Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thực trạng và giải pháp - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------------------------

HÀ THỊ NGỌC THỊNH

VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học

Hà Nội - 2016

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

--------------------------------------

HÀ THỊ NGỌC THỊNH

VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Xã hội học

cầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước, trong những
năm qua, bằng những nỗ lực có thể, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo: cập nhật chương trình, giáo trình đào tạo theo hướng hiện đại; tích
cực đổi mới phương pháp dạy học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
trong soạn giảng, áp dụng sơ đồ tư duy, tăng cường thực hành, thực tập, tổ chức
các câu lạc bộ tuổi trẻ sáng tạo, chú trọng giáo dục cho sinh viên những kỹ năng
mềm về giao tiếp, xử lý tình huống, ngoại ngữ, tin học, khuyến khích sinh viên
tham gia nghiên cứu khoa học… Chính vì thế, sinh viên ngày càng trở nên hiểu
biết, có kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên ngành và những kỹ năng cần thiết để
trở thành người lao động tốt sau khi tốt nghiệp.

3


Hàng năm, khảo sát sinh viên sau tốt nghiệp là việc làm quan trọng đối
với mỗi nhà trường, là một trong những tiêu chí của công tác kiểm định chất
lượng các trường đại học, cao đẳng theo điều lệ trường đại học và hướng dẫn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều nghiên cứu về
thực trạng việc làm của sinh viên như [37]: Vào năm 1999, điều tra sinh viên tốt
nghiệp trong 51 trường đại học, cao đẳng (trong đó có 2 đại học quốc gia và 3 đại
học vùng) với số sinh viên tốt nghiệp là 20.540 sinh viên. Kết quả điều tra cho
thấy tỷ lệ chung sinh viên có việc làm là 72,47% và chưa có việc làm là 27,53%.
Sau đó đến năm 2008, theo thống kê chương trình việc làm của Báo Người Lao
động thì bình quân cứ 100 lao động tốt nghiệp Đại học đến đăng ký tìm việc làm
thì có khoảng 80% không tìm được việc làm trong 3 tháng đầu sau khi ra trường,
50% thất nghiệp trong thời gian 6 tháng đầu và 30% sau 1 năm. Hay theo kết quả
điều tra mới nhất vào năm 2014 của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh thì chỉ có 40% sinh viên của trường tìm được việc làm trong 6 tháng sau
khi tốt nghiệp và sau 1 năm con số này tăng lên khoảng 70%. Theo thống kê trên

Không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới, nguồn nhân lực là
một lĩnh vực then chốt để phát triển kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu về lĩnh vực
việc làm để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một chủ
đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới.
Dựa trên thống kê về những kỹ năng được yêu cầu từ sinh viên mới tốt
nghiệp được thực hiện bởi những nhà tuyển dụng nhân lực ở các công ty/tập
đoàn lớn hàng đầu Mĩ như: Microsoft, Target jobs, BBC, Propects, NACE và
AGR và nhiều tổ chức khác, bài viết “What are the top ten skills that employers
want?” trên trang web của đại học Kent đã đưa ra 10 kỹ năng được đánh giá cao
nhất ở sinh viên mới ra trường ở tất cả các khối ngành như sau [38]: Đứng đầu
trong top 10 các kỹ năng này là kỹ năng diễn đạt ý tưởng; tiếp theo đó là kỹ năng
làm việc nhóm và khả năng nhìn nhận và đánh giá tính thương mại, khả năng
phân tích và nghiên cứu; theo sau đó là những kỹ năng: tự đưa ra sang kiến và
giải pháp, vận hành ổn định công việc, giao tiếp qua văn bản, lập kế hoạch và tổ
chức, khả năng linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh và cuối cùng là kỹ năng quản lý
thời gian. Bên cạnh đó bài viết này cũng đưa ra những kỹ năng quan trọng khác
như: kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng đàm phán và thuyết phục, kỹ năng máy tính, tự
nhận thức bản thân, tự học, tự lập, khả năng đưa ra quyết định…Dưới sự tổng kết
của những trang web có uy tín trên, những kỹ năng này có thể coi là những kỹ

5


năng tổng hợp nhất, tiêu biểu và chung nhất mà các ứng viên cần có để đáp ứng
bất cứ một loại công việc nào.
Một bài viết khác có tên: “What employers should know about hiring
international students” [39] đăng trên trang web của đại học Pittsburgh nói về
mối quan tâm của những nhà tuyển dụng đối với sinh viên quốc tế. Bài viết cung
cấp những thông tin về quy định làm thêm cho sinh viên quốc tế lao động tại Mỹ.
Cũng theo đó, sinh viên có thể làm những công việc có liên quan tới chuyên

các kỹ năng máy tính mà nơi tuyển dụng yêu cầu và thận trọng hơn khi đánh giá
kỹ năng máy tính của mình. (3) Các nhà cung cấp giáo dục được khuyến khích:
Thay đổi hồ sơ để phù hợp với những sinh viên tốt nghiệp, trao đổi với người sử
dụng lao động về những vấn đề liên quan đến những kỹ năng cần thiết của sinh
viên mới tốt nghiệp và không nên ngạc nhiên nếu sinh viên mới tốt nghiệp không
đáp ứng được những yêu cầu cần thiết.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong bài viết “Công tác đào tạo cử nhân Tâm lý học với đáp ứng yêu
cầu xã hội ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội” [16, 123 - 125] tác giả Nguyễn Hồi Loan đã có những nghiên cứu về
vấn đề đáp ứng nhu cầu xã hội của các cử nhân mới ra trường. Bài viết đã đưa ra
số liệu sinh viên tìm đc việc làm có liên quan đến ngành nghề đào tạo ngay sau 1
năm ra trường là 31.4%, số sinh viên chưa tìm được việc làm là 2.9%. Như vậy
có thể thấy rằng số cử nhân mỗi năm tốt nghiệp chưa đáp ứng nổi yêu cầu về
nguồn nhân lực chất lượng cao và kéo theo hậu quả là làm tốn kém tiền bạc, công
sức của cả người học và người dạy trong 4 năm đại học. Tác giả cũng đã đưa ra
kết luận tại một hội thảo của nhà trường cùng với Hội các nhà quản trị Doanh
nghiệp Việt Nam – đơn vị đào tạo và sử dụng sản phẩm đào tạo của trường là:
sinh viên của trường phải đào tạo từ 6 tháng đến 1 năm trước khi có thể chính
thức làm việc. Trong quá trình huấn luyện và đào tạo lại, các sinh viên phải bổ
sung và điều chỉnh kiến thức không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà còn về cả
thái độ và kỹ năng làm việc, nhận thức về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của
người lao động cũng như đạo đức, kỷ luật, kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn.
Thực tế đó đã cho thấy phương thức đào tạo của trường so với yêu cầu của thị
trường lao động còn có độ chênh nhất định, chưa đáp ứng kịp thời và phù hợp
với yêu cầu của nhà tuyển dụng, dẫn tới cả 3 bên: cơ sở đào tạo, sinh viên và nhà
tuyển dụng đều chịu những sức ép và trở ngại nhất định.

7


niên Việt Nam được đề cập khá toàn diện. Trước hết, tác giả nêu lên vị trí của
chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam. Từ đó, tác giả

8


đã mô tả phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm. Các
khái niệm về lao động, thị trường lao động, việc làm. Thực trạng vấn đề việc làm
ở Việt Nam và phương hướng giải quyết. Khuyến nghị định hướng một số chính
sách cụ thể về việc làm, mô hình tổng quát về chương trình quốc gia xúc tiến
việc làm.
Tác giả Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa với tác phẩm mang tên “Sử
dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam” (1991), [10, 24 - 26].
Tác phẩm đã nêu bật vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia. Từ đó, đề cập tới hiện trạng lao động và việc làm hiện nay
ở nước ta đồng thời nêu lên phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn lao động và giải
quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ kinh tế “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh
niên Việt Nam” [1, 12 - 67] của tác giả Ngô Quỳnh An đã nghiên cứu trên nhóm
thanh niên Việt Nam có độ tuổi từ 15 tuổi – 29 tuổi (từ năm 2006 – 2010). Tác
giả đã phát hiện những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở khả năng tự tạo việc làm của
thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của vốn con người và
vốn xã hội đối với khả năng tự tạo việc làm của thanh niên. Tác giả áp dụng kết
hợp cách tiếp cận vĩ mô và vi mô trong lý thuyết kinh tế lao động, xem xét đồng
thời các yếu tố thuộc về phía cung và cầu lao động và các kỹ thuật kinh tế lượng
cũng như phân tích định tính phù hợp để kiểm định các nhận định sau: 1/ Thanh
niên Việt Nam tự tạo việc làm do tác động từ “lực đẩy” nhiều hơn “lực hút”; 2/
Vốn con người được hình thành từ hoạt động thực tế phát huy tác dụng nhiều hơn
so với đào tạo chính thức đối với khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt
Nam; 3/ Vốn xã hội liên kết thay thế vốn xã hội quan hệ và vốn xã hội giao tiếp

hàng siêu thị. Trong đó, chú ý cân bằng giới tính và cân bằng giữa các khoa.
Luận văn Thạc sỹ Xã hội học “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề
nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội” (Nghiên cứu
trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) [5, 35 – 56] của tác
giả Phạm Huy Cường. Tác giả đã phân tích thực trạng định hướng nghề nghiệp
của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội và các yếu tố tác động đến
định hướng nghề nghiệp của họ chẳng hạn như yếu tố gia đình, yếu tố môi trường
học tập, yếu tố truyền thông đại chúng, yếu tố bạn bè, yếu tố môi trường. Đặc
biệt, luận văn còn được tác giả phân tích thêm các yếu tố tác động đến định
hướng nghề nghiệp giữa các nhóm sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội
chia theo ngành học, địa bàn cư trú, nghề nghiệp của cha mẹ và kết quả học tập
của sinh viên.

10


Luận văn Thạc sỹ Xã hội học “Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên
ngành xã hội học, thực trạng và giải pháp” [15, 22 – 78] của tác giả Vũ Thị
Huệ cho thấy được thực trạng việc làm của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt
nghiệp ra trường. Đồng thời, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng trong quá trình
xin việc và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tìm kiếm việc làm cho sinh viên
sau khi tốt nghiệp như các khóa đào tạo bên ngoài nhà trường, kiến thức chuyên
môn và kỹ năng mềm, hoạt động làm thêm…Cuối cùng, tác giả có đóng góp một
số ý kiến nhằm nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
khoa Xã hội học trong tương lai.
Luận văn “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp
của sinh viên ngoài công lập hiện nay” (Nghiên cứu Trường Đại học Đông Đô)
[22, 56 – 72] của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương. Tìm hiểu định hướng nghề
nghiệp trước khi thi đại học và định hướng nghề nghiệp sau khi học tập từ năm
thứ nhất đến năm thứ tư. Định hướng nghê fnghiepej và khu vực làm việc của

Qua việc tìm hiểu thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các nhân tố ảnh hưởng đến quá
trình tìm kiếm việc làm và những giải pháp cần thiết nhằm gia tăng cơ hội tìm
việc làm của sinh viên hiện nay, đề tài sẽ cung cấp những dữ liệu thực tế, thông
tin tham khảo cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, giáo dục đào tạo đại
học ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn trong quá trình thiết kế chương trình
đào tạo gắn với thực tiễn nhu cầu xã hội và nhu cầu học của sinh viên. Bên cạnh
đó, kết quả của luận văn còn có giá trị tham khảo đối với các nhà nghiên cứu,
sinh viên quan tâm đến vấn đề này ở hiện tại và trong tương lai.
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1.

Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm
việc làm của sinh viên hiện nay. Từ kết quả thu được, tác giả muốn đóng góp một
vài giải pháp thiết thực giúp sinh viên có thể tìm được công việc sau khi ra
trường.
4.2. Mục tiêu cụ thể
Tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tìm kiếm việc làm của
sinh viên sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện
nay.

12


5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

đều có công việc phù hợp với chuyên ngành được đào tạo.
Các thông tin về công việc đến với cựu sinh viên chủ yếu là từ các mối
quan hệ xã hội trong gia đình (bố, mẹ, người thân)
Hai kỹ năng được cựu sinh viên đánh giá cần thiế t nhấ t trong quá trình tìm
kiếm việc làm la:̀ kỹ năng sử dụng Tin học văn phòng và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ
.
8. Phương pháp thu thập thông tin
Các phương pháp nghiên cứu xã hội học được sử dụng để thu thập thông
tin phục vụ cho nghiên cứu. Từ yêu cầu của Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết
nghiên cứu, cộng với năng lực của người nghiên cứu, các phương pháp đặc trưng

13


của ngành Xã hội học như phân tích tài liệu; phương pháp quan sát; phương pháp
phỏng vấn sâu đã được chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này. Phần này sẽ
trình bày cách thức tiến hành các phương pháp đã nêu.
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này giúp chúng tôi có thêm nhiều cơ sở để tiến hành nghiên
cứu đề tài. Sử dụng phương pháp này, chúng tôi biết được rằng, những nghiên
cứu trước đã làm được những gì, nghiên cứu của chúng tôi góp phần củng cố
luận điểm nào, bổ sung luận điểm nào…Ngoài ra, phân tích tài liệu còn giúp
chúng tôi có được các thông tin thứ cấp phục vụ cho việc chứng minh luận điểm
nghiên cứu.
Trong đề tài này, việc phân tích tài liệu được tiến hành theo cách thức như sau:
Phân loại tài liệu bao gồm 2 loại: Tài liệu thứ cấp và tài liệu sơ cấp.
- Phân tích tài liệu thứ cấp:
Các tài liệu thứ cấp được phân thành các dạng chính, bao gồm: Sách
chuyên khảo, báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ-luận án tiến sĩ và các công trình
nghiên cứu khác. Mỗi dạng lại được xem xét cụ thể về: Số lượng tài liệu của mỗi


cứu

Ngoài ra, trong quá trình viết báo cáo, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp
phân tích tài liệu thứ cấp bằng việc trích dẫn các kết quả nghiên cứu, các nhận định

14


của các nghiên cứu đi trước (Có thể là kết quả đó giống hoặc khác với kết quả
nghiên cứu của chúng tôi) để minh họa thêm cho nghiên cứu của chúng tôi.
- Phân tích tài liệu sơ cấp:
Tài liệu sơ cấp được chúng tôi sử dụng chính là các kết quả thu được từ
phỏng vấn sâu, từ việc xử lí các số liệu thu được qua phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Đây là nguồn tài liệu chính phục vụ cho việc viết luận văn và chứng minh các
giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi.
Luận văn dựa trên số liệu

Đề tài cấp Đại học Quốc gia, mã số

QGTĐ.13.20, “Yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ năng cơ bản đối với
sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn”, khảo sát
vào tháng 06/2014 với 400 cựu sinh viên đã tốt nghiệp ra trường từ 2 năm đến 4
năm của 08 chuyên ngành đào tạo: Xã hội học, Triết học, Khoa học quản lý, Văn
học, Lịch sử, Công tác xã hội, Đông phương học và Báo chí truyền thông thuộc
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

15




16


11. Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, (1991), Sử dụng nguồn lao động và giải
quyết việc làm ở Việt Nam, NXB Sự Thật, Hà Nội.
12. Vũ Quang Hà, Nguyễn Thị Hồng Xoan, (2002), Xã hội học đại cương,
NXB ĐHQGHN, Hà Nội.
13. Lê Ngọc Hùng, (2010), Lịch sử và lý thuyết Xã hội học, NXB ĐHQGHN,
Hà Nội.
14. Vương Hồng Hà, (2013), Một số suy nghĩ ban đầu về nghiên cứu vốn xã
hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Xã
hội học, số 3 (123), tr 64 – 68.
15. Lê Ngọc Hùng, (2003), Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã
hội: trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên, Tạp chí Xã hội học, Số 2
(82), tr 67 – 75.
16. Vũ Thị Huệ, (2014), Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã
hội học, thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Xã hội học,
ĐHQGHN, Hà Nội.
17. Nguyễn Hồi Loan, (2009), Công tác đào tạo cử nhân tâm lí học với đáp
ứng yêu cầu xã hội ở trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Tâm lí học, số 8 (125).
18. Vũ Mạnh Lợi, (2006), Một số xu hướng và thái độ của thanh niên Việt
Nam với vấn đề việc làm, Tạp chí Xã hội học số 3 (95), tr 39 – 47.
19. Trịnh Duy Luân, (2006), Sự tham gia xã hội của thanh niên Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Xã hội học số 2 (94).
20. Trịnh Duy Luân, (2009), Vấn đề phát triển nguồn nhân lực, lao động việc
làm ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa”,
trong sách Dân số Việt Nam qua các nghiên cứu xã hội học, NXB Khoa
học Xã hội, Hà Nội.

32. Phạm Quang Vinh (1996), Một số vấn đề về việc làm và thất nghiệp ở Việt
Nam, Viện Kinh tế học, Hà Nội.
Tài liệu Tiếng Anh
33. Franzen A., Hangartner D. (2006), Social Networks and Labour Market
Outcomes: The Non – Monetary Benefits of Social Capital, European
Sociological Review, pp 353 – 368.
34. Granovetter M. (1995), Getting a job. A study of Contacts and Career,
second ad, The University of Chicago Press, Chicago.

18


35. Marsden P.V. (2001), Interpersonal Ties, Social Capital and Employer
Staffing practices. Trong sách “Social Capital: Theory and Research”,
NewYork, Part II, Chapter 5, pp 105 – 125.
36. Montgomery, J.D (1992), Job Search and Network Composition:
Implications of the Strength of Weak – Ties Hypothesis, American
Socialogycal Review, 57, pp 586 – 596.
Tài liệu Internet
37. Bài viết “Chiến lược phát triển giáo dục năm 2011 – 2020 của Thủ tướng
Chính phủ” đăng trên trang web
/>Phong-Dao-tao/CHIEN-LUOC-Phat-trien-giao-duc-2011-2020-629 truy
cập ngày 23/05/2015
38. Bài viết “Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Giáo dục sau khi ra
trường” đăng trên trang web truy cập ngày 23/05/2015.
39. Editor (2014), Uiversity of Kent, “What are the top ten skills that
employers want?” (www.kent.ac.uk/careers/sk/top-ten-skills.htm)
40. University of Pittsburgh, No date, “What employers should know about
hiring international students”
( />41. Top university (2013) , “Graduate- jobs: What employers look for”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status