (1) có thể rút ra phương trình
biểu thị mối quan hệ giữa lạm phát và thấ
t nghiệp như sau:
П = П
e

. 1
Nguyễn Văn Công (2005), Tạp chí kinh tế phát triển số 3/2005 và Bùi Duy Phú (2007), Tạp chí Ngân hàng số
12/2007.
U
1
U
n
U
2
П
2
П
П
1
П
U

A
B
A
Biểu đồ 1.2. Quan hệ giữa lạm phát
và thất nghiệp trong ngắn hạn

19
Tuy nhiên, sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ trong ngắn hạn,
khi tỷ lệ lạm phát còn ở mức thấp.
Khi lạm phát lên cao đến một ngưỡng nhất định thì tác động của lạm phát
1
Nguyễn Thị Hường (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
ở Việt Nam, Tổng quan đề tài cấp cơ sở, Viện Kinh tế phát triển, Học viện CT-HCQG HỒ CHÍ MINH, tr.66.

20
- Do tổng cầu quá thấp dẫn đến giá cả thấp. Các nhà kinh tế thường gọi là
nền kinh tế rơi vào trạng thái quá lạnh.
- Do chính phủ áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá liều, chẳng hạn
như chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa quá mức.
- Do sử dụng các biện pháp ngăn ngừa lạm phát quá cứng nhắc như trực
tiếp kiểm soát giá của một số mặt hàng.
Tác động c
ủa thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội có thể sẽ hết
sức nghiêm trọng nếu không có những biện pháp kịp thời để khắc phục.
Thông thường tác động tiêu cực của thiểu phát đối với kinh tế - xã hội
được biểu hiện qua những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, thiểu phát làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nề
n
kinh tế.
Khi có thiểu phát, lãi suất thực cao, làm tăng chi phí vay vốn. Vì vậy, các
nhà đầu tư phải dè dặt đi vay vốn để mở rộng sản xuất và đầu tư mới. Lạm phát
thấp (đặc biệt là thiểu phát) làm cho tiền lương thực tế cao, người lao động có
thể cắt giảm thời gian làm việc để tăng thời gian nghỉ ngơi. Hơn thế nữa, khi có
thiểu phát lưu thông hàng hóa s
ẽ bị ngừng trệ, hàng tồn kho tăng lên, buộc các
doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng. Tất cả những tác động nói trên của thiểu
phát sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế.
Các nhà kinh tế đã đo lường mức thiệt hại đối với sản lượng nền kinh tế

lạm phát.
M
ột là, thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng. Đó là giảm lãi
suất, tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế để kích thích tổng cầu (đầu tư, tiêu
dùng địa phương và hộ gia đình, mở rộng xuất khẩu. Đây là giải pháp mà nhiều
nước đang sử dụng, nhất là Nhật bản đã thực hiện trong nhiều năm nay. Nhưng
mức độ thành công cũng hết sức khác nhau (ch
ẳng hạn như Nhật Bản được xem
là kém thành công) trong chính sách chống thiểu phát.
Hai là, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế để chuyển các lĩnh vực có năng
lực dư thừa sang các lĩnh vực khác, nhất là các lĩnh vực mới có nhiều tiềm năng
phát triển.
Về lý thuyết, các giải pháp chống thiểu phát không quá khó, nhưng phức
tạp, bởi vì rất dễ xẩy ra nguy cơ của sự "
đổi chiều" giảm phát thành lạm phát.
Kinh nghiệm về chống thiểu phát chưa nhiều vì trên thực tế hiện tượng
thiểu phát xẩy ra chưa phổ biến, nhất là đối với các nước đang phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status