0
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HUỆ VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
NGÀNH XÃ HỘI HỌC, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP
(Nghiên cứu trường hợp Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS. TS Nguyễn Thị Kim Hoa, người đã hết
lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này. Xin gửi
lời tri ân của tôi đối với những điều mà cô đã dành cho tôi.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy, cô trong khoa Xã
hội học – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, cũng như tạo mọi điều kiện
thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động
viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã
hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
luận văn thạc sĩ.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014
Học viên Vũ Thị Huệ
2
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Vũ Thị Huệ, học viên lớp Cao học Xã hội học, chuyên ngành Xã
hội học, khoá 2009-2012. Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
8. Khung lý thuyết 13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 15
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 19
1.3. Một vài nét về khoa Xã hội học, trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 24
1.4. Những khái niệm công cụ 26
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH XÃ HỘI
HỌC SAU KHI TỐT NGHIỆP 29
2.1. Tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp 29
2.1.1. Tình hình việc làm và thời gian có việc làm của sinh viên sau khi tốt
nghiệp 29
2.1.2. Việc làm và sự phù hợp với chuyên ngành được đào tạo 31
4
2.1.3. Thu nhập bình quân của sinh viên sau khi tốt nghiệp 35
2.2. Việc làm theo khu vực ngành kinh tế 37
2.2.1. Loại hình tổ chức mà sinh viên lựa chọn sau khi tốt nghiệp 37
2.2.2 Phân bố việc làm theo giới tính 40
2.3. Mức độ ổn định và hài lòng với công việc 42
2.3.1. Mức độ ổn định với công việc hiện tại 42
2.3.2. Mức độ hài lòng với công việc hiện tại 47
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TRONG QUÁ
TRÌNH XIN VIỆC VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÌM
KIẾM VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP 50
3.1. Những nguồn thông tin mà sinh viên sau tốt nghiệp tiếp cận để có đƣợc
việc làm. 50
3.2. Khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm 53
3.3. Vai trò của kiến thức và kỹ năng mềm trong quá trình xin việc của sinh
viên sau khi tốt nghiệp 57
Bảng 3.10: Mối quan hệ giữa làm thêm và thời gian chờ việc của sinh viên sau tốt nghiệp
73
Bảng 3.11: Mối quan hệ giữa làm thêm và mức độ thu nhập bình quân của sinh viên sau tốt
nghiệp 75
Bảng 3.12: Đánh giá của sinh viên đã tốt nghiệp về chất lượng chương trình đào tạo của
khoa 77
Bảng 3.13: Đánh giá chất lượng giảng viên của khoa 79
Bảng 3.14: Đánh giá về cơ sở vật chất phục vụ các môn học 81
Bảng 3.15: Những giải pháp giúp sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm 83
6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thời gian chờ việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp (đơn vị %) 30
Biều đồ 2.2: Đánh giá mức độ phù hợp giữa công việc và chuyên môn được đào tạo (đơn
vị %) 31
Biểu đồ 2.3: Mức thu nhập bình quân hàng tháng của sinh viên sau tốt nghiệp (đơn vị %)36
Biểu đồ 2.4: Khu vực kinh tế mà sinh viên lựa chọn sau tốt nghiệp (đơn vị %) 37
Biểu đồ 3.1: Đánh giá tình hình đi làm thêm của sinh viên trong thời gian học (đơn vị %)72
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tình hình và điều kiện thực tế của đất nước ta cùng bối cảnh quốc tế hiện
nay đã đòi hỏi chúng ta trong những năm tới đây, trên con đường công nghiệp hoá -
hiện đại hoá cần phát triển nhanh, bền vững, chủ động hội nhập quốc tế và đổi mới
sâu rộng. Nếu như trước đây trong thời kỳ bao cấp, vấn đề đào tạo và sử dụng
nguồn nhân lực về cơ bản là theo chỉ tiêu giao cho của nhà nước cho nên người
được đào tạo sau khi tốt nghiệp ngay lập tức được phân công công việc, điều này đã
tạo ra sức ì, sự ỉ lại cho sinh viên nói riêng và những người được đào tạo ở những
nhân.
Đối với thế giới, xã hội học không còn là một ngành mới mẻ, còn ở Việt
Nam, mặc dù đã có mặt trên 20 năm nhưng sự nhận thức của xã hội về vai trò và
tầm quan trọng của ngành xã hội học cũng chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng, nhu cầu
của xã hội đối với ngành này cũng không cao… Những yếu tố này đã tạo ra nhiều
khó khăn cho sinh viên ngành xã hội học tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Bởi
vậy, có thể thấy định hướng đào tạo và đào tạo là rất cần thiết. Đào tạo thành công
không chỉ chú ý đến việc cung cấp cử nhân xã hội học cho xã hội mà còn phải làm
sao cho xã hội hiểu biết nhiều về ngành, về tính chất, vai trò của xã hội học, từ đó sẽ
“kích cầu”, tạo ta cho xã hội có nhu cầu về ngành xã hội học nói chung.
Hơn nữa, mặc dù gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập và
lý giải về vấn đề việc làm và thất nghiệp của sinh viên, nhưng những công trình này
mới chỉ nói đến những lý do trực tiếp và gián tiếp dẫn đến tình trạng thất nghiệp hay
những khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm của sinh viên ở những ngành nghề
khác nhau mà chưa hướng đến nhóm đối tượng sinh viên thuộc một ngành nghề cụ
thể nào.
Đó là những cơ sở cho chúng tôi hướng nghiên cứu đề tài: “Việc làm sau
khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học, thực trạng và giải pháp”. Chúng
tôi hy vọng kết quả thu được từ cuộc nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng thể về tình
9
hình việc làm của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt nghiệp và có những ý kiến
đóng góp trên những khía cạnh cụ thể để công tác đào tạo của khoa Xã hội học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đạt hiệu
quả cao hơn.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Vận dụng những kiến thức xã hội học đã được học để nghiên cứu “Việc làm
sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học, thực trạng và giải pháp”.
Kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ và chứng minh cho tính thực
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc làm của sinh viên ngành xã hội học (thuộc khoa Xã hội học -
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) sau khi
tốt nghiệp.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội từ khoá 51 đến khoá 53.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Do tính phức tạp và rộng lớn của vấn đề nghiên cứu cùng những hạn chế
khác trong quá trình nghiên cứu nên chúng tôi tập trung vào phân tích một số vấn đề
cơ bản về thực trạng việc làm của sinh viên khoa Xã hội học - trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Thời gian: tháng 7 đến tháng 9 năm 2014.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Sinh viên ngành xã hội học sau khi ra trường đã có việc làm hay chưa và
phạm vi làm việc của họ như thế nào?
- Tri thức đã đào tạo có đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng hiện nay?
11
- Những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm việc làm của sinh viên đã tốt
nghiệp?
- Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tìm kiếm việc làm cho sinh viên mới
ra trường là gì?
6. Phƣơng pháp thu thập thông tin
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm bổ sung thông tin đề tài
luận văn. Đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có nội dung
liên quan tới vấn đề nghiên cứu để có thể đưa ra những so sánh giữa những kết quả
nghiên cứu đã có và kết quả nghiên cứu của luận văn.
67
33.5
2.2
Khóa 52
70
35,0
2.3
Khóa 53
63
31,5
12
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu: Tìm kiếm thêm những thông tin định tính liên quan
đến thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, những yếu tố ảnh hưởng
và một số giải pháp mà trong bảng hỏi chưa trả lời được.
Đối tượng được phỏng vấn: sinh viên đã tốt nghiệp đi làm
Nội dung phỏng vấn liên quan đến các vấn đề thực trạng việc làm, các nhân
tố tác động và giải pháp.
Số lượng phỏng vấn: 20 phỏng vấn sâu bao gồm: 8 phỏng vấn sâu khóa 51,
7 phỏng vấn sâu khóa 52 và 5 phỏng vấn sâu khóa 53.
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, hầu hết sinh viên xã hội học tốt nghiệp hệ chính quy trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (từ khoá 51 đến khoá
53) ra trường đã có việc làm và phạm vi việc làm của người tốt nghiệp đại học là
khá phân tán, trải rộng trên nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau.
- Có một khoảng cách nhất định giữa ngành nghề, kỹ năng được đào tạo và
yêu cầu thực tế của việc làm đòi hỏi sinh viên phải biết, thích nghi và đáp ứng ở
mức độ cao.
- Nguồn hỗ trợ thông tin từ bố mẹ, người thân trong gia đình cũng như việc
tốt nghiệp Khoảng cách
giữa ngành
nghề, kỹ
năng được
đào tạo và
yêu cầu thực
tế của nhà
tuyển dụng Nguồn thông
tin từ bố mẹ
người thân
trong gia đình
và việc thiếu
các mối quan
hệ xã hội là
những yếu tố
ảnh hưởng
chính Việc làm của sinh viên ngành xã hội học
14 15
Theo cách tiếp cận của các nhà cấu trúc – chức năng, xã hội được coi là một
hệ thống bao gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận giữ một vai trò bình
thường nào đó trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số
yêu cầu hay chức năng nào đó và thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội, vì
theo họ, “các hoạt động xã hội, các quá trình xã hội đã tồn tại bởi chúng có một
chức năng tích cực nào đó để thực hiện trong xã hội”. [33, tr. 61]. Điều đó có nghĩa
là sự tồn tại của chúng là để thực hiện một chức năng xã hội nào đó kể cả chúng tích
cực hay tiêu cực trong con mắt của chúng ta.
Các nhà xã hội học cấu trúc – chức năng nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ
của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng
nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc
tương đối ổn định, bền vững. Đồng thời các nhà xã hội học này luôn coi xã hội tồn
tại trong trạng thái có cân bằng, trật tự, hài hòa và như một thể thống nhất chứ
không phải là một nhóm hay tập hợp các cá nhân đối nghịch. Theo họ “các xã hội
có khuynh hướng được xây dựng nội tại, hướng tới sự hài hòa và tự điều chỉnh,
tương tự như những tổ chức hay cơ chế sinh học” [33, tr. 35].
Lý thuyết cấu trúc – chức năng cho rằng giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong
việc đáp ứng một số chức năng tối thiểu để đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển.
Cách tiếp cận cấu trúc – chức năng trong xã hội giáo dục bị phê phán vì đã phóng
đại phạm vi tác động của nhà trường và gắn kết giáo dục quá chặt chẽ với vấn đề
kinh tế. Nếu lý thuyết cấu trúc – chức năng cho rằng giáo dục là cần thiết để phân
định vị trí của từng cá nhân trong hệ thống thang bậc nghề nghiệp xã hội thì có lẽ họ
đã bỏ qua một sự thật là nhiều khi hệ thống kiến thức và kỹ năng được giảng dạy
trong nhà trường không thực sự phù hợp với những yêu cầu thực tế. Điều này đang
được thể hiện rất rõ trong hệ thống giáo dục nước ta hiện nay – một hệ thống giáo
dục với căn bệnh trầm kha là “bệnh thành tích”. Vì vậy trong bối cảnh hiện nay,
giáo dục đào tạo Việt Nam phải thể hiện được vai trò cung cấp cho đất nước một
đội ngũ lao động có kỹ năng, tay nghề cao để đáp ứng những đòi hỏi phức tạp của
thị trường lao động.
17
nguyện vào các hội (như các hội hát hoặc các câu lạc bộ bóng đá…), và mức độ tin
tưởng vào các định chế công cộng.” Tuy nhiên, đóng góp quan trọng của Putnam
đối với các khuynh hướng tiếp cận lý thuyết vốn xã hội chính là việc ông coi niềm
tin của con người (trust) trong xã hội như một giá trị cốt lõi của vốn xã hội. Khái
niệm này cũng được James Coleman đặt ra trong các nghiên cứu của ông cùng việc
gắn các giá trị của vốn xã hội với sự sáng tạo trong vốn con người cùng với các
chuẩn mực xã hội.
Nói tóm lại, vốn xã hội theo cách hiểu căn bản nhất bao gồm các thành tố: 1)
Hệ thống các mạng lưới xã hội; 2) Niềm tin của con người trong xã hội; và 3) Khả
năng kết nối để thực hiện công việc trong xã hội. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều
kiện “cần” chứ chưa phải điều kiện “đủ” để chúng ta có thể cụ thể hóa vốn xã hội
thành các giá trị mang tính thực tiễn đối với xã hội và đời sống của con người.
Trong xã hội của chúng ta, mọi sự vật hiện tượng đều có mối liên hệ nhất
định với nhau, mối liên hệ nào cũng nằm trong mạng lưới xã hội. Hệ thống xã hội là
hệ thống những tương tác giữa các chủ thể với nhau thông qua các hoạt động xã hội
và nó nằm trong các mối quan hệ xã hội cụ thể.
Mỗi chủ thể xã hội đều có các vị trí, vai trò xã hội khác nhau, hoạt động xã
hội cũng khác nhau nên quan hệ xã hội cũng có nhiều cấp độ khác nhau. Tham gia
vào các nhóm xã hội là thực hiện các quan hệ xã hội phù hợp theo hoàn cảnh của
nhóm đó, vị thế xã hội mà cá nhân có được cũng chi phối các dạng quan hệ xã hội
của cá nhân. Cơ hội, quyền lực, thu nhập, lối sống… cũng tạo ra các kiểu quan hệ
xã hội tương ứng.
Điều đó cho thấy, với vị thế của sinh viên mới tốt nghiệp thì việc tìm kiếm
việc làm sau khi ra trường là kết quả của các mối quan hệ xã hội đã được xây dựng
trên mạng lưới xã hội trước đó, hoặc là cấp độ quan hệ của gia đình đã tạo điều kiện
nhất định để đạt được mục đích trên. Thực tế đặc điểm xã hội của các cá nhân như:
tài sản, địa vị, tôn giáo, trình độ học vấn cũng liên quan nhất định đến tính chất của
quan hệ xã hội. Vì vậy nếu như sinh viên ngành xã hội học trước khi ra trường cần
19
20
thành công được. Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho đất nước ta hiện nay đó là làm thế
nào để tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa đào tạo và việc làm, đáp ứng được
những nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại.
Gần đây, vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp
nói riêng đã trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều đề tài cũng như các cuộc hội
thảo trong nước và đã nhận được sự quan tâm lớn của xã hội. Ví dụ như: “Giải
quyết giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn”. (Tạp chí Lao động – Xã hội, số 247, đăng từ
16 – 30/9/2004) của tác giả Nguyễn Hữu Dũng. Trong nghiên cứu đó tác giả có bàn
đến thực trạng chất lượng lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa, khi mà lực lượng lao động ngày càng dôi dư, khi mà đất
canh tác mất dần… Bên cạnh đó chất lượng lao động ở khu vực này khó có thể đảm
bảo khi tham gia vào các nhà máy… Trong nghiên cứu tác giả cũng đưa ra những
phương hướng và giải pháp cơ bản để giải quyết việc làm cho đối tượng này ở nông
thôn.
Trong bài viết: “Thực trạng lao động việc làm qua kết quả điều tra
1/7/2004” (Tạp chí Lao động – Xã hội, số 251, từ 7 – 10/11/2004) tác giả Trương
Văn Phúc đã đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực lượng lao động của
các tỉnh, thành phố cũng như vùng kinh tế trọng điểm. Trong loạt bài viết trên tác
giả đã đánh giá một cách khái quát những kết quả đạt được về giải quyết việc làm
cho lực lượng lao động.
Trong cuốn: “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” (NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, đề tài KX – 05 –
10). Hai tác giả đã đề cập đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, mối quan hệ
giữa nguồn nhân lực với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong
đề tài cũng làm rõ thực trạng lao động và chính sách sử dụng lao động ở nước ta
hiện nay còn nhiều bất cập và mất cân đối. Chất lượng của lao động cũng là một
22
mô hình xã hội hóa giáo dục, trong đó có các cơ sở đào tạo ngoài công lập. Cuối
cùng tác giả khẳng định cần đẩy mạnh các hoạt động để chắp nối cung – cầu lao
động, tạo cơ sở bình đẳng cho người lao động tiếp cận với các cơ hội việc làm.
Viêc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp nhận được mối quan tâm lớn của mọi
tầng lớp xã hội, của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách. Nhiều đề
tài nghiên cứu đã đi sâu phân tích thực trạng và những nguyên nhân ảnh hưởng đến
hoạt động tìm kiếm việc làm của sinh viên.
“Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” là tiêu đề cuốn sách của tác
giả Bùi Văn Nhơn (NXB Tư pháp, HN 2006) tác giả đã đánh giá cao vai trò của
phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa,
trong đó có vai trò của các cơ sở giáo dục – đào tạo, kể cả các cơ sở đào tạo ngoài
công lập là chủ yếu. Sử dụng sao cho hiệu quả nguồn nhân lực xã hội của các loại
hình đào tạo này cũng là vấn đề chính được tác giả Bùi Văn Nhơn bàn đến và theo
tác giả, đây là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong “Quản lý và
phát triển nguồn nhân lực xã hội” đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề
đào tạo việc làm cho người lao động, tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng còn do
chậm đổi mới tư duy trong giải quyết việc làm như những vấn đề về quan niệm…
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay theo tác giả tạo việc làm cho
người lao động với quan điểm sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội, có quan
niệm đúng đắn về việc làm và tự tạo việc làm là những hình thức hiệu quả hơn cả.
Tác giả Vũ Thị Mai “Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong
quá trình đô thị hóa Hà Nội” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2007) tác giả nêu thực
trạng việc làm của người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa và các
giải pháp tạo việc làm cũng như kinh nghiệm của các nước trong khu vực về tạo
việc làm cho người lao động. Theo tác giả, người lao động muốn có việc làm phù
hợp, có thu nhập cao thì đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho sức
lao động của mình, tức là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình,
các tổ chức xã hội để được đào tạo, trau dồi kiến thức, phát triển và nắm vững một
24
đoạn đầu của quá trình học tập suốt đời trong một xã hội hiện đại. Người sinh viên
sau khi tốt nghiệp để phát triển nghề nghiệp phải có ý thức mở rộng kiến thức nghề
nghiệp, nâng cao năng lực, tư duy khoa học, độc lập, lao động sáng tạo, phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới để không ngừng phát triển kỹ
năng nghề nghiệp.
Nhìn chung, các nghiên cứu xã hội học về đề tài việc làm - nghề nghiệp của
sinh viên khá phong phú điều đó đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng
lao động - việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng như tầm quan trọng của
quan hệ đào tạo - việc làm.
Trên cơ sở tổng quan các luận văn, luận án đi trước, việc nghiên cứu đề tài:
“Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngành xã hội học, thực trạng và giải
pháp” sẽ bổ sung cho vấn đề như đã nói ở trên. Kết quả của đề tài sẽ cho thấy thực
trạng của sinh viên ngành xã hội học sau khi tốt nghiệp, đồng thời cũng gợi mở một
vài giải pháp đối với ngành xã hội học nói chung và khoa Xã hội học - trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng nhằm phát
huy những kết quả đã đạt được và góp phần thúc đẩy công tác đào tạo có hiệu quả
nhất.
1.3. Một vài nét về khoa Xã hội học, trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
1.3.1. Lịch sử thành lập khoa
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa
V đã khẳng định rằng Xã hội học là một trong bốn ngành cần được phát triển nhanh.
Do vậy, vào năm 1976 Xã hội học đã được đưa vào giảng dạy chính thức trong
trường Đại học Tổng hợp (khoa Triết).
Vào năm 1991, khoa Xã hội học – Tâm lý học trường Đại học Tổng hợp Hà
Nội được thành lập.
Đến năm 1998, khoa Xã hội học – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội chính thức được thành lập.