Chuyờn tt nghip Khoa khoa hc qun lý
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa học quản lý
chuyên đề
THựC TậP
tốt nghiệp
Đề tài:
giảI pháp hoàn thiện công tác quản lý
nguồn
vốn tại nhct hà tây giai đoạn 2008-2010
Giáo viên hớng dẫn: ts. đõ thị hải hà
Sinh viên thực hiện: nguyễn thị thanh tâm
Lớp: kt&qlc - 46
Hà Nội - 2008
SV: Nguyn Th Thanh Tõm Lp KT&QLC
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBTS Đảm bảo tài sản
NHCT Ngân hàng công thương
NHCT HT Ngân hàng công thương Hà Tây
NHCT VN Ngân hàng công thương Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
KH Kỳ hạn
TCTD Tổ chức tín dụng
TCTC Tổ chức tài chính
mục tiêu cộng hưởng cùng nhau phát triển, hoạt động đó đã tạo ra những cơ
hội lớn, nhưng cũng không thể không kể tới những thách thức mà chúng đem
lại như sự cạnh tranh về: năng lực tài chính, cạnh tranh về công nghệ, cạnh
tranh không chỉ với hệ thống ngân hàng nước ngoài, mà còn cả những sự cạnh
tranh với chính các hệ thống trong nước…Chính vì vậy, để tồn tại và phát
triển bền vững, thách thức đối với các ngân hàng là cần xây dựng đủ mạnh cả
về “ thế và lực” trong hoạt động kinh doanh, không ngừng học hỏi, phát triển
cả về quy mô lẫn chất lượng dịch vụ sản phẩm cung ứng ra thị trường, kết hợp
hài hòa giữa hoạt động huy động vốn và cho vay cân đối. Nhưng trên thực tế,
để cân đối và quản lý tốt nguồn vốn huy động là điều rất phức tạp, yêu cầu đặt
ra với nhà lãnh đạo ngân hàng, làm sao quản lý nguồn vốn hiệu quả cao nhất,
cho mức sinh lời tối ưu trong điều kiện rủi ro thấp nhất trong cả những điều
kiện nền kinh tế là suy yếu. Do vậy, nhằm khắc phục giảm thiểu rủi ro và tối
ưu hóa lợi nhuận dự kiến trong hoạt động quản lý nguồn vốn của NHCT Hà
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
Tây, đề tài em nghiên cứu là: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn
vốn tại NHCT Hà Tây giai đoạn 2008-2010”.
Nhân đây, em xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Khoa
học quản lý đã dạy dỗ chúng em suốt 4 năm học vừa qua, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới cô: Đỗ Thị Hải Hà giáo viên hướng dẫn cùng với các cô
chú, anh chị tại NHCT Hà Tây đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.
2. Mục đích nghiên cứu
• Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vốn và quản lý nguồn vốn của
NHTM.
• Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nguồn vốn tại NHCT Hà Tây.
Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn tại NHCT
Hà Tây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
ii
1.1.2. Các nguồn vốn của NHTM
1.1.2.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn cấp 1
Vốn cấp 2
1.1.2.2. Vốn huy động
Vốn huy động từ tiền gửi
• Tiền gửi các tổ chức kinh tế
+ Tiền gửi không kỳ hạn.
+ Tiền gửi có kỳ hạn.
• Tiền gửi của dân cư
+ Tiền gửi tiết kiệm.
i
, ii.. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, ngân hàng thương mại, NXB Đại học kinh tế quốc dân
ii
.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
+ Tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi khác
+ Tiền gửi của tổ chức tín dụng khác.
+ Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước.
+ Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội.
Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Vốn đi vay:
• Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác.
• Vốn vay của NHTW.
Nguồn vốn khác.
1.1.3. Đặc điểm các nguồn vốn của NHTM
lệ của mỗi ngân hàng luôn phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định, là số vốn
do Chính phủ qui định trong từng thời kỳ cho từng loại hình ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng có thể tăng thêm vốn điều lệ nhưng
phải được sự đồng ý của NHTW và phải công bố công khai vốn điều lệ mới.
Các quỹ dự trữ gồm: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ. Các quỹ này được hình
thành trong quá trình hoạt động và được tích theo thời gian để sửu dụng cho
các mục đích cụ thể của ngân hàng. Việc trích lập và sử dụng các quỹ dự trữ
của ngân hàng được thực hiện theo qui định của pháp luật trong từng thời kỳ.
Lợi nhuận không chia là phần thu nhập của ngân hàng được giữ
lại trong quá trình kinh doanh thay vì dùng chi trả cổ tức cho các cổ đông.
Vốn cấp 1 được dùng làm căn cứ để xác định giới hạn mua cổ phiếu, đầu
tư tài sản cố định của tổ chức tín dụng.
Vốn cấp 2 bao gồm:
+ Giá trị gia tăng thêm của tài sản cố định và chứng khoán.
+ Dự phòng chung.
+ Các trái phiếu chuyển đổi và một số công cụ nợ khác.
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
Giá trị gia tăng thêm của tài sản cố định và giá trị gia tăng thêm
của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại theo quy định của pháp
luật. Do giá trị thị trường của tài sản có thể thay đổi theo thời gian, nên vốn
do đánh giá lại tài sản thường không ổn định, vì vậy các ngân hàng chủ được
tính vào vốn cấp 2 một phần giá trị tăng thêm của tài sản. Theo quy định hiện
hành thì vốn cấp 2 gồm : 50% giá trị tăng thêm của tài sản cố định và 40% giá
trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại theo quy định
của pháp luật.
Dự phòng chung : đây là khoản tiền được trích lập để dự phòng
cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích
tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến… Để
đảm bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể
gửi số vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn,
đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng một số các dịch vụ
của ngân hàng. Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dưới hình thức :
Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau.
Tiền gửi không kỳ hạn : là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút tiền ra
bất kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tế luôn có sự
chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, cho nên tại mỗi
ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể
sử dụng cho vay. Lãi suất tiền gửi này rất thấp, thậm chí có những khoản tiền
ngân hàng không phải trả lãi.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa mãn về thời gian rút tiền.
Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền theo thời hạn thỏa thuận,
nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền này với kỳ hạn dài, các ngân hàng
thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chi được hưởng lãi
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
suất không kỳ hạn hoặc hưởng lãi suất tương ứng theo kỳ hạn nhất định do
ngân hàng quy định.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử
dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàng
thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi
các đơn vị, mỗi kỳ hạn có mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn
càng dài lãi suất càng cao.
• Tiền gửi dân cư
Là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội
gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán .Tiền
gửi của dân cư bao gồm hai loại.
gửi …
Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là
các tổ chức, cá nhân. Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập
tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là một kênh đầu tư
của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư
trực tiếp. Các kỳ phiếu có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết
bằng cách bán hay chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại
ngân hàng.
Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có
khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn
chủ động trong sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng
đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh của
khách hàng hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn trong toàn hệ thống mà
vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc NHTW.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%)
trong toàn bộ vốn kinh doanh của NHTM. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa khoa học quản lý
rất lớn tới chi phí và khả nằng mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng, phù hợp với xu thế
phát triển của nền kinh tế, trong điều kiện tái cơ cấu và nâng cao chất lượng
dịch vụ của ngân hàng.
c. Vốn đi vay
Trong quá trình kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thời
thừa và thiếu vốn, đó là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi
khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn nhưng ngân hàng chưa đáp ứng được,
hoặc người rút tiền trước thời hạn trong khi chưa tới thời hạn thu hồi. Khi đó
các NHTM có thể gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác để hưởng lãi, hay đi
vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán.
Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTM
còn có thể tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác.
• Vốn trong thanh toán: Vốn trong thanh toán là số vốn có được dó
ngân hàng làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Cụ thể :
Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả
nhưng chưa chuyển vào tài khoản củ người hưởng do phải luân chuyển, xử lý
chứng từ thanh toán.
Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại ngân hàng nhưng
chưa thanh toán trong một số hình thức thanh toán như: séc bảo chi, thư tín
dụng, thẻ thanh toán ký quỹ …
Khi công nghệ thanh toán của ngân hàng ngày càng hiện đại, quy trình,
thủ tục thanh toán được cải tiến thì thời gian của mỗi khoản thanh toán được
giảm đi đáng kể, do đó vốn mà ngân hàng có được trong mỗi khoản thanh
toán cũng giảm. Nhưng do ngày càng có nhiều khách hàng mở tài khoản và
SV: Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp KT&QLC
11