Giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ trên địa bàn huyện phú lương tỉnh thái nguyên - Pdf 29


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––

PHẠM THỊ MINH HẰNG
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

G
HÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN VĂN CÔNG

THÁI NGUYÊN – 2014
i

cũng như cơ sở nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, an
hem, bạn bè những người luôn ủng hộ, động viên tạo điều kiện cho tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài. Trong quá trình thực hiện, luận văn
khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý
thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Minh Hằng iii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1
2

1.3.1.3. Nhật Bản 33
33
1.3.2.1. Thái Bình 33
1.3.2.2. Lạng Sơn 34
1.3.2.3. Quảng Ninh 35
, tỉnh Thái Nguyên 35
Chƣơng 2 38
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. 38
38
38
39
39
Chƣơng 3 42
42
TẠI CHỖ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƢƠNG 42
- 42
- 42
42
42
42
i nguyên thiên nhiên 43
44
44
45
49
3.1.3. Điều kiện văn hóa 50
v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


4.2.2.1. Chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài 84
vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4.2.2.2. Chính sách ưu tiên phát triển nhân lực các dân tộc thiểu số, vùng cao và vùng
sâu, vùng xa 84
4.2.3. Phát triển quỹ giải quyết việc làm 85
4.2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 86
4.2.5. Tổ chức hoạt động giới thiệu việc làm 89
89
90
4.4. Điều kiện thực hiện các giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ trên địa bàn huyện
Phú Lương 91
4.4.1. Về phía Nhà nước và các cơ quan công quyền 91
4.4.2. Về phía người lao động 91
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CN : Công nghiệp
CNH : Công nghiệp hóa
DS : Dân số
HĐH : Hiện đại hóa

ix
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của huyện Phú
Lương qua các năm 47
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu lao động làm việc phân theo khu vực kinh tế của huyện
Phú Lương (2010 – 2013) 56
Biểu đồ 3.3: Năng suất lao động bình quân theo ngành kinh tế của huyện Phú
Lương (2010 – 2013) 57
Biểu đồ 3.4: Cơ cấu lao động làm việc theo loại hình kinh tế 59
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu việc làm theo vị thế công việc 60
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ thất nghiệp thành thị và thời gian lao động sử dụng ở nông thôn 62
Hình 1.1. Cân bằng thị trường việc làm 9
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối
với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cố
.
Đối với nước ta giải quyết việc làm còn là giải quyết một vấn đề cấp thiết

Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra giải pháp phù hợp để giải
quyết việc làm tại chỗ cho người lao động trên địa bàn huyện Phú Lương.
Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu nghiên cứu chính được xác định là:
- Làm rõ bản chất và vai trò của việc làm và giải quyết việc làm;
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm trên địa
bàn huyện Phú Lương;
- Đề xuất các giải pháp cơ bản để giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao
động trên địa bàn huyện Phú Lương.

- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động. Với đối
tượng này, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản và tiến hành khảo sát
thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cùng với việc đề xuất giải pháp giải
quyết việc làm tại chỗ cho người lao động trên địa bàn huyện Phú Lương.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các vấn đề về việc làm và các yếu tố
ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm tại chỗ.
+ Về không gian: Giới hạn tại địa bàn huyện Phú Lương.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010 đến 2013.

Luận văn hệ thống hóa và góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
việc làm và vai trò của giải quyết việc làm.
Luận văn nghiên cứu và phản ánh khá toàn diện về thực trạng việc làm và
tình hình phát triển kinh tế nhằm tạo việc làm của huyện Phú Lương.
Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm phát triển kinh tế và tạo việc làm tại
chỗ trên địa bàn huyện Phú Lương


công việc đòi hỏi người làm việc phải có một chuyên môn nhất định nào đó để tạo ra
một thu nhập nhất định. Trong chế độ đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm và thất nghiệp…
Hiện nay, nước ta với nền kinh tế đã chuyển sang một nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, với nhiều tư duy thay đổi thì quan niệm về việc làm cũng đã thay
đổi một cách căn bản, được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các
hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà pháp luật không cấm. Điều 13,
chương II Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm”. [13,tr11]
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau: làm các
công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật của công việc đó. Làm những
công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho
cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật.
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai
điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
các thành viên trong gia đình.
- Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp
luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của
một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Quan niệm này đã góp phần mở rộng
khái niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào các
doanh nghiệp, cơ quan nhà nước. Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật Lao
động nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy việc làm phụ thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác

phải có một quá trình nhất định. Quá trình ấy ngắn hay dài tùy thuộc vào trình độ,
hoàn cảnh khách quan, chủ quan của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Việc làm đầy
đủ mới chỉ nói lên sự giải quyết việc làm về mặt số lượng, chưa tính đến việc làm
đó có phù hợp với khả năng, trình độ sở trường của người lao động hay không.
“Việc làm hợp lý” là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ ai có khả năng
làm việc, không chỉ tính trong nền kinh tế và phù hợp với trình độ và nguyện vọng
của họ. Việc làm hợp lý là việc làm không chỉ tính về mặt số lượng, mà còn tính
đến khả năng, trình độ, nguyện vọng, năng khiếu của người lao động, là sự phù hợp
về cả số lượng và chất lượng của các yếu tố con người, vật chất của sản xuất và xã
hội, sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích xã hội. Việc làm hợp
lý có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn hẳn so với việc làm
đầy đủ. Đó là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ.
Hiện nay, ở nước ta số người chưa có việc làm còn khá lớn, vì vậy nhiệm vụ
đặt ra trước mắt là giải quyết việc làm đầy đủ. Cùng với quá trình phát triển kinh tế
xã hội, cũng đồng thời giải quyết việc làm một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh
tế xã hội. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại ngày càng phát
triển và quá trình toàn cầu hóa từng bước nâng cao tỷ trọng việc làm hợp lý.
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

“Việc làm tự do” là việc làm trong đó người lao động được tự do chọn việc
làm với nghề nghiệp, thời gian thích hợp, phát huy cao nhất hiệu quả sáng tạo của
mình. Hiện nay, việc làm tự do ở nước ta còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Tỷ lệ việc làm tự do
sẽ tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật.
“Việc làm bền vững” gồm 6 yếu tố: (1) Cơ hội việc làm; (2) làm việc trong
điều kiện tự do; (3) việc làm có năng suất; (4) công bằng; (5) an ninh việc làm và
(6) bảo vệ nhân phẩm. Hai yếu tố đầu tập trung vào tính sẵn có của việc làm, trong
khi 4 yếu tố sau tập trung vào tình trạng, chất lượng của việc làm.
Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và
chất lượng.

hoặc thôi không đi làm việc nữa, đó là những người nằm ngoài LLLĐ.
Quan niệm của A. Sammuelson cho rằng “Người có việc làm là người đi
làm, người không có việc làm là người thất nghiệp. Những người không có việc
làm, nhưng không tìm được việc làm là những người ngoài lực lượng lao
động”[10,tr235]. Quan niệm này khá chung chung không cụ thể và có vấn đề không
phù hợp với thực tế hiện nay, như những người làm nội trợ, tàn tật, nghỉ hưu…
không thể coi họ là những người thất nghiệp do vậy quan niệm của Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội về người thất nghiệp có phần hợp lý hơn: “Những người
thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc
làm, có nhu cầu về việc làm nhưng không tìm được việc làm” [13,tr23].
Như vậy, người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc LLLĐ hay dân số hoạt
động kinh tế. Một người thất nghiệp thường có 3 đặc trưng:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện chưa có việc làm
Với cách hiểu như trên, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa
có việc làm đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu chí quan trọng để xem xét
một người được coi là thất nghiệp thì cần phải biết được người đó có muốn đi làm
hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khỏe, có nghề nghiệp song
không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như thừa kế
của bố mẹ, nguồn tài trợ.
Theo ILO, “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi
lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhất định. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,
không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm” [9,tr27]

W
La Lc L0 Lb Ld

A R
E
S
D
L
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong giai đoạn khủng hoảng của nền kinh tế. Ngược lại, giảm tối đa trong trường
hợp có sự phát triển nhanh chóng, hoặc trong giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp được các nhà kinh tế sử dụng làm một trong những nhân tố
kinh tế vĩ mô đo lường tốc độ tăng trưởng và sức khỏe hiện tại của nền kinh tế. Khi
tỷ lệ thất nghiệp bắt đầu giảm, nó thường kết nối với các nhân tố vĩ mô khác như sự
gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, được coi là chất xúc tác cho sự gia
tăng việc làm. Ví dụ, khi khách hàng bắt đầu đặt những đơn hàng cho các sản phẩm,
doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động để kịp theo tiến độ của nhu cầu. Khi nhu cầu
giảm, người lao động sẽ bị sa thải do các doanh nghiệp phải giảm gánh nặng không
cần thiết để bảo tồn nguồn lực. Do vậy khi nền kinh tế tăng trưởng kéo theo việc
làm gia tăng và do đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
Thất nghiệp được phân thành các loại sau:
Thất nghiệp tự nhiên: là loại thất nghiệp được dùng để chỉ mức thất nghiệp
mà bình thường nền kinh tế trải qua. Nó đơn giản là loại thất nghiệp không tự biến
mất ngay cả trong dài hạn.
Thất nghiệp tạm thời: là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không
ngừng của lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác
nhau của cuộc sống (sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm việc làm, phụ nữ sau sinh con có

Thất nghiệp theo ngành nghề: là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành nghề nào đó.
Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên người ta còn có thể chia thất nghiệp theo
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo…
1.1.1.3. Thị trường việc làm
- Cung việc làm:
Cung việc làm là mối quan hệ giữa lượng cung việc làm với giá cả của lao
động, với giả thiết là các yếu tố khác không thay đổi.
Trong nền kinh tế, cung việc làm được tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc vào các
đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước, tư nhân và của các hộ gia đình (chính
những người lao động). Khi việc làm tăng lên là các doanh nghiệp thuê mướn lao
động nhiều hơn, việc thuê mướn nhiều hay ít phụ thuộc vào việc người tiêu dùng
mua hàng hóa và dịch vụ của họ sản xuất ra nhiều hay ít. Nhu cầu thuê mướn lao
động cũng như về các đầu vào khác của quá trình sản xuất (đất đai, nhà xưởng, máy
móc, vốn, công nghệ,…) là cầu phát sinh, xuất phát từ mong muốn của khách hàng.
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Vì thế, người sử dụng lao động thuê nhiều hay ít phụ thuộc vào cầu sản phẩm, điều
kiện hoàn cảnh của từng tổ chức, từng doanh nghiệp và của nền kinh tế dẫn đến
cung việc làm nhiều hay ít biến động theo. Ngoài ra, khi quyết định tạo ra thêm một
hay nhiều việc làm, cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động cần chú
trọng đến số lượng lao động, chất lượng lao động để xác định giá cả sức lao động và
các quyết định về quan hệ lao động như điều kiện làm việc, các chế độ khuyến
khích, chính sách tiền lương, bảo hiểm… Số lượng việc làm trong nền kinh tế có
tăng lên hay không là phụ thuộc vào quyết định thuê lao động của các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Giả sử trong một doanh nghiệp mục đích cuối cùng là tối đa hóa
lợi nhuận và là một đối tác không làm thay đổi đến các giá cả thị trường thì doanh
nghiệp đó tối đa hóa lợi nhuận bằng cách thuê “đủ và đúng” số lượng vốn và lao
động cần thiết. Và mức độ thuê này khác nhau trong dài hạn và trong ngắn hạn.
Ngắn hạn là một khoảng thời gian mà doanh nghiệp không thể thay đổi quy mô nhà

sự đánh đổi thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi. Theo “mô hình lựa chọn làm
việc – nghỉ ngơi” nếu nghỉ ngơi nhiều, chúng ta sẽ sống không có những tiện nghi.
Còn nếu làm việc, chúng ta sẽ có tiền để mua hàng hóa như mong muốn và phải từ
bỏ thời gian nghỉ ngơi của mình. Vậy quyết định làm việc của con người phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố như sự tăng lương và thu nhập thực tế trên thị trường hay sự
thay đổi sở thích, hành vi nghề nghiệp hứng thú và hoàn cảnh gia đình. Khi quyết
định đi làm thì người lao động mong muốn có một mức tiền lương và đó là mức tiền
lương giới hạn. Người lao động sẽ không làm việc nếu tiền lương trên thị trường (là
mức tiền lương mà người chủ sẵn sàng trả) thấp hơn tiền lương giới hạn (là mức
lương người lao động muốn có đề chấp nhận việc làm). Như vậy, cầu việc làm là
yếu tố do người lao động và những người mong muốn có việc làm quyết định, trái
lại với cung việc làm là yếu tố do các đơn vị sản xuất kinh doanh tạo GDP cho nền
kinh tế quyết định. Sự vận động giữa hai yếu tố này như thế nào và đem lại kết quả
gì, có như mong muốn của các nhà lãnh đạo, của người lao động không?
1.1.2. Chính sách việc làm
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc
gia nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Hội nghị thượng
đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1995 đã coi mở rộng việc làm là một trong những nội
dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển xã hội của các nước trên thế giới.
Đối với nước ta, tạo thêm việc làm cho người lao động, kiềm chế thất nghiệp
ở tỷ lệ thấp là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thường xuyên
quan tâm thực hiện.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các
giải pháp và công cụ nhằm sử dụng LLLĐ và tạo việc làm cho LLLĐ đó.
Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước
trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng, mục
tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần ổn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status