Mỹ thuật công nghiệp và thiết kế thời trang trong cuộc sống xã hội - Pdf 29

Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG

1. Mỹ thuật công nghiệp và thiết kế thời trang trong cuộc sống xã hội
Từ khi hình thành xã hội loài người, con người đã luôn quan tâm, tìm hiểu và lý giải cái đẹp
- một phạm trù thẩm mỹ thuộc tính nhân sinh. Nó được thể hiện bằng sự toàn vẹn, hài hoà giữa
hình thức và nội dung. Nó luôn tồn tại trong cuộc sống, ẩn chứa trong các sự vật hiện tượng và
người nghệ sĩ sáng tạo nó thông qua các ngành nghệ thuật như: Văn học, hội hoạ, điêu khắc, âm
nhạc, kiến trúc…cùng với sự phát triển của xã hội loài người khi nhu cầu cái đẹp và sự sáng tạo
cái đẹp đã trở thành một đòi hỏi bức thiết, thì việc con người càng ngày hướng tới sự hoàn thiện
của cái đẹp là điều tất yếu.
Ngày nay, trong xã hội văn minh hiện đại cái đẹp không chỉ hiện hữu trong các lĩnh vực
nghệ thuật thuần tuý, mà ngay cả những vật dụng hàng ngày, ngoài người tiêu dùng chấp nhận.
Chính vì vậy MTCN ra đời và ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong sản xuất và đời
sống. Với cái nhìn tinh tế và óc tư duy sáng tạo, các hoạ sĩ MTCN đã cải tạo thế giới vật dụng
ngày một đẹp hơn, gần gũi hơn, phục vụ tốt hơn cho con người. Từ việc lập ra đề án, thiết kế sản
phẩm công nghiệp, máy móc, các mặt hàng dân dụng…cho đến quảng cáo, giới thiệu những mẫu
mã hàng hoá mới với nhiều tính năng cải tiến sẽ được đưa ra thị trường.
Hoạt động của MTCN ngày càng có thêm khả năng tiếp cận với việc giải quyết các vấn đề
về chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng và từ đó tăng độ hấp
dẫn của hàng hoá, kích thích nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
MTCN đã trở thành một môn khoa học thực sự tác động đến nhiều mặt của việc cải thiện
chất lượng cuộc sống. Vì thế, MTCN có khả năng vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa có tác
dụng nâng cao trình độ thẩm mỹ của con người.

Trong sự phát triển chung của MTCN, tạo dáng công nghiệp có vị trí rất quan trong, nó
bao trùm lên phần lớn các hoạt động: Kinh tế, quảng cáo, thể hiện…đưa ra những định hướng
thẩm mỹ cho con người, xã hội cũng như các sản phẩm công nghiệp. Trong đó ngành thời trang
đóng một vai trò không nhỏ, phục vụ nhu cầu mặc đẹp của con người.
Với chất xúc tác vô cùng quan trọng là sự du nhập và giao lưu quốc tế, dưới góc độ nghệ

thành tựu cao hơn nữa, nhiều xu hướng mới sẽ xuất hiện theo quy luật phát triển của thời đại
2. Khái quát lịch sử thời trang
2.1. Khái niệm về thời trang
Thời trang là trang phục đương thời, là tập hợp những thói quen và thị hiếu phổ biển trong cách ăn
mặc thịnh hành trong một môi trường nhất định. Bản chất sâu xa của hiện tượng là ở chổ trang
phục luôn gắn liền với một thời đại nào đó.
Mốt có thể nói là “hơi thở của cuộc sống”. Mốt, thời trang là hai khái niệm riêng biệt nhưng khi
giao thoa với nhau sẽ cho ta khái niệm mốt thời trang, do đó mốt thời trang có hai tính chất phổ
biến: tính văn hoá xã hội và tính nghệ thuật. Mốt được thể hiện rõ qua trang phục, tính cách, trình
độ văn hoá của mỗi con người.
Mỗi một thời kì, mốt lại được thể hiện một cách khác nhau do quan niệm xã hội và mức sống của
người dân. Nhìn chung mốt vẫn luôn gắn liền với cuộc sống, đi vào ngõ ngách của cuộc đời, mang
lại các giá trị vật chất và tinh thần. Mốt chính là một thứ giá trị nghệ thuật cao được chắt lọc từ
cuộc sống để mỗi người tự tìm tòi, ứng dụng cho mình.
2.2. Các vấn đề lý luận về thời trang
Ngành thời trang là một phần trong khái niệm chung về MTCN thời trang phục vụ thiết thực cho
đời sống hàng ngày của con người. Từ thủa sơ khai của loài người, trang phục đã được tạo ra để
bảo vệ cơ thể tránh được sự tác động của khí hậu và môi trường sống. Chúng được tạo ra từ
những chất liệu hết sức thô sơ như: vỏ cây, lá cây… cho đến thời đồng thau phát triển người dân
thời này đã sinh sống bằng săn bắn, hái luợm và trồng trọt…họ không dùng vỏ cây làm áo nữa mà
đã biết trồng gai, đay, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải.
Khi xã hội loài người có những bước tiến vượt bậc về khoa học kỹ thuật, tạo ra nhiều của cải
vật chất phục vụ cho con người và khi đó con người tự đặt ra cho mình những mục tiêu để phát
triển, một trong những mục tiêu đó là cái đẹp. Cái đẹp đã dần dần hiện hữu trong cuộc sống của
con người, đặc biệt rõ nét qua trang phục. Những ý tưởng đầu tiên về thời trang mới trở thành một
ngành công nghiệp phồn thịnh, và khi đó vẻ đẹp ”thắt đáy lưng ong” của các quý cô đã được thể
hiện bằng cách chít eo thật chặt, áo chật ngực, tay bồng cùng bộ váy được phồng bởi khung thép.
Những thay đổi về trào lưu văn hoá - xã hội cũng như thay đổi trong quan niệm về thế giới
cuối thế kỉ XIX đã dần thay đổi trong thiết kế thời trang. Xu hướng trước, khoe được thể hiện
trong các kiểu đầm để giúp họ dựng xe đạp một cách dễ dàng và thời gian này ra đời khái niệm

triển con người thời kỳ này hướng tới sự lãng mạn, trữ tình: những đường cong phức tạp đã
nhường chỗ cho đường cong duyên dáng, phô trương vẻ đẹp thanh nhã của con người). Tuy nhiên
ngày nay do nhu cầu của xã hội cũng như điều kiện xẫ hội đã ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu làm
đẹp và cuộc sống của con người. Cùng với sự phát triển của lịch sử, con ngưòi ngày càng làm cho
quần áo của mình có ích hơn, tiện lợi hơn, khoa học hơn. Không những thế quần áo còn thể hiện
phẩm chất đạo đức, địa vị xã hội, đặc điểm nghề nghiệp của mỗi người trong xã hội.
Chúng ngày càng đẹp hơn và làm cho con người đẹp hơn đúng như những lời cha ông ta đã nói: “
Người đẹp vì lụa…”
Như vậy, ăn mặc thể hiện chân, thiện, mỹ hội tụ đủ cả ba đức tính: khoa học, đạo đức, tính thẩm
mỹ.
2.4. Tính chất và đặc điểm của thời trang
Thời trang là một phạm trù liên quan đến thói quen, thị hiếu thẩm mỹ trong cách ăn mặc.
Nó có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thời trang luôn gắn liền với một không gian nhất định, có khuynh hướng gắn với một bộ
phận xã hội, một dân tộc hoặc một vùng thế giới.
- Thời trang là một lĩnh vực liên quan mật thiết đến hoạt động may mặc.
- Thời trang là cách ăn mặc thịnh hành gắn liền với một thời kỳ lịch sử.
Từ những đặc điểm cơ bản trên đã quy định nên tính chất của ngành thời trang như sau:
· Tính văn hoá xã hội:
Như chúng ta đã biết trang phục là tất cả những gì mà con người mang khoác trên cơ thể với mục
đích làm đẹp, làm sang cho người sử dụng. Tuy nhiên trang phục của người phương Tây và trang
phục của người châu á cũng như trang phục của các vùng, miền khác…lại hoàn toàn khác nhau
với những đặc trưng riêng: người phương Tây ăn mặc phóng khoáng, thoải mái với những sắc
màu tươi tắn rực rỡ; còn người phương Đông lại ăn mặc theo kiểu nhẹ nhàng, kín đáo, thoáng
mát, hoà sắc trầm hơn.Sự khác nhau trong trang phục phản ánh đẳng cấp của con người, cho biết
vị trí xã hội, giá trị của cải mà một người chiếm hữu.
· Tính nghệ thuật:
Cuộc sống không thể không có nghệ thuật, và thời trang luôn là nghệ thuật. Nói tới thời trang là
nói tới cái đẹp, thời trang “chuyên chở” cái đẹp không phải trong ý niệm trừu tượng mà ở cách thể
hiện cụ thể, là phương tiện để mọi người cùng tìm đến cái đẹp trong trang phục, cũng như trong


PHẦN 2:TÊN ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Thời gian trôi đi mang dấu ấn ngàn xưa vọng lại, như là những minh chứng cho sự suy tàn cũng
như vẻ vang của từng thời đại. Với câu hỏi: “Vào thời kì khởi thuỷ xa xăm kia, con người trên
mảnh đất Viêt Nam xưa đã sinh sống và lao động ra sao? “ Câu hỏi đó đã khiến cho biết bao nhà
khảo cổ học, nhân chứng học, các nhà nghiên cứu lịch sử… đã dày công nghiên cứu, tìm tòi.
Ngược dòng thời gian về văn hoá Đông Sơn vào khoảng 5000 năm trước công nguyên, chúng ta
thấy: lối sống, phong tục tập quán, hình thức lao động tạo ra của cải thật đáng kinh ngạc. Văn hoá
Đông Sơn có được sự rực rỡ để đến nay chúng ta vẫn tự hào và bạn bè nể phục một phần cũng
nhờ cái địa lợi đó, cách đây khoảng 2700 năm. Địa vực châu thổ 3 con sông lớn là mảnh đất màu
mỡ tạo điều kiện cho một nền nông nghiệp trồng lúa nước phát triển nhanh. Người Việt cần mẫn
trên những thửa ruộng Lạc Điền, theo ”thuỷ triều” của những con sông mà cấy cầy.
Khảo cổ cũng chứng minh được rằng vào thời đó người Việt cổ thường quần cư ở các làng ven
sông được bồi đắp bởi phù sa hàng năm. Cái địa lợi thứ hai mà không phải dân tộc nào thời bấy
giờ cũng có đó là nguồn mỏ dồi dào. Có lẽ hơi khập khiễng chăng khi giả định rằng nếu không có
nguồn mỏ, không có luyện kim thì cũng không có một nền văn minh đồ đồng Đông Sơn.
Dựa trên những kiệt tác bất hủ đó, đặc biệt là đồ trang sức và những công cụ bằng đồng trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày của người Việt cổ đã tạo cho tôi nguồn cảm hứng sáng tác mang tên
”Bước vọng nhạc”.

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CẢM HỨNG SÁNG TÁC

1. Khái quát nền văn minh Việt cổ
Từ lâu, sự phát triển rực rỡ của văn hoá Đông Sơn đã đi vào lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới với
một sự kinh ngạc của các học giả trong và ngoài nước. Hàng nghìn di vật vô cùng tinh xảo được
chế tác từ bàn tay khéo léo của người Việt cổ đã được phát hiện. Đây là minh chứng sống động
nhất về tài năng và sự sáng tạo của cha ông chúng ta.
Năm 1924, một người câu cá ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng bên sông Mã, thuộc làng Đông
Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Được tin đó, ông L.Pajol một quan chức thuế người Pháp bắt đầu tiến hành

và kỹ thuật chế tác đồng thau vô cùng độc đáo và tinh xảo. Bằng chứng là đã phát hiện nhiều
khuôn đúc đồng bằng đá và đất nung, đặc biệt là những mảnh khuôn đúc trống đồng. Trống đồng
được đúc bằng khuôn phá vì vậy cho đến ngày nay không có chiếc trống đồng nào có hình dáng
và hoa văn giống nhau. Và để tạo hoa văn trên trống đồng, thạp đồng người thợ tạo khuôn chắc
chắn phải hết sức khéo léo và có trình độ thẩm mỹ cao. Bởi lẽ, do yêu cầu của kỹ thuật đúc đồng
nên hoạ tiết hoa văn trang trí phải được khắc âm bản trên khuôn. Việc khắc âm bản khó hơn khắc
dương bản, đòi hỏi cư dân Đông Sơn ngoài việc khéo tay còn phải có tư duy nghệ thuật cao. Hoa
văn trang trí trên đồ đồng Đông Sơn rất phong phú, sinh động, chủ yếu là mô tả đời sống sinh hoạt
của con người: hình người hoá trang đội lông chim, hình thuyền, kiến trúc nhà sàn, hình người giã
gạo, trò chơi trồng nụ trồng hoa, cảnh chó săn hươu, chim lạc.
Có thể nói trống đồng là di vật điển hình thể hiện tài năng nghệ thuật và kỹ thuật tuyệt vời của chủ
nhân văn hoá Đông Sơn. Có hai hoa văn nổi bật không thể thiếu trên các mặt trống đồng Đông
Sơn là Mặt Trời và chim lạc. Hoa văn Mặt Trời với các tia cánh luôn được chia đều theo số chẵn
mang ý nghia của việc thờ thần mặt trời, còn hình tượng Chim Lạc được cách điều từ hình tượng
con cò có thể là Vật Tổ của người Việt cổ.
Với những nhóm di vật và hoa văn trang trí kể trên, diện mạo nhà nước Văn Lang thời đại các
Vua Hùng đã được khắc hoạ một cách chân thực. Và nghệ thuật Đông Sơn đã không ngừng toả
sáng không chỉ trong lịch sử nghệ thuật nước nhà mà còn góp một bản sắc riêng, độc đáo trong
nền nghệ thuật khu vực và trên thế giới.
2. Sơ lược về thời trang Việt Nam
2.1. Thời trang Việt Nam qua các giai đoạn
Trong những hội nghị gần đây về khảo cổ học khu vực Đông Nam Á cũng như vùng Châu Á -
Thái Bình Dương, bộ sưu tập vải do trung tâm Đông Nam Á khai quật được ở Châu Can và Đông
Xá đã được đánh giá như một ”kho báu vải sợi tiền sử Đông Nam Á”. Những dữ liệu hiện có đã
làm sáng tỏ rằng nghề dệt vải ở Việt Nam đã ra đời từ rất sớm, khoảng chừng 2300 ữ 2500 năm
trước công nguyên. Những dấu tích còn lưu lại trên trống đồng, đồ gốm và những bức tượng đã
phản ánh rằng từ thời Hùng Vương đã xuất hiện những kiểu váy ống, áo cánh xẻ ngực mặc ngoài,
yếm có hình thêu, thắt lưng được sử dụng cho phụ nữ. Đàn ông thì đóng khố với nhiều kiểu như:
khố dây, khố quấn quanh bụng, khố quấn rồi thả hai dải về phía sau.
Vào thời phong kiến trang phục của thường dân hầu như không có gì thay đổi: nam vẫn đóng khố

tạo ra thành quả trên không thể không nói tới hoa văn trang trí và màu sắc trong trang phục.
Có thể nói màu sắc trang phục Việt là “ngôn ngữ” riêng phản ánh rõ đặc trưng tâm lý và
văn hoá tộc người. Màu sắc trang phục Việt được tạo nên bởi hai chất liệu cơ bản: vải sợi tơ lụa
và kim loại. Màu của kim loại là màu của tự nhiên, còn màu của vải sợi vừa là màu của tự nhiên,
vừa là màu do con người bằng tư duy sáng tạo của mình tạo nên. Từ nguyên vật liệu vải sợi bông
hay tơ tằm (Người Việt đã tạo ra các màu sắc hài hoà với thiên nhiên, bốn mùa hoa lá xanh tươi).
Những màu nhuộm phổ biến nhất là: đen (thâm), nâu (nâu non, nâu già), xanh (tam giang, hoa lý,
thiên thanh), đỏ (đỏ điều, hoa hiên).
Nghệ thuật trang trí của người Việt không lộng lẫy, ồ ạt, chói chang, mạnh mẽ. Nó ẩn chứa sâu
vào tổng thể trang phục, người Việt giản dị nhưng tinh tế trong cách trang sức, trang điểm hàng
ngày, cũng như trong các lễ hội. Trang phục ghi dấu một giai đoạn phát triển cao của xã hội loài
người, mỗi một dân tộc trong cộng đồng nhân loại đều có cách tạo hình, trang trí, sử dụng màu
sắc khác nhau theo đặc điểm văn hoá riêng. Vẻ đẹp trang phục Việt là vẻ đẹp của thẩm mỹ nông
nghiệp và kỹ thuật thủ công. Trong bối cảnh của văn hoá Việt truyền thống, hình dáng màu sắc
của trang phục như mang theo một bằng chứng văn hoá, một tư duy thẩm mỹ, thể hiện sự sinh
động của cuộc sống. Khi ta băt gặp màu sắc của trang phục trên ruộng đồng, trong hội hè, đình
đám hay trên đường… là lúc ta bắt gặp sự sống, băt gặp nét tâm hồn phong phú của người Việt.
Vẻ đẹp ấy của trang phục được bắt nguồn từ một cơ sở rất cơ bản là lao động cùng những màu sắc
gần với cỏ cây hoa lá dịu nhẹ, tươi tắn hoặc nồng ấm như đất phù sa.
Trang phục Việt xưa kia cũng như những giá trị thẩm mỹ của nó không phải hàng hoá du nhập từ
bên ngoài vào. Thực tiển cho thấy, từ nguyên liệu đến nghệ thuật tạo hình, tạo mẫu trang trí trên
trang phục truyền thống hoàn toàn do chính bàn tay, khối óc con người tạo dựng nên, có thể thấy
rằng đây là sự sáng tạo ra các giá trị văn hoá có gốc rễ lâu đời, có bản lĩnh, bản săc và được định
hình, tồn tại qua nhiều thế hệ. Chính điều này đã làm cho trang phục Việt qua biết bao biến đổi
nhưng vẫn mang sắc thái, đường nét riêng của mình, không bị hoà lẫn tan biến.
2.3. Trang phục của các dân tộc Việt Nam
Trang phục dân tộc là một nền tảng rất quan trọng mà chung ta không thể không nhắc đến. Nước
ta có 54 dân tộc anh em tương ứng với 54 kiểu trang phục khác nhau.
Mỗi dân tộc đều có một kiểu trang phục với những bản sắc riêng, không thể nhầm lẫn với bất cứ
trang phục của dân tộc nào khác.

Người Lô Lô, có Lô Lô hoa và Lô Lô đen. Người Lô Lô hoa thì mặc quần trong khi người Lô Lô
đen lại mặc váy, nhưng họ đều mặc những chiếc áo rất ngắn.
Phụ nữ người Phù Lá mặc áo ngắn và váy có trang trí những hoa văn rất riêng khác hẳn với những
hoa văn của các dân tộc khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status