LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được cảm ơn sâu sắc đến Ban
Giám đốc Học Viện Quản Lý Giáo Dục, Giám đốc trung tâm bồi dưỡng cán
bộ - Học Viện Quản Lý Giáo Dục và Ban Giám đốc dự án THCS II cùng toàn
thể các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác
giả trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
PGS - TS Lê Phước Minh - người hướng dẫn khoa học - đã tận tình giúp đỡ,
chỉ bảo ân cần trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Học viện Quản lý giáo dục, phòng Đào
tạo, các khoa chuyên môn, giảng viên, sinh viên của nhà trường đã nhiệt tình
cung cấp số liệu, các tư liệu trong quá trình khảo sát, điều tra giúp tác giả hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên
khích lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập.
Mặc dù cố gắng hết mình để hoàn thành luận văn này, nhưng do thời
gian và khả năng có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả
rất mong nhận được sự góp ý, phê bình, chỉ bảo của các thầy cô và các bạn
đồng nghiệp góp ý, bổ sung để giúp cho luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2012
Tác giả
ĐINH THỊ NGỌC OANH
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 4
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do lựa chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5. Giả thuyết khoa học 3
sinh- sinh viên 61
2.2.7. Quản lý công tác tổ chức đánh giá kết quả học tập 66
2.2.8. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý nhà trường 69
2.2.9. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy - học của nhà trường 72
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lí đào tạo tại Học viện Quản lý giáo dục 74
2.3.1. Những ưu điểm 74
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 76
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC 80
3.1. Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo 80
3.2 Các biện pháp tăng cường hoạt động quản lý đào tạo ở Học viện Quản lý giáo dục.83
3.2.1. Đổi mới nhận thức trong hoạt động đào tạo đảm quy mô trên cơ sở nâng cao
chất lượng đào tạo 83
3.2.2.Tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng chương trình và viết giáo
trình là nhiệm vụ trọng tâm 84
3.2.3.Tăng cường quản lý hoạt động dạy học chú trọng đến việc đổi mới phương pháp
dạy học 87
3.2.4 Quản lý hoạt động học tập của HSSV nâng cao ý thức tự học kết hợp dạy nghề
và dạy người 90
3.2.5.Tăng cường quản lý, xiết chặt kỉ cương trong việc thi cử , kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của HSSV 91
3.2.6. Bồi dưỡng cán bộ quản lý, phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên là điều kiện
phát triển nhà trường 92
3.2.7. Tăng cường đầu tư, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học.
95
3.2.8. Tăng cường quan hệ với các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo (HSSV đã tốt
nghiệp) và tư vấn giới thiệu việc làm 96
3.3. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
VIII đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu, là động lực của quá trình phát triển”. Từ đó, sau hai
mươi năm đổi mới và 5 năm thực hiện chiến lược phát triển chiến lược giáo
dục năm 2006-2010 đã phát triển rõ về quy mô, hình thức đào tạo, cải tiến
quy trình, chương trình đào tạo, và tranh thủ được nhiều nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, những thành tựu nói trên chưa mang tính hệ thống. Hệ thống giáo
dục đại học vẫn còn chưa ổn định, quy mô cơ cấu ngành nghề đào tạo, đội
ngũ giảng viên và các điều kiện đảm bảo chất lượng của từng trường chưa đáp
ứng được những chuẩn mực đã quy định; giáo dục chuyên môn nghề nghiệp
chưa kết hợp tốt và thường xuyên với trau dồi đạo đức; trình độ giảng viên
thấp, chưa giải quyết được mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng đào tạo.
Vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng
hiện đại hóa, tin học hóa để thực hiện một quy trình đào tạo mềm dẻo, lấy
người học làm trung tâm. Nghị quyết của chính phủ số 14/2005/NQ-CP về
đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020
đề ra mục tiêu chung “ Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo
được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu
1
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc
tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020 giáo dục đại học Việt Nam
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới;
có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa”
Học viện Quản lý Giáo dục được thành lập ngày 3 tháng 4 năm 2006
trên cơ sở Trường Cán bộ quản lý Giáo dục và đào tạo, một cơ sở giáo dục đại
học có uy tín trong nước và khu vực về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, cung
cấp dịch vụ về giáo dục và Quản lý giáo dục. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục
đại học của Đảng và Nhà nước, song song với việc đầu tư xây dựng, đầu tư tài
lực, vật lực, xây dựng môi trường giáo dục, phát triển hệ thống thông tin giáo
dục và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, Học viện Quản lý giáo
5. Giả thuyết khoa học
Xuất phát từ cơ sở ly luận và nghiên cứu thực tiễn việc quản lý đào tạo
tại Học viện Quản lý giáo dục đã có kinh nghiệm và cố gắng trong việc đào
tạo nguồn nhân lực quản lý giáo dục, thể hiện qua số lượng và chất lượng sinh
viên ra trường, đã đóng góp vào nhu cầu nhân lực quản lý giáo dục các cấp.
Tuy nhiên việc khảo sát các biện pháp quản lý đào tạo chuyên ngành sẽ đưa ra
được những mặt mạnh và yếu của công tác này, trên cơ sở đó đề xuất những
giải pháp khoa học, phù hợp với thực tiễn để việc quản lý đào tạo của Học
viện Quản lý giáo dục ngày càng tốt hơn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, phân tích các vấn đề ly luận về quản lý, quan ly giáo dục
và quản lý hoạt động dạy học trong trường Đại học
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo của Học viện
Quản lý giáo dục
3
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại Học viện Quản
lý giáo dục
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Dựa trên cơ sở các quan điểm, đường
lối về giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước, các khái niệm, lí luận liên
quan đến quản lí công tác đào tạo chuyên ngành, tổng hợp các công trình về
vấn đề quản lí đã được nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
+ Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát việc chỉ đạo, điều hành
quản lý đào tạo, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tới công tác quản lý đào
tạo.
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Sử dụng những tài
liệu, số liệu có liên quan đặc biệt các số liệu công tác, báo cáo tổng kết hàng
năm của nhà trường.
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Hỏi trực tiếp các cán bộ phụ trách
quốc tế và cơ chế thị trường. Điều đó tạo ra sự đổi mới sâu sắc, đặc biệt là tư
duy và quản lý trong giáo dục toàn cầu.
Nhận thức được vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước,
Đảng, Nhà nước, Chính phủ và toàn dân Việt Nam coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu, phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn
lực con người, phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam các kỳ VIII,IX,X đều nhấn mạnh đổi mới toàn
diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo trong đó đề
xuất các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục luôn được coi là khâu đột phá. Đã
có nhiều đề tài nghiên cứi khoa học, hội thảo khoa học, bài viết về quản lý
5
giáo dục, chiến lược phát triển giáo dục, đổi mới quản lý quản lý giáo
dục như: Quản lý giáo dục do PGS.TS Bùi Minh Hiền chủ biên, NXB Đại
học Sư phạm Hà nội, 2006; Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu
thế kỷ XXI do GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, PGS.TS Trần Khánh Đức chủ biên.
Bên cạnh các bài viết, công trình,đề tài nghiên cứu vấn đề giáo dục nói
chung, nổi lên xu thế nghiên cứu về quản lý giáo dục. “Đổi mới quản lý giáo
dục” chính là một trong những giải pháp chiến lược mang tính quyết định, đột
phá của Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020. Đã
có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề này như:
Các biện pháp quản lý giành cho Hiệu trường, các cấp quản lý về quản lý dạy
học, quản lý sinh viên, quản lý nâng cao chất lượng giảng dạy, phát triển đội
ngũ giáo viên : “Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao
đẳng Y tế Điện Biên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Kim Ngân,
“Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kỹ thuật khách sạn
và Du lịch đến năm 2015” của Vũ Thị Hồng Hạnh; “Quản lý hoạt động dạy
học bổ túc Trung học phổ thông ở trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Cao
Bằng” của Trần Thị Minh Ngọc
Những đề tài này đều phản ánh những vấn đề cụ thể liên quan tới chất
bằng nhiều cách như nhấn mạnh tính chất hay hình thức tác động, mục đích
hay chức năng của quản lý đã đưa ra các định nghĩa sau:
Theo sự phân tích của Marx thì quản lý là một chức năng tất yếu của
lao động xã hội, nó luôn gắn chặt với sự phân công và phối hợp. Song điều đó
chỉ có thể thực hiện trên cơ sở tổ chức vì; “ chức năng chủ yếu của quản lý là
liên hợp, tháp hợp tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của người tham gia
tổ chức đó là một chính thể”
- M.Pin to: Quản lí là sự hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có nỗ lực tập
thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung.
7
- Tai lor : làm quản lí phải biết rõ muốn người khác làm việc gì và hãy
chú ý đến cách tốt nhất,kinh tế nhất mà họ làm.
- Harold Koontz cho rằng: Quản lí là xây dựng và duy trì một môi
trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lí là hoạt động có mục đích ,có kế
hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động.
- Phan Văn Kha cụ thể hơn: Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị
và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã
định.
- GS. Hà Thế Ngữ và GS. Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này
đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể nói rằng quản lý là một quá
trình mang tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động,
bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi vì trong mỗi lĩnh vực
con người luôn điều chỉnh hoạt động của mình theo một phương thức nhất
định, do đó:
- Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người
Khách thể quản lý
Mục tiêuCơ chế quản lý
* Bản chất và chức năng của quản lý
- Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể
người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong giáo dục đó là tác động của
nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác
trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu giáo dục. Vậy bản chất
của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng
quản lý.
- Các chức năng của quản lý.
Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm
tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các
khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra (Sonner và
Freemance- Management, 1995)
Như vậy có thể nói quản lý là phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu
chung của một nhóm người, một tổ chức, nói rộng hơn là một quốc gia hay
toàn thế giới. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động.
Quản lý là một loại lao động đặc biệt, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ
thuật. Quản lý được xem là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất
định, một nhóm người để đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ
chức. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới
pahan định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của
những người tham gia hoạt động chung. Đây là cơ sở hình thành các chức
năng quản lý. Tưng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được
liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán.
Nhiều tác giả đã phân loại chức năng quản lý thành 4 chức năng cơ
bản, và thông tin là trung tâm của quản lý
+ Lập kế hoạch
+ Tổ chức
+ Lãnh đạo,chỉ đạo, điều khiển
mục tiêu cuộc đời của mỗi con người, mỗi thành viên xã hội.
* Quản lý giáo dục
Khi nghiên cứu về quản lý giáo dục, các nhà ly luận Xô Viết đã đưa ra
một số định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: quản lý giáo dục là tập hợp
những biện pháp tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài
chính, cung tiêu ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan
trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống
cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Tác động có hệ thống, có kế hoạch, có
thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả
các khâu của hệ thống (từ Bộ GD-ĐT đến nhà trường) nhằm mục đích đảm
bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển
toàn diện và hài hòa của họ.
Ngày nay giáo dục là một cấu thành không thể thiếu ở mọi quốc gia nó
đã phát triển thành một hệ thống và nhận được sự quan tâm, đầu tư thích đáng
bởi tác động lớn lao mà nó mang đến cho xã hội. Khi đã trở thành hệ thống
hoạt động với sự tham gia của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội thì
đương nhiên giáo dục cần có sự quản lý. Quản lý giáo dục như người nhạc
trưởng chỉ huy cả dàn nhạc là hệ thống giáo dục cùng hoạt động để theo đuổi
đích hướng chung. Ở những phương diện nghiên cứu và những góc độ tiếp
cận khác nhau khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách nhìn nhận .
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã phát biểu: “Quản lý giáo dục và
quản lý hệ thống giáo dục là những khái niệm thống nhất. Nếu hệ thống giáo
dục bao gồm toàn ngành giáo dục cả nước thì ta có quản lý giáo dục với toàn
bộ hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục bao gồm các tổ chức
12
giáo dục ở một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có: Quản lý giáo dục cấp tỉnh, Quản
lý giáo dục cấp huyện”.
Ở cấp quản lý thứ nhất là ứng với hoạt động quản lý một hoặc một
loạt đối tượng có quy mô lớn bao quát toàn hệ thống – đó là quản lý cấp vĩ
mô. Nhưng trong hệ thống này có nhiều bộ phận cấu thành (hệ thống con)
Với cấp vi mô thì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý trong phạm vi
một cơ sở giáp dục, một trường học bao gồm quản lý tất cả mọi hoạt động
giáo dục cả nghĩa rộng và hẹp.
Quản lý vi mô là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm
hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động
giáo dục, đến con người (cán bộ , giáo viên và học sinh) đến các nguồn lực
(cơ sở vật chất,tài chính, thông tin…) và đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường
một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý,
quy luật kinh tế, quy luật xã hội…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.(3, tr.11)
Tư những khái niêm về quản lý giáo dục ở trên có thể nói một cách
chung nhất : Quản lý giáo dục là một dạng quản lý xã hội trong đó diễn ra quá
trình hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức, thực hiện và sử dụng các nguồn
lực, các tác động của chủ thể quản lý theo mục đích, kế hoạch lên đối tượng
quản lý giáo dục nhằm tạo ra hiệu quả, sự ổn định và phát triển đạt được mục
tiêu của giáo dục đáp ứng yêu cầu của cá nhân và xã hội đặt ra với giáo dục.
Khái niệm trên được hiểu rằng:
- Quản lý giáo dục là một dạng quản lý trong xã hội nên nó có những
đặc điểm chung của quản lý và tuân theo các quy luật cơ bản trong quản lý.
- Quản lý giáo dục lại có những đặc thù riêng cả về nội dung và hình
thức bới đối tượng chủ yếu trong quản lý giáo dục cũng là con người nhưng
14
con có ý nghĩa là sự rèn luyện, dạy dỗ để họ nâng cao được năng lực ,phẩm
chất để thích ứng với sự thay đổi trong xã hội và góp phần thúc đẩy sự phát
triển của xã hội.
Tóm lại quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Quản lý
giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể
quản lý, thực hiện mục tiêu đã đề ra. Quarnly giáo dục từ cấp vi mô đến tầng
vĩ mô đều hướng tới việc sử dụng hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo
dục để đạt được những kết quả có chất lượng cao. Quản lý giáo dục có thể
Quản lý giáo dục có những đặc trưng sau:
Con người là nhân tố quan trọng nhất trong quản lý giáo dục và việc
quản lý con người là vấn đề trugn tâm của giáo dục. Quản lý giáo dục có tính
liên tục,kế thừa, thống nhất và linh hoạt.
Bên cạnh những đặc trưng trên, quản lý giáo dục cần có các nguyên tắc
cơ bản. Nguyên tắc quản lý là những yêu cầu, những quy định chung nhất, cơ
bản phổ biến, chỉ đạo hoạt động và tổ chức của hệ thống quản lý nhằm đảm
bảo mục đích quản lý. Do tính chất chỉ đạo của quản lý giáo dục mà nguyên
tắc phải biểu hiện được mối quan hệ ổn định, bền vững và tồn tại trong hệ
thống quản lý. Nhờ thực được các nguyên tắc trên mà các quy luật chi phối
đối tượng quản lý sẽ được đảm bảo. Các nguyên tắc của quản lý giáo dục bao
gồm những nội dung sau:
- Đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nguyên tắc này coi việc
giáo dục thế giới khoa học, nhân sinh quan và đào đức là kim chỉ năm cho
toàn bộ quá trình giáo dục. Dựa trên tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng đã cụ thể hóa đường lối, chủ trương
chính sách giáo dục trở thành hệ tư tưởng và quan điểm chủ đạo duy nhất của
toàn bộ công tác giáo dục.
- Đảm bảo tính khoa học, tính kế hoạch và thực tiễn trong quản lý giáo dục.
Khoa học trong quản lý giáo dục trước hết đòi hỏi quan điểm tổng hợp,
quan điểm hệ thống, quan điểm vận động. Các quá trình giáo dục thường diễn
ra trong thời gian dài và có nhiều lực lượng tham gia cùng một lúc, do đó
quản lý giáo dục luôn luôn đòi hỏi tính kế hoạch cao. Hoạt động giáo dục
không chấp nhận sự rập khuôn và đơn giản, nên tính khoa học trong quản lý
16
giáo dục đòi hỏi phải cụ thể và đa dạng. Tính thực tiễn trong quản lý giáo dục
đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết đầy đủ, hiểu rõ tình hình thực tế trong
thời gian ở các không gian khác nhau.
- Tính dân chủ. Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý. Xét về
mặt tổ chức thì đây là nguyên tắc quan trọng nhất. Nó thể hiện ở sự kết hợp
các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng
đồng xã hội.
Nhà trường được tổ chức và hoạt động với chức năng truyền thụ và lĩnh
hội tri thức nhân loại để nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển cá nhân, phát
triển cộng đồng và phát triển xã hội. Nhà trường là cơ sở giáo dục, là tổ chức
giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tiến hành hoạt động giảng dạy
và học tập. Hoạt động của nhà trường vừa mang tính giáo dục vừa mang tính
xã hội ,bởi nhà trường tiến hành quá trình giáo dục và đào tạo theo nguyên lý
giáo dục đối với thế hệ trẻ trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu
phát triển xã hội.
“Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp,có nội dung
chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các
nhà sư phạm đã được đào tạo chu đáo thực hiện. Nhà trường là môi trường
giáo dục thuận lợi, có một tập thể học sinh cùng nhau học tập, rèn luyện.”(4,
tr.13). Như vậy, nhà trường vừa là khách thể chính của quản lý giáo dục các
cấp, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội. Sự phát triển xã hội chịu ảnh
hưởng rất lớn của giáo dục , nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo chủ yếu do
nhà trường chịu trách nhiệm. Chính vì vậy khi nói đến quản lý giáo dục thì việc
đầu tiên phải quan tâm đến là quản lý nhà trường và hệ thống các nhà trường.
Để đi đến nhận biết khái niệm quản lý nhà trường, phải xuất phát từ
khái niệm quản lý giáo dục dưới hai góc độ, quản lý giáo dục cấp vi mô và
18
quản lý giáo dục cấp vĩ mô. Từ hai cấp độ trên quản lý nhà trườngcũng được
nhìn nhận từ hai góc độ:
- Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của các
cơ quan quản lý giáo dục như Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT), Sở GD
&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cấp chính quyền (đơn vị hành chính từ trung
ương đến địa phương) đối với cơ sở giáo dục nhà trường nào đó.
- Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của chủ
thể quản lý một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương
phần đảm bảo cho nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và chuyên môn
của mình. Xét đến cùng trong quản lý nhà trường thì quan trọng nhất là quản
lý hoạt động dạy và học tức hoạt động sư phạm hay chính là hoạt động giáo
dục – đào tạo.
1.2.3. Đào tạo và quản lý đào tạo.
1.2.2.1. Khái niệm.
Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục đó là
công việc của một cơ sở giáo dục, một trường học. Đào tạo được áp dụng khi
người ta đã đạt độ tuổi và trình độ nhất định như đào tạo nghề, đào tạo chuyên
sâu, đào tạo lại, đào tạo từ xa…Đào tạo được hiểu như việc dạy các kỹ năng
nghề nghiệp, thực hành hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể giúp
người học chủ động lĩnh hội nắm vững những tri thức, kĩ năng nghề nghiệp
một cách hệ thống để thích nghi với cuộc sống và có khả năng đảm nhận một
công việc nhất định.
“Đào tạo là quá trình tác động đến một con người làm cho người đó lĩnh
hội và nắm vững tri thức, kỹ năng , kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn
bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công
nhất định, góp phần mình vào sự phát triển của xã hội , duy trì và phát triển
20
nền văn minh loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà
trường gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào
tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể
hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi
tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định”.
Đào tạo là cơ cấu, quá trình quyết định mang lại cho giáo dục tính tổ
chức, kế hoạch, hướng đích và điều khiển được.
Qua các định nghĩa trên thì đào tạo về cơ bản được xem như một quá
trình nên tính biện chứng của việc thực hiện đào tạo, điều chỉnh đào tọa và
mục tiêu mới được đảm bảo trong quá trình thay đổi của môi trường . Vì là
quá trình, nó có: trạng thái ban đầu gọi là đầu vào, sự diễn biến chủ yếu ở đây