HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA GIÁO DỤC
_____________
______________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC,
KHOA GIÁO DỤC - HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số:
Giảng viên hướng dẫn
TS. Cao Xuân Liễu
Chủ nhiệm đề tài
Phùng Thị Gái
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu)
Hà Nội, 5/2015
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
1. Nguyễn Thị Thanh
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1. Học viện Quản lí Giáo dục – 31 Phan Đình Giót – Thanh Xuân – Hà
Nội
2. Sinh viên tốt nghiệp ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục -
Học viện Quản lí Giáo dục.
2
THÔNG TIN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành
Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục - Học viện Quản lí Giáo dục.
- Mã số:
ích cho học tập và công việc tương lai của mình.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo – giảng viên
hướng dẫn TS. Cao Xuân Liễu – Thầy giáo đã giúp chúng tôi học hỏi được
nhiều kinh nghiệm, tâm huyết và tận tình hướng dẫn nhiệt thành cho chúng tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu để chúng tôi có thể hoàn thiện tốt đề tài
nghiên cứu của mình.
Đồng thời, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn bộ các anh chị sinh
viên từ Khóa 1 đến khóa 4, ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học
viện Quản lí Giáo dục đã cung cấp thông tin và giúp đỡ chúng tôi nhiệt tình
trong quá trình thực hiện đề tài.
Tuy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết việc nghiêm cứu đề tài, nhưng
do kiến thức và kỹ năng còn hạn chế nên đề tài của chúng tôi không tránh
khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của Hội đồng khoa học
nhà trường, các thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu khoa học của chúng
tôi có thể hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn !
4
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những tiêu chí để phản ánh trình độ phát triển của một đất
nước đó là việc làm và chất lượng việc làm chất của công dân. Vì vậy việc
làm luôn là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Việc làm không chỉ nuôi
sống mỗi người, mỗi quốc gia mà nó còn là điều kiện tồn tại của toàn xã hội.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay đã và đang đặt ra những thách
thức và cơ hội cho mỗi người cho nên việc làm lại được quan tâm hơn bao giờ
hết.
Từ năm 2009, theo Quy chế thực hiện 3 công khai mà Bộ Giáo dục và
việc làm của sinh viên tốt nghiệp từ khóa 1 đến khóa 4 ngành Tâm lí học Giáo
dục, khoa Giáo dục - Học viện Quản lí Giáo dục.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc làm của sinh viên ngành
Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục sau khi tốt
nghiệp.
3.2. Khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu những sinh viên đã tốt
nghiệp ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lý giáo
dục.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc làm, sinh viên, vai trò của việc
làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp.
4.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của sinh viên
ngành Tâm lý học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục sau
khi tốt nghiệp.
4.3. Đề xuất một số kiến nghị về phía sinh viên và cơ sở đào tạo trong
học tập và giảng dạy.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2014 đến tháng 4/2015
5.2. Giới hạn nghiên cứu
7
Đề tài tập trung nghiên cứu và sử dụng các số liệu thu được từ việc khảo
sát và phân thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành Tâm lý
học giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lý Giáo dục. Từ đó đưa ra một
số biện pháp giúp sinh viên tự trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp
Phạm vi khảo sát là100 sinh viênđã tốt nghiệp ngành Tâm lí học Giáo
dục, khoa Giáo dục - Học viện Quản Lí Giáo Dục.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc làm, việc làm sau khi tốt
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÍ HỌC GIÁO DỤC, KHOA GIÁO DỤC –
HỌC VIỆN QUẢN LÍ GIÁO DỤC
1.1. Một số nét cơ bản về ngành Tâm lý học Giáo dục
1.1.1. Tâm lý học Giáo dục
• Tâm lý học
Theo “Wikipedia” tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động,
tinh thần và tư tưởng của con người, cụ thể là cảm xúc, ý chí và hành động.
Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái
tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người. Tâm lý
học vừa được nghiên cứu khoa học lẫn phi khoa học.
Theo Nguyễn Xuân Thức trong Tâm lý học đại cương thì tâm lý học là
một ngành khoa học trung gian nằm giữa khoa học xã hội và khoa học tự
nhiên vì tâm lý học nghiên cứu các hoạt động tâm lý con người. Các hiện
tượng tâm lý người có cơ sở vật chất là đặc điểm sinh học (cơ thể, não, giác
quan, hệ thần kinh) và đồng thời tâm lý người có bản chất xã hội, phản ánh
cuộc sống xã hội lịch sử vì thế tâm lý học vừa có tính chất của khoa học tự
nhiên vừa có tính chất của khoa học xã hội.
• Giáo dục
Theo “Wikipedia” giáo dục nghĩa chung là hình thức học tập, của một
nhóm người; kiến thức, kỹ năng và thói quen được trao quyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Giáo dục
thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông
qua tự học.Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta
suy nghĩ, cảm nhận hay hành động đều có thể xem như được giáo dục.
Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích,
có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới
người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách
cho họ.
10
thần, Bệnh viện Nhi đồng, trung tâm dưỡng lão, Trung tâm điều trị bệnh
nhân nhiễm HIV, trung tâm cai nghiện và các trường Giáo dưỡng của Bộ
Công an.
• Tư vấn cho lãnh đạo về các vấn đề Nhân sự, Tổ chức lao động và
nghiên cứu Tâm lý tư vấn cho khách hàng tại các tổ chức lao động và các
công ty.
• Giảng dạy Tâm lý học.
1.2. Một số vấn đề về việc làm
1.2.1. Khái niệm việc làm
Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm:
Theo quan điểm của Các Mác : Việc làm là từ dùng để chỉ trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công
nghệ ) để sử dụng sức lao động đó.
Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như
vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ có thể do người lao động có quyền sở hữu,
sử dụng, quản lý hoặc không. Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống
nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần
thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất
việc làm.
Theo Điều 9, chương II, Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam (10/2012/QH13) “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu
nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) “ Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và hiện vật”.
Việc làm là công việc hay nhóm công việc thuộc hệ thống ngành kinh tế
quốc dân, được thực hiện bởi người lao động với mục đích là tạo ra giá trị vật
chất và tinh thần cho bản thân họ, cho tập thể, cho xã hội mà trong đó họ là
thành viên. Việc làm không tự nó tạo ra sản phầm, tạo ra thu nhập. Sự thực
12
hiện việc làm nói chung, mới tạo ra thu nhập và là thu nhập hợp pháp, chính
Việc làm nhân văn. Theo quan điểm hiện đại, việc làm nhân văn là việc
làm với những nội dung cơ bản sau: chắc chắn và hữu ích, tôn trọng các quyền
lao động, mức thù lao hợp lý tương xứng, bảo vệ các quyền xã hội, bảo đảm
sự tham gia và thương lượng tập thể, quyền tự do công đoàn và đối thoại xã
hội.
1.2.3. Vai trò của việc làm
Việc làm là vấn đề quan trọng và có ảnh hưởng tới nhiều mặt đời sống xã
hội.
Việc làm là tiêu chí khẳng định sự văn minh. Hình thức, nội dung và các
yếu tố cấu thành và liên quan đến việc làm, đến sự làm việc là những cái thể
hiện rõ trình độ văn minh của lao động nói riêng và của xã hội nói chung.
Việc làm là điều kiện đảm bảo an toàn của xã hội. Việc làm không chỉ là
điều kiện kiếm sống của người lao động mà còn góp phần to lớn tạo nên nhân
cách sống của người lao động và các công dân trong xã hội. Sự an toàn kinh
tế, an toàn cá nhân, an toàn xã hội phụ thuộc nhiều vào việc người lao động
có được đảm bảo công ăn việc làm hay không.
Việc làm là yếu tố thúc đẩy sự phát triển bền vững. Ngày nay, sự phát
triển của xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó có sự phát triển của nền
sản xuất, của sự phát triển con người. Tuy nhiên, xét cho cùng, chúng đều liên
quan và chịu sự chi phối mạnh mẽ của việc làm. Đối với mỗi quốc gia, việc
giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính
sách xã hội khác như: y tế, văn hóa, giáo dục góp phần đảm bảo an toàn, ổn
định , và phát triển xã hội. Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề
sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt việc làm cũng là hiệu quả của sản
xuất. Đối với Việt Nam, việc làm còn gắn với công cuộc xóa đói giảm nghèo,
giải quyết việc làm là biện pháp quan trọng và thiết thực trong xóa đói giảm
nghèo. Đối với người lao động, việc làm tạo cơ hội cho họ có thu nhập, đảm
bảo cuộc sống của bản thân, gia đình, đồng thời đống góp cho xã hội.
14
1.3. Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
kiến thức hoặc trình độ nghiệp vụ sau khi học xong một trường hoặc một bậc
học, một cấp học.
Như vậy, sinh viên tốt nghiệp là những người đã hoàn thành xong
chương trình học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm tra kiến thức hoặc trình độ nghiệp vụ.
Sau khi tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng, hay trung cấp chuyên
nghiệp, sinh viên sẽ trở thành lực lượng lao động có chuyên môn cao, tìm
kiếm việc làm để tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất của
cải vật chất. Khi đó, sinh viên sẽ trở thành những người lao động. Theo Bộ
Luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thuật ngữ người
lao động được hiều là : “ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động,
làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành
của người sử dụng lao động.”
1.3.3. Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Qua quá trình nghiên cứu và tổng hợp. Chúng tôi có thể đưa ra khái niệm
việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp như sau:
Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp là những hoạt động lao động
được thực hiện sau khi sinh viên được công nhận đạt tiêu chuẩn kiến thức
hoặc trình độ nghiệp vụ, những hoạt động lao động đó không bị pháp luật
cấm và tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần.
1.3.4. Vai trò của việc làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp
Trước hết, việc làm tạo ra nguồn thu nhập cho sinh viên để trang trải và
ổn định cuộc sống mà không phụ thuộc vào gia đình.
Việc làm, đặc biệt là việc làm đúng chuyên ngành sẽ giúp sinh viên ứng
dụng, áp dụng những kiến thức chuyên môn được đào tạo trong nhà trường
vào thực tế từ đó rút kinh nghiệm, nâng cao năng lực bản thân. Tạo cơ hội cho
sinh viên tiếp xúc thực tế, có môi trường mới để trải nghiệm và học hỏi.
Việc làm có thể xem là một tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, năng
lực của bản thân mỗi sinh viên. Khẳng định địa vị xã hội của mỗi người.
16
2.1.Tiến trình nghiên cứu
Để tìm hiểu về thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành
Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo Dục – Học viện Quản lý Giáo dục chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu qua 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Xây dựng đề cương nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2014
Nhiệm vụ: Xây dựng đề cương chi tiết cho đề tài nghiên cứu
- Giai đoạn 2: Xây dựng khung lý thuyết
Thời gian: Từ tháng 10/2014 đến tháng 12/2014
Nhiệm vụ:
- Xây dựng khung lý thuyết về vấn đề việc làm, việc làm sau khi tốt
nghiệp của sinh viên, những nét cơ bản về ngành Tâm lí học Giáo dục.
- Khái niệm công cụ:
+ Việc làm là những hoạt động lao động tạo ra giá trị vật chất và giá trị
tinh thần cho mỗi cá nhân, cộng đồng mà không bị pháp luật cấm.
+ Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp là những hoạt động lao động
được thực hiện sau khi sinh viên được công nhận đạt tiêu chuẩn kiến thức
hoặc trình độ nghiệp vụ, những hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm
và tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần.
- Xây dựng phiếu hỏi cho đề tài.
Chúng tôi xây dựng phiếu hỏi với hệ thống 25 câu hỏi, trong đó có 20
câu hỏi đóng và 5 câu hỏi mở.
18
- Giai đoạn 3: Khảo sát thực tế. Tiến hành phát phiếu hỏi khảo sát, tổng hợp
và xử lí số liệu thu được.
Thời gian: Từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2015
Nhiệm vụ: Phát phiếu hỏi tới 100 sinh viên ngành Tâm lí học Giáo dục,
khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục từ khóa 1 đến khóa 4.
Tiến hành phỏng vấn sâu một số sinh viên đã tốt nghiệp về cơ quan,
chức vụ, lí do lựa chọn công việc và những đóng góp về mặt kiến thức, kỹ
một trật tự của suy luận lôgic, người nghiên cứu có thể thu được những thông
tin chân xác về sự vật hoặc hiện tượng từ đối tượng điều tra.
Mục đích thực hiện phương pháp:đây là phương pháp chủ đạo mà
nhóm chúng tôi sử dụng nhằm mục đích thu thập số liệu về thực trạng việc
làm của sinh viên ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện
Quản lí Giáo dục.
Khách thể áp dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: 100 sinh
viên ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục
từ khóa 1 đến khóa 4.
Nội dung: đưa ra hệ thống câu hỏi để tìm hiểu về thực trạng việc làm của
sinh viên ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo
dục.
Cách tiến hành phương pháp:
Bước 1: Xác định mục tiêu xây dựng phiếu hỏi.
Phiếu hỏi nhằm mục tiêu thu thập những thông tin về thực trạng việc làm
của sinh viên ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện Quản lí
Giáo dục: tình trạng việc làm, thời gian xin việc, mức lương, giờ làm việc,
mức độ hài lòng với công việc
Bước 2: Xác định nội dung phiếu hỏi.
- Thu thập thông tin về: khóa, xếp loại tốt nghiệp.
- Tình trạng việc làm: có hay chưa có việc làm.
- Xin được việc làm trong thời gian bao lâu, bằng cách nào.
- Cơ quan và chức vụ hiện tại.
- Công việc có đúng chuyên ngành hay không?
- Thời gian làm việc, mức lương và mức độ hài lòng với công việc.
-Ý kiến đóng góp của Anh (Chị) về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ mà
sinh viên cần trau dồi.
Bước 3: Xây dựng phiếu hỏi.
Từ những nội dung cần hỏi ở bước 2, chúng tôi đã xây dựng được phiếu
hỏi dành cho sinh viên tốt nghiệp từ khóa 1 đến khóa 4 với hệ thống 25 câu
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VIỆC LÀM
SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÍ HỌC
GIÁO DỤC, KHOA GIÁO DỤC – HỌC VIỆN QUẢN LÍ GIÁO DỤC
21
3.1. Một vài nét về khách thể nghiên cứu
3.1.1. Khoa Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục
Học viện quản giáo dục là một trường được thành lập từ năm 2006 với
tiền thân là trường Cán bộ Quản lý Gíao dục và Đào tạo. Hiên nay trường có 4
Khoa: khoa Công nghệ thông tin, khoa Quản lý, khoa Giáo dục và khoa Cơ
bản đã đào tạo đến khóa thứ tám.
Khoa giáo dục trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản các kiến
thức tâm lý học, giáo dục học. Có khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học
tâm lý, giáo dục học trong hoạt động giáo dục, tư vấn, dịch vụ và phát triển
cộng đồng. Có khả năng nghiên cứu khoa học,giảng dạy và tổ chức các hoạt
động dạy học về tâm lý học và giáo dục học.
Chức năng, nhiệm vụ của khoa là:
Phối hợp với phòng Đào tạo xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy,
học tập; tổ chức đào tạo theo chương trình giáo dục đại học mã ngành Tâm lý
học Giáo dục và một số mã ngành khác của Học viện.
Giảng dạy các chuyên đề thuộc lĩnh vực Tâm lý học Giáo dục cho các
khoa đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài Học viện.
Ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực Tâm
lý học Giáo dụctrong công tác quản lí giáo dục và xã hội.
Tổ chức tư vấn và dịch vụ về Tâm lý học Giáo dục cho cá nhân, tổ chức
và các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước.
Đội ngũ cán bộ: trưởng khoa là Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức. Hiện nay
khoa có 18 cán bộ, giảng viên, trong đó có 14 giảng viên, 1 chuyên viên văn
phòng, 1 trợ lý đào tạo, 1 trợ lý sinh viên, 1 viên chức.
3.1.2.Sinh viên ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa Giáo dục – Học viện
địnhcơ hội xin việc của sinh viên sau khi ra trường. Theo ý kiến của các anh
chị tham gia khảo sát, xếp loại học lực từ khá trở lên thường có cơ hội xin việc
cao hơn. Bên cạnh đó, việc rèn luyện, tích cực tham gia các hoạt động tình
nguyện, các phong trào sinh viên cũng giúp sinh viên hình thành những kỹ
năng yêu cầu trong công việc (kỹ năng giao tiếp, làmviệc nhóm, lập kế
23
hoạch ) giúp sinh viên có cơ hội tìm việc làm dễ dàng hơn. Theo khảo sát của
chúng tôi, lí do chủ yếu mà hiện tại sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm là:
- Đang trong quá trình chuyển việc: Một số anh chị đã đi làm nhưng xin
nghỉ việc vì công việc không được như mong muốn, chưa tìm được
công việc phù hợp với mình : chị N.T.T.G tốt nghiệp loại giỏi, là sinh
viên khóa 4 cho biết, “sau khi tốt nghiệp chị đã nhận dạy trẻ tự kỷ gần 1
năm nhưng vì lương thấp nên đang nộp hồ sơ ở nơi khác, nếu không xin
được việc ổn định thì sẽ học tiếp lên thạc sĩ để có cơ hội xin việc tốt
hơn”. Hoặc có một số anh chị đang trong thời gian chờ kết quả xin việc.
- Mức lương thấp, không phù hợp với năng lực bản thân:một số anh chị
đã đi xin việc nhưng các công việc tìm được đều là những việc có mức
lương thấp, công việc không phù hợp với năng lực bản thân. Mức lương
thấp không đủ chi tiêu, công việc không liên quan đến ngành học nên
không phát huy được năng lực nên họ chọn một giải pháp an toàn hơn
là học lên hoặc học một chuyên ngành khác để tìm một công việc phù
hợp.
- Ngành tâm lí học Giáo dục của Học viện Quản lí Giáo dục chưa có mã
ngành nên cũng gây khó khăn cho sinh viên khi đi xin việc.
- Lý do khác : Một số anh chị vì lý do gia đình (đang trong qúa trình
mang thai, chăm sóc con nhỏ, ), đầu tư vào việc nâng cao trình độ
chuyên môn
3.2.2. Thực trạng sinh viên tốt nghiệp Ngành Tâm lí học Giáo dục, khoa
Giáo dục – Học viện Quản lí Giáo dục đã có việc làm.
Cũng từ số liệu ở biểu đồ 3.1 ta thấy có 90,7% sinh viên tốt nghiệp ngành
làm việc có đúng chuyên ngành không?” chúng tôi thu được kết quả ở biểu đồ
sau:
Biểu đồ 3.2:Thực trạng việc làm theo chuyên ngành
Từ biểu đồ 3.2 ta thấy, có 42,9% sinh viên làm việc đúng chuyên ngành;
36,7% sinh viên làm việc gần ngành và 20,4% sinh viên làm việc không đúng
chuyên ngành. Như vậy, sinh viên làm việc đúng chuyên ngành có tỉ lệ cao
nhất với 42,9%. Một số chức vụ và cơ quan, đơn vị mà các anh chị sinh viên
25