Tăng cường công tác quản lý thu nợ thuế tại cục thuế tỉnh Bình Phước - Pdf 29

- 1 -
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, việc quản lý đôn đốc thu nợ
và cưỡng chế nợ thuế là nhiệm vụ hết sức quan trọng và nan giải. Ngành thuế không
những chỉ tuyên truyền, giải thích, đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế
của mình, mà hơn nữa phải áp dụng cương quyết các biện pháp chế tài để đảm bảo
sự công bằng trong việc thực thi nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Ngày nay chính sách thuế của nước ta đã và đang được chỉnh lý, bổ sung và
hoàn thiện cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. Ngành thuế đang đặt
ra mục tiêu là cải tiến toàn bộ quy trình quản lý thu nợ thuế để áp dụng đối với các
loại thuế, tiến dần tới việc áp dụng phương pháp quản lý thu nợ thuế hiện đại. Một
trong những nhiệm vụ được nêu là phấn đấu quản lý 100% số đối tượng sản xuất
kinh doanh trên địa bàn và chấm dứt tình trạng thất thu về đối tượng nộp thuế. Mục
tiêu này tưởng chừng như đơn giản thông qua việc cấp mã số thuế, nhưng thực tế có
những vướng mắc nhất định.
Trong tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay, số lượng các doanh nghiệp nợ
đọng tiền thuế tăng, dẫn đến khó khăn cho cơ quan thuế trong việc đôn đốc doanh
nghiệp thanh toán nợ thuế. Từ phía doanh nghiệp, sự căng thẳng về đồng vốn, tiêu
thụ hàng… khiến việc hợp tác và hoàn thành nghĩa vụ thuế đang là bài toán khó và
dẫn đến không ít doanh nghiệp còn nợ đọng thuế. Điều đáng lo ngại là một số doanh
nghiệp để nợ thuế kéo dài trong suốt nhiều năm qua, có những doanh nghiệp số nợ
thuế rất lớn. Mặc dù cơ quan thuế đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở, song các doanh
nghiệp này vẫn cố tình chây ỳ, không dứt điểm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế,
tập trung lớn vào một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh…
Xuất pháp từ vấn đề trên, là người tham gia quản lý lĩnh vực này cuả Cục
Thuế tỉnh Bình Phước, tôi lựa chọn đề tài “Tăng cƣờng công tác quản lý thu nợ
thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phƣớc” làm luận văn thạc sỹ Quản trị Kinh doanh –
chuyên ngành : Quản trị Tài chính.
- 2 -

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Qua phân tích những tồn tại của công tác quản lý thu nợ thuế, những việc làm
được và chưa làm được; luận văn đưa ra những gợi ý quản lý nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác quản lý thu nợ thuế giúp cho Cục Thuế tỉnh Bình Phước có cái
nhìn sâu sắc hơn về tình hình nợ đọng của cơ quan mình, từ đó đưa ra những quyết
định hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh nhà.

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương như sau :
Chương 1 : Tổng quan về thuế, nợ thuế và quản lý thu nợ thuế
Chương 2 : Tình hình quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phước từ
năm 2009-2012.
Chương 3 : Tăng cường công tác quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình
Phước. - 4 -

Nhà nước.
• Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà
các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp
luật.
- 5 -
• Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát
của các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước
nhằm đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế
là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà
không
đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm này mà người
nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài sản cá
nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công cộng từ
Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác định
những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế.
Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là
khoản đóng góp bắt buộc, trích từ một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân cho
Nhà nước theo quy định của pháp luật để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức
năng của Nhà nước
3
.
* Bản chất của thuế :
Thu thuế thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân. Xét về bản
chất là quan hệ tái phân phối thu nhập. Thu nhập từ các tổ chức và cá nhân, chuyển
thành thu nhập của Nhà nước, góp phần tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước.
Quá trình phân phối của Nhà nước qua công cụ thuế nhằm tạo lập quỹ ngân sách
Nhà nước, suy cho cùng là quá trình Nhà nước tái phân phối tổng sản phẩm quốc nội.
Như vậy có thể khái quát về bản chất của thuế như sau : thuế thể hiện quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước và các tổ chức và cá nhân trong xã hội phát sinh trong quá trình Nhà

nguồn tích lũy cho nhu cầu phát triển đất nước. Nhà nước ban hành các chính sách
thuế, Luật thuế để động viên một phần thu nhập xã hội vào Ngân sách Nhà nước và
phân phối lại giá trị mà nền kinh tế đã tạo ra một cách hợp lý. Nguồn thu thuế có
được từ thu nhập quốc dân, vì vậy khả năng động viên thuế vào Ngân sách phụ
thuộc vào hoạt động sản xuất trong nền sản xuất có hiệu quả hay không. Vì vậy
chính sách thuế, Luật thuế phải cho phép vừa khai thác nguồn thu có hiệu quả, vừa
tích cực bồi dưỡng nguồn thu, khích thích phát triển sản xuất và là công cụ để phân
phối và điều tiết lợi tức quốc dân.
Nền kinh tế nước ta hiện nay, đang từng bước phát triển và ổn định, tiến tới
hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới. Thuế phải được xem là nguồn
thu chủ yếu, nguồn tài chính quan trọng nhất của Ngân sách Nhà nước để góp phần
tích cực vào yêu cầu giảm bội chi Ngân sách, từng bước có tích lũy và ổn định phát
triển
3
. - 7 -
1.1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
3

Để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ thuế nhằm tạo điều
kiện và môi trường tăng trưởng thích hợp, tạo sự cân đối giữa các vùng lãnh thổ,
các ngành, các lĩnh vực trong sản xuất. Tùy hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của
từng giai đoạn phát triển, từng thời kỳ mà Nhà nước có những chính sách thuế khác
nhau để phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế, nhằm phát huy nội lực thúc
đẩy kinh tế phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong tình hình kinh tế hiện nay ở nước ta, với cơ chế nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần thì sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước phải phù hợp với nhu cầu
khách quan chứ không phải là sự can thiệp tùy tiện bằng mệnh lệnh hành chính.

năng sáng tạo trong lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và có
thu nhập cao chính đáng. Công bằng và bình đẳng xã hội về thuế, trước hết phải
xuất phát từ chính sách hợp lý, từ nhận thức đầy đủ và xác định đúng đắn quyền lợi,
nghĩa vụ của mỗi công dân, mỗi tổ chức kinh tế đối với Nhà nước – là người đại
diện cho quyền lực và lợi ích của toàn xã hội, của dân, do dân, vì dân. Công bằng và
bình đẳng xã hội về thuế cũng không chỉ là lý thuyết chung chung mà phải được thể
hiện bằng những chính sách, những chế độ cụ thể, được thể chế hóa bằng các văn
bản pháp quy rõ ràng.
1.1.3. Phân loại thuế
4

1.1.3.1. Theo đối tượng của thuế. Phân loại thuế theo tính chất của đối tượng tính
thuế, có thể phân loại hệ thống thuế thành các nhóm sau :
+ Thuế thu đối với thu nhập như : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhân.
+ Thuế thu đối với hàng hoá dịch vụ như: thuế doanh thu, thuế hàng hoá, dịch
vụ, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu – thuế nhập khẩu,
thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu dùng.
+ Thuế thu đối với tài sản như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng
đất nông nghiệp, thuế bất động sản, thuế động sản, thuế tài nguyên, thuế di sản, thuế
quà tặng.
- 9 -
Cách phân loại này cho thấy phạm vi chi phối của thuế. Qua đó, có thể xây
dựng chính sách thuế bao quát các nguồn thu có thể động viên cho ngân sách Nhà
nước.
1.1.3.2. Theo phương thức huy động của thuế
4

Đây là cách thức phân loại mang tính chất truyền thống và cổ điển. Tiêu thức
phân loại này thuế được chia thành thuế trực thu và thuế gián thu.

Thuế luỹ thoái nhằm mục tiêu tập trung số thuế cho ngân sách nhà nước, do đó
chưa thật sự công bằng trong điều tiết thu nhập của đối tượng chịu thuế.
1.1.4. Khái niệm nợ thuế
Nợ thuế là một phạm trù tất yếu khách quan tồn tại cùng với sự tồn tại của
thuế, khi còn thuế thì vẫn còn nợ thuế. Xét ở góc độ hành vi thì nợ thuế là hành vi
của người nộp thuế chưa nộp kịp thời số tiền phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho
Nhà nước theo quy định của pháp luật. Về phía cơ quan thuế, đây là số tiền phải thu
của người nộp thuế theo quy định của pháp luật được Nhà nước giao trách nhiệm
thu nhưng chưa thu được.
1.1.5. Phân loại nợ thuế
5

Việc phân loại tiền thuế nợ được quy định rất cụ thể trong Quyết định
số 1123/QĐ-TCT và trong quyết định 1395/QĐ-TCT và nhiều văn bản khác…
Trong đó phân loại chi tiết về nợ khó thu, nợ chờ xử lý và nợ có khả năng thu. Tóm
tắt các loại nợ như sau:
* Nợ khó thu gồm: Nợ của người nộp thuế lâm vào giải thể, phá sản; Nợ của
người nộp thuế bỏ trốn mất tích; Nợ của người nộp thuế bị khởi tố; Nợ của người
nộp thuế ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh; Nợ của người nộp thuế chờ giải
quyết theo luật phá sản
* Nợ chờ xử lý gồm: Nợ của người nộp thuế đang chờ xử lý điều chỉnh; Nợ
chờ điều chỉnh do có khiếu nại; Nợ của NNT chờ xoá, miễn giảm; Nợ của NNT
được gia hạn khoanh nợ, giãn nợ; Nợ của NNT xử lý hoàn thuế thoái trả tiền thuế;
Nợ chờ xử lý khác.
- 11 -
* Nợ không có khả năng thu gồm: Nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày; Nợ thuế
chậm nộp từ 30 đến 90 ngày; Nợ thuế quá 90 ngày.
1.1.6. Nguyên nhân của việc nợ thuế
6


Chẳng hạn như, với lãi suất vay vốn trong thời gian gần đây có khi lên tới
26%/năm thì chi phí lãi vay sau thuế của khoản vay này là 19,5%/năm. Trong khi
đó, phạt nộp chậm thuế chỉ là 18%/năm. Thời gian gần đây lãi suất vay vốn đã giảm
xuống còn 12-14%/năm, nhưng để DN tiếp cận với nguồn vốn vay này không dễ.
Thêm vào đó, ngay cả khi lãi suất vay vốn và tỷ lệ phạt nộp chậm thuế tương đồng
nhau thì không ít DN vẫn sẵn sàng nộp phạt nộp chậm thuế vì để vay được vốn đòi
hỏi những điều kiện rất chặt chẽ, thêm vào đó chi phí thực sự để vay vốn không chỉ
nằm ở lãi suất ghi trong hợp đồng vay vốn mà còn phát sinh một số khoản chi khác
để có thể vay được vốn.
- Hiện chưa có chính sách cho phép DN gặp khó khăn đặc biệt trong sản xuất,
kinh doanh được gia hạn nộp thuế và cam kết nộp thuế trên cơ sở phương án sản
xuất, kinh doanh khả thi.
- Khuôn khổ pháp lý về cưỡng chế nợ thuế chưa hoàn thiện và chưa hợp lý.
Hiện Luật Quản lý thuế quy định còn khá cứng nhắc về nguyên tắc thực hiện các
biện pháp cưỡng chế nợ thuế. Theo đó, chỉ khi không thực hiện được biện pháp
cưỡng chế quy định trước thì mới được thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế tiếp
theo. Tuy nhiên, những biện pháp khả thi nhất thì lại là biện pháp phải thực hiện
sau.
- Một số nội dung trong quy trình quản lý nợ chưa hợp lý, đặc biệt là quy định
về phân loại nợ thuế. Hiện tại quy trình này mới chỉ hướng dẫn phân loại nợ thuế
theo khả năng thu với 3 nhóm là nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ chờ xử lý.
Trong khi đó, nhiều tiêu chí khác cần thiết sử dụng để phân loại nợ hiện chưa được
quy định trong quy trình quản lý nợ thuế.
- Kỷ luật công tác của nhiều cơ quan thuế chưa nghiêm, số nợ thuế chuyển từ
năm trước sang do có hiện tượng một vài cơ quan thuế khi đã hoàn thành chỉ tiêu dự
toán nên đã thực hiện chuyển số đối tượng nộp thuế phải nộp sang năm sau gây nên
tình trạng số nợ đọng ít đi, báo cáo không trung thực số nợ thuế, giấu giếm khuyết
điểm, yếu kém trong quản lý đôn đốc nộp thuế.

- 13 -

hoặc chưa nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước.
- 14 -
- ―Khoản nợ‖:Là số tiền thuếcòn nợ được xác định theo từng lần phát sinh.
- ―Thời điểm bắt đầu nợ thuế‖: Là ngày đầu tiên kể từ sau ngày hết hạn nộp
thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
- ―Thời điểm kết thúc tính nợ‖: Là ngày đầu tiên kể từ sau ngày khoản nợ đã
được đối tượng nộp thuế tự nguyện nộp đầy đủ vào NSNN; hoặc đã được xoá
nợ theo chính sách của Nhà nước; hoặc được miễn nộp theo quy định; hoặc đã được
xử lý bằng hình thức kê biên tài sản để bán đấu giá; hoặc đã được thu hồi theo lệnh
thu Ngân sách.
- ―Tuổi nợ‖: Là khoảng thời gian một khoản thuế nợ chưa được nộp hoặc chưa
nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước tính từ thời điểm tính nợ thuế đến thời điểm khoản
nợ đó được xác định tuổi. (Tuổi nợ được tính theo ngày bao gồm cả ngày nghỉ theo
quy định của Bộ Luật lao động).
- ―Mức nợ‖: Là số tiền thuế còn nợ tính bằng đồng Việt Nam.
- ―Tiền phạt nộp chậm thuế‖: Là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế
nợ trong thời gian kể từ thời điểm nợ đến ngày số tiền thuế nợ đó được nộp vào
NSNN (Bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định tại Bộ luật Lao động).
- ―Khả năng thanh toán nợ thuế‖: Là khả năng nộp các khoản nợ thuế trong
hiện tại và tương lai của đối tượng nộp thuế đang nợ thuế.
1.2.1.2. Mục đích của việc ban hành quy trình quản lý thu nợ
- Đảm bảo thi hành tốt các Luật thuế, Pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn
về thuế.
- Nâng cao năng lực quản lý có hiệu quả của cơ quan thuế theo pháp luật thuế
và cải cách hành chính thuế.
- Nâng cao tính tuân thủ của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nộp
đúng, nộp đủ, nộp kịp thời các khoản thu theo chế độ quy định vào Ngân sách Nhà
nước.
- Quy định những bước công việc, thời gian thực hiện và mối quan hệ giữa các
bộ phận tại cơ quan thuế các cấp trong công tác quản lý thu nợ thuế.
Sơ đồ 1.1 : trình tự các giai đoạn thu nợ thông thƣờng

Thông báo lần 1
Biện pháp nhắc
nhở
Thông báo lần 2
Biện pháp thu
nợ
Biện pháp thu
nợ
Trích tài khoản tiền
gửi
Ngừng bán, đình chỉ
sử dụng hoá đơn
Ngừng các thủ tục xuất
nhập khẩu hàng hoá

Thông báo cho thông
tin đại chúng

Kê biên tài sản

Chuyển hồ sơ cho các
cơ quan pháp luật

- 16 -
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu nợ
 Nhân tố khách quan

- Thuế thu nhập doanh nghiệp : Sẽ hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất,
giảm diện miễn giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành
phần kinh tế để đảm bảo khuyến khích đầu tư và bảo đảm bình đẳng trong cạnh
tranh.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt : Hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt, điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cho phù hợp với mục
tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu thụ. Tiến tới xoá bỏ miễn, giảm thuế tiêu
thụ đặc biệt để đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế và nguyên tắc
không phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu.
- Thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên : Hoàn thiện theo hướng mở rộng đối
tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế.
- Thuế bảo vệ môi trường : Sẽ hoàn thiện Luật thuế bảo vệ môi trường theo
hướng đối tượng chịu thuế là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm môi
trường; căn cứ tính thuế được xác định phù hợp với từng loại hàng hóa, dịch vụ gây
ô nhiễm môi trường. Nguồn thu này chỉ dùng riêng cho mục đích bảo vệ môi
trường, sẽ không sử dụng cho mục đích khác.
- Thuế tài sản : Đến 2015 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật thuế tài sản theo
hướng mở rộng đối tượng tài sản chịu thuế để đảm bảo công bằng giữa các tổ chức,
cá nhân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
- Phí, lệ phí : được sắp xếp theo hướng tiếp tục rà soát, bãi bỏ hoặc sửa đổi các
loại phí, lệ phí không hợp lý gây cản trở sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống. Các
loại phí thu do cung cấp dịch vụ công sẽ chuyển dần sang giá dịch vụ, các loại phí
mang tính chất thuế chuyển thành thuế, thống nhất mức thu phí và lệ phí đối với các
tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện công bằng
xã hội.
- Thuế thu nhập cá nhân : Mở rộng đối tượng nộp thuế, thu hẹp sự khác biệt
giữa đối tượng nộp thuế là người Việt Nam với người nước ngoài.
- 18 -
 Nhân tố chủ quan
Chính sách, pháp luật của Nhà nước với vai trò là công cụ quản lý, giúp cho

 Đối với các cơ quan có liên quan : Sự phối hợp giữa các cơ quan với nhau
còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ; một số cán bộ thuế còn thiếu phẩm chất đạo đức và
nghiệp vụ yếu kém dẫn đến khi thực hiện chính sách thuế.
1.2.3. Nội dung cơ bản cuả công tác quản lý thu nợ
5

 Phân công công chức quản lý nợ
Căn cứ chức năng nhiệm vụ của bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế
các cấp phụ trách bộ phận phân công công việc cho từng công chức để thực hiện
công tác quản lý nợ. Ở mỗi bộ phận quản lý nợ có bộ phận tổng hợp và bộ phận trực
tiếp quản lý người nợ thuế (do trưởng bộ phận quản lý nợ các cấp phân công). Công
chức quản lý nợ phải thường xuyên nắm tình hình nợ thuế của từng đối tượng nợ
thuế do mình phụ trách, xác định rõ nguyên nhân và tình trạng nợ để áp dụng các
biện pháp phù hợp theo quy định của pháp luật để người nợ thuế nộp số thuế còn nợ
vào Ngân sách Nhà nước.
 Lập sổ theo dõi nợ thuế
Căn cứ vào phân loại nợ thuế, công chức quản lý nợ thực hiện rà soát từng
trường hợp nợ của từng người nợ thuế còn nợ thuế tháng trước chuyển sang và nợ
mới phát sinh tháng này theo nguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các
khoản nợ. Công chức thực hiện việc phân loại phải chịu trách nhiệm về tính chính
xác của việc phân loại nợ.
- Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại nợ vào
Sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ thuế (theo mẫu 02-QTR-QLN ban hành kèm
theo quy trình này), chuyển cho bộ phận tổng hợp để tổng hợp nợ của toàn bộ phận.
- Căn cứ vào Sổ theo dõi thu nộp thuế của cơ quan thuế, công chức quản lý nợ
phải tiến hành lập và mở sổ theo dõi nợ thuế theo từng người nợ thuế để ghi chép,
phản ánh toàn bộ tình hình nợ thuế của người nợ thuế từ bộ phận kê khai và kế toán
thuế chuyển sang.
- 20 -
- Sổ theo dõi nợ thuế được lập chi tiết cho từng người nợ thuế. Công chức

- Nợ của người đã bỏ trốn, mất tích: công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh
đạo cơ quan thuế kiến nghị biện pháp thu hồi nợ thuế, biện pháp cưỡng chế thuế
hoặc các biện pháp xử lý nợ khác.
Hồ sơ nợ thuế của người nợ thuế đã bỏ trốn, mất tích cần phải có:
+ Thông báo nợ thuế của cơ quan thuế.
+ Thông báo cơ sở kinh doanh đã bỏ trốn, mất tích của cơ quan thuế quản lý
đối tượng.
+ Biên bản của bộ phận kiểm tra thuế hoặc của cơ quan quản lý nhà nước
khác, xác minh với chính quyền địa phương hoặc công an nơi cơ sở kinh doanh
đóng trụ sở làm việc, hoặc nơi người đại diện pháp luật của cơ sở kinh doanh cư trú,
về sự tồn tại hoặc không còn tồn tại của cơ sở kinh doanh hoặc của người đại diện
pháp luật cơ sở kinh doanh nơi cư trú.
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đã điều tra, xác minh
được người nộp thuế còn tồn tại, có tài sản thì cơ quan thuế lập hồ sơ tiến hành
cưỡng chế thu hồi nợ theo quy định. Nếu không tìm được người nợ thuế hoặc người
nợ thuế không có tài sản để thực hiện cưỡng chế thu nợ thì lập hồ sơ khoanh nợ,
theo dõi riêng. Sau này khi tìm được người nợ thuế hoặc nguồn tài sản thì lập hồ sơ
tiến hành cưỡng chế thu hồi nợ hoặc xử lý nợ theo quy định.
- Nợ của người nợ thuế đang bị khởi tố hoặc đang chấp hành án phạt tù: Công
chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế tình trạng nợ thuế của người
nợ thuế, đồng thời gửi các cơ quan chức năng liên quan để thông báo về tình trạng
nợ thuế để được xử lý khi có kết luận của cơ quan pháp luật hoặc theo bản án của
Toà án. Công chức quản lý nợ lập hồ sơ khoanh nợ, theo dõi riêng. Khi có kết luận
của cơ quan điều tra, quyết định của Toà án thì thực hiện thủ tục thu hồi nợ thuế
hoặc lập hồ sơ xoá nợ.
- Nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh: Sau khi đã
làm đầy đủ các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không thu
- 22 -
hồi được nợ và xác định các khoản nợ đó không có khả năng thu hồi thì làm hồ sơ
đề nghị xoá nợ.

hoàn thuế lập lệnh thu ngân sách phù hợp giữa số thuế được hoàn và số thuế còn nợ.
Công chức quản lý nợ phải ghi lại thời gian đã thực hiện các biện pháp xử lý vào Sổ
nhật ký đôn đốc nợ của từng người nợ thuế.
 Đối với nhóm nợ có khả năng thu
- Lập kế hoạch phải thu nợ trong kỳ
Hàng tháng, trên cơ sở công việc được phân công, công chức thuộc bộ phận
quản lý nợ cấp Cục Thuế, Chi cục Thuế căn cứ vào tình hình nợ và sổ theo dõi nợ
của người nợ thuế để xác định danh sách người nợ thuế phải thực hiện các biện
pháp thu nợ trong kỳ theo mẫu số 04-QTR-QLN ban hành kèm theo quy trình này.
Danh sách phải được gửi cho phụ trách bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế để
báo cáo. Đây được coi như bản kế hoạch thu nợ của công chức và là một nội dung
quan trọng trong chương trình công tác làm cơ sở đánh giá kết quả công việc thực
hiện trong tháng của công chức.
- Lập nhật ký thu nợ
Công chức được phân công thu nợ phải lập Nhật ký theo dõi thu nợ theo mẫu
số 05-QTR-QTN ban hành kèm theo quy trình này, trước khi tiến hành đôn đốc thu
nợ, bao gồm các thông tin sau:
+ Các thông tin chung về người nộp thuế: tên, địa chỉ, mã số thuế.
+ Thông tin về khoản nợ phải đôn đốc thu: số tiền thuế nợ, loại thuế, tuổi nợ.
- Thông tin về nhật ký đôn đốc nợ: nội dung công việc đôn đốc thu nợ có liên
quan hàng ngày, biện pháp thu nợ.
+ Thông tin về nộp thuế: thể hiện từng lần, ngày, tháng, số tiền nợ thuế đã thu
được.
Nhật ký phải được lập riêng cho từng người nộp thuế, để theo dõi từng khoản
nợ thuế phải đôn đốc thu và ghi chép tất cả các biện pháp đôn đốc thu đối với từng
khoản nợ vào nhật ký ngay sau khi thực hiện biện pháp thu nợ.
- 24 -
- Trình tự thực hiện các biện pháp thu nợ
Thông báo nộp thuế
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định nộp thuế theo từng

tiến hành các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo quy định của pháp luật.
 Các biện pháp xử lý nợ theo pháp luật
Các trường hợp nợ thuế được áp dụng biện pháp thu nợ nêu trên, nếu người nợ
thuế không nộp nợ thuế đúng hạn, cơ quan thuế xem xét nguyên nhân để xử lý theo
pháp luật, cụ thể như sau:
 Xem xét gia hạn nộp thuế
Đối với trường hợp người nộp thuế thuộc diện được gia hạn nộp theo quy định
của pháp luật, nhưng hết thời hạn nộp tờ khai thuế chưa lập hồ sơ gia hạn nộp, cơ
quan thuế đã chuyển sang theo dõi nợ thuế, sau đó người nợ thuế có hồ sơ, văn bản
đề nghị gia hạn nộp, bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế có trách nhiệm
kiểm tra hồ sơ và điều kiện thực tế của người nộp thuế để đề nghị lãnh đạo cơ quan
thuế ra văn bản chấp thuận hay không chấp thuận việc gia hạn nộp thuế. Trường
hợp người nộp thuế được chấp thuận nộp thuế theo thời gian gia hạn nộp thuế, bộ
phận quản lý nợ cấp Cục Thuế, Chi cục Thuế trình lãnh đạo cơ quan thuế ký duyệt
văn bản gia hạn nộp, gửi 01 bản cho người nợ thuế thực hiện, 01 bản lưu tại bộ phận
quản lý nợ.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của người nợ
thuế cơ quan thuế phải ra văn bản trả lời chấp thuận hay không chấp thuận việc gia
hạn nộp thuế. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ thủ tục thì phải thông báo cho người nợ thuế
biết trong vòng 03 ngày làm việc để được gửi bổ sung.
Công chức quản lý nợ ghi lại lịch trình thu theo thời gian đã được chấp thuận,
vào sổ theo dõi nợ thuế của từng người nộp thuế và lưu hồ sơ người nộp thuế theo
qui định, đồng thời phải ghi lại thời gian đã thực hiện biện pháp này vào sổ nhật ký
đôn đốc nợ của từng người nộp thuế.

Trích đoạn Công tác quản lý nợ thuế ở một số nước trên thế giớ Vấn đề quản lý nợ thuế ở Việt Nam KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BÌNH PHƢỚC Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cục Thuế tỉnh Bình Phước Giới thiệu về công tác phòng Quản lý nợ & Cưỡng chế nợ thuế Cục thuế tỉnh Bình Phước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status