Tác động của chất lượng thông tin kế toán đến rủi ro thanh khoản của cổ phiếu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 29


 VÀ 
   KINH  TP.  CHÍ MINH




CÁC CÔNG TY

     
Tp.  Chí Minh   2013

 VÀ 
   KINH  TP.  CHÍ MINH

TPHCM, ngày 20 tháng 10 2013
Tác  

Trang phụ bìa
Lời Cam Đoan
Mục Lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bản
Phần mở đầu
 1
 1
1.1.1 Thông tin  1
 1
 1
 2
 9
 9
1.2.2 RRTK 10
        

KHOÁN 11
TTCK 11
à RRTK  12

 61
 67
 69
 70
 71
 71

 72
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

BCTC: Báo cáo tài chính
CBTT: Công bố thông tin
CON: Statement of Financial Accounting Concepts
Khái niệm về BCTC
DN: Doanh nghiệp
ERC: Hệ số phản ứng thu nhập
FASB: Financial Accounting Standards Board
Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính (Mỹ)
KLGD: Khối lượng giao dịch
RRTK: Rủi ro thanh khoản
SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán
TTKT: Thông tin kế toán
TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCK: Ủy ban chứng khoán
VSD: Trung tâm lưu ký chứng khoán


mãn ở mức tối đa những gì mà những đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài cần,
trong đó các thông tin minh bạch và dễ hiểu hơn là một trong những điều mà đối
tượng sử dụng cần. Thông tin kế toán (TTKT) – những thông tin được trình bày
trong các BCTC của DN – giữ vai trò kết nối một công ty với rất nhiều đối tượng
sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp (DN), nó đóng một vai trò hết
sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích, có thể giúp cho người
sử dụng thông tin ra quyết định một cách hợp lý, thỏa mãn mục tiêu của họ. Các
thông tin do DN công bố với công chúng thông qua các BCTC của họ thực sự có
ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin, đặc biệt là các
nhà đầu tư. Có thể nói rằng công bố thông tin (CBTT) là một yếu tố quan trọng có
ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự
nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN.
Chứng khoán là một loại hàng hóa vốn, rất trừu tượng và giá trị của nó không liên
quan gì đến hình thức vật lý mà dựa vào giá trị trong tương lai của nó. Tính hiện
thực của khả năng này càng đòi hỏi nhà đầu tư phải quan tâm nhiều đến đơn vị phát
hành. Họ muốn biết rõ các thông tin về đơn vị đó, như kết quả kinh doanh trước đó,
tình hình chứng khoán…trước khi quyết định mua, bán chứng khoán. Trong một thị
trường hiệu quả, giá các chứng khoán không tách rời giá trị kinh tế mà các nhà đầu
tư tính toán, ước tính cho chứng khoán đó. Giá trị kinh tế của chứng khoán được
xác định thông qua dự đoán của các nhà đầu tư về rủi ro, lợi nhuận và sự không
chắc chắn. Nếu giá của TTCK có độ lệch so với giá trị kinh tế ước tính thì trong
trường hợp này, nhà đầu tư cố gắng đưa hai giá trị này tương thích với nhau. Vì vậy,
khi có thông tin mới được đưa vào thị trường thì thông tin này có thể sẽ ảnh hưởng

đến việc định giá giá trị kinh tế chứng khoán của nhà đầu tư và từ đó đưa ra quyết
định có mua hay bán chứng khoán hay không. Do đó, các thông tin này nếu có độ
tin cậy cao, dễ hiểu và có thể dự đoán được thì có thể giúp nhà đầu tư đưa ra quyết
định lựa chọn chứng khoán với kỳ hạn mong muốn của chính nhà đầu tư và một
trong những mong muốn mà luận văn muốn đề cập đến là có thể giảm được RRTK
của thị trường.



Các công trình nghiên cứu trước đây với việc sử dụng phương pháp định tính đã
đưa ra được một số kết quả sau:
(1) 
Đào Thị Thảo Uyên nghiên cứu “Bài học và giải pháp nâng cao vai trò thông tin kế
toán từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008” vào năm 2009.
Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu khẳng định được vấn đề TTKT trong BCTC đã
không được các công ty, các nhà đầu tư và chính phủ Mỹ sử dụng một cách có hiệu
quả để ra các quyết định kinh tế. Bên cạnh đó, những thông tin hiện

tại trình bày
trên BCTC chưa thực sự hữu ích để giúp cho các nhà đầu

tư, chính phủ có cái
nhìn toàn diện và sâu sắc về mọi hoạt động kinh doanh của

DN cũng như dự báo
tương lai. TTKT chưa đủ sức mạnh để

các nhà nghiên cứu kinh tế như Paul
Krugman…thuyết phục chính phủ và công

chúng về những dự báo nền kinh tế.
Từ đó rút ra những bài học và giải pháp cho

Việt Nam trong việc nâng cao vai trò
TTKT đối với các quyết định kinh

doanh của DN, của nhà đầu tư, đặc biệt là đối

(4) 
Văn Hải Ngọc nghiên cứu “Các giải pháp nâng cao tính hữu dụng của thông tin kế
toán công bố đối với nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam” năm 2011.
Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu đưa ra những vấn đề chung về CBTT kế toán và
yêu cầu của nhà đầu tư đối với TTKT công bố đối với nhà đầu tư trên TTCK. Sau
đó đánh giá về thực trạng CBTT kế toán và sử dụng TTKT đối với nhà đầu tư trên
TTCK Việt Nam. Cuối cùng tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao tính hữu dụng
của TTKT công bố đối với nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam
(5) 
Trương Nguyễn Mai Thảo nghiên cứu “Các giải pháp hoàn thiện thông tin kế toán
nhằm nâng cao ảnh hưởng của thông tin kế toán đến quyết định của nhà đầu tư trên
TTCK Việt Nam” vào năm 2013.
Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu đưa ra tổng quan, thực trạng và các giải pháp hoàn
thiện TTKT nhằm nâng cao ảnh hưởng của TTKT đến quyết định của nhà đầu tư
trên TTCK Việt Nam.
: Như vậy, các công trình nghiên cứu trong nước trước đây đã khẳng
định được vai trò của TTKT có tác động mạnh mẽ đến quyết định của nhà đầu tư,
rủi ro trong TTCK Việt Nam và đưa ra được một số giải pháp để nâng cao tính hữu
dụng của TTKT cho các nhà đầu tư ở TTCK Việt Nam. Nhưng hầu như 
 nghiên cứu riêng về tác động của chất lượng TTKT
đến RRTK của TTCK và đặc biệt, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong hầu
hết các công trình nghiên cứu trước đây 
, không đề cập đến phương pháp định lượng. Việc sử dụng phương pháp
định tính dẫn đến một vấn đề là khó có thể nào đo lường được hoặc nếu có thì độ tin
cậy của một số vấn đề nghiên cứu đặc biệt cũng không được đảm bảo, ví dụ như
trong trường hợp nghiên cứu này là nghiên cứu về chất lượng của TTKT. Muốn đo
lường chất lượng TTKT ta  để có

Đánh giá thực trạng về chất lượng TTKT trên các BCTC của các công ty niêm yết và
mối quan hệ với RRTK trên TTCK Việt Nam.
Đưa ra một số giải pháp đề nghị để nâng cao chất lượng TTKT được công bố cho
các chủ thể tham gia trên TTCK Việt Nam:
+ Các cơ quan quản lý nhà nước – là tổ chức quản lý nhà nước về chứng khoán và
TTCK, với chức năng giám sát và điều hành cần có những chính sách thúc đẩy phát
triển TTCK; là nhân tố quan trọng đảm bảo thị trường hoạt động trật tự, công bằng
và đúng pháp luật.
+ Ủy ban chứng khoán (UBCK) – là tổ chức trực tiếp thanh tra, giám sát hoạt
động và xử lý các vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, là nơi ban hành tính

pháp lý cho việc lập và CBTT kế toán.
+ Nhà phát hành chứng khoán: là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua
TTCK, là tổ chức cung cấp các chứng khoán, bao gồm các công ty niêm yết trên
TTCK, các tổ chức tài chính – là tổ chức có chứng khoán niêm yết, đăng ký giao
dịch trên SGDCK, là tổ chức có trách nhiệm công bố các thông tin tài chính.
+ Các DN kiểm toán độc lập – là tổ chức với vai trò quan trọng của dịch vụ kiểm
toán, dịch vụ xác nhận niềm tin trên TTCK thông qua việc kiểm tra các thông tin
công bố có trung thực, hợp lý không. Kết quả kiểm toán của tổ chức này có ảnh
hưởng rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư.
+ Các công ty chứng khoán: là tổ chức với tư cách pháp nhân kinh doanh chứng
khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, tư vấn đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận.
+ Nhà đầu tư – là các tổ chức, cá nhân thực hiện huy động vốn thông qua TTCK,
bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư tổ chức. Đây là các đối tượng
trực tiếp sử dụng các thông tin tài chính để đưa ra các quyết định đầu tư.
6.     
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng tác động của chất lượng thông tin kế toán đến rủi ro thanh

tượng khác nhau như cổ đông, ban giám đốc, chủ nợ,

chính phủ, liên đoàn lao
động hoặc những đối tượng khác có quyền lợi đối với

DN. Các nhóm đối tượng
sử dụng TTKT với các nhu cầu thông tin khác nhau đã làm nảy sinh tính đa dạng
và phức tạp đối với nhu cầu thông tin cần cung cấp.
1.1.2 
1.1.2.1 
Nguyễn Bích Liên, (2012, trang 26 -27) cung cấp nhiều quan điểm khác nhau
về chất lượng thông tin có được từ các công trình nghiên cứu trước đây. Chẳng
hạn, chất lượng thông tin có thể định nghĩa là:
+ Thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin;
+ Đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của
người sử dụng thông tin
+ Sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu được xác định bởi mục tiêu và thông tin
đạt được. Trong một tình huống lý tưởng sẽ không có sự khác biệt giữa thông tin
2

yêu cầu và thông tin đạt được. Việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính
và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất càng
cao.
Tuy các định nghĩa và quan điểm của các nhà nghiên cứu về chất lượng thông
tin có sự khác nhau, nhưng chúng đều có một số đặc điểm chung, đó là chất lượng
thông tin hay chất lượng dữ liệu tùy thuộc cảm nhận của người sử dụng thông tin.
Nó có nhiều đặc tính (hay tính chất) khác nhau tùy thuộc vào quan điểm triết lý của
người sử dụng hay nghiên cứu và nó cần được xem xét trong bối cảnh (hay ngữ
cảnh) cụ thể của người sử dụng thông tin. Điều này có thể được lý giải rõ ràng rằng
cùng một thông tin như nhau nhưng với người này cho rằng thế là tốt nhưng với

chất trong một chừng mực tối thiểu. Mặc dù trong hệ
thống có sự phân định giữa

các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không
tính chất nào được chỉ định

là ưu tiên, hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị
hy sinh để có được những

tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của
thông tin. Toàn bộ các công việc của kế toán từ khâu thu thập, xử lý và tổng hợp
thông tin để đi tới mục tiêu cuối cùng là truyền tải thông tin hữu ích đến các đối
tượng có nhu cầu sử dụng chúng.
Thông qua các thông tin được trình bày trên BCTC, nhà đầu tư có thể khái
quát được tình hình tài sản và nguồn vốn của DN tại một thời điểm, tình hình hoạt
động và kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong một kỳ nhất định, từ
đó có thể phân tích, đưa ra các quyết định đầu tư thích hợp có hiệu quả nhất. Nếu
không có TTKT, các nhà đầu tư sẽ không có căn cứ để xác định giá của cổ phiếu
cũng như tiềm năng phát triển của DN.
Ngoài ra, mức độ quan trọng của TTKT còn phụ thuộc vào tính chất của các
khoản đầu tư. Trên TTCK, nhìn chung có thể chia các khoản đầu tư thành hai loại:
đầu tư và đầu cơ. Hai loại cũng rất khó xác định, chủ yếu là dựa vào độ dài của các
khoản đầu tư để phân biệt chúng. Theo đó, nhà đầu tư được xác định là những
người có ý định lâu dài vào một loại cổ phiếu. Họ là những người chú ý nhiều đến
các phân tích, hạn chế được tâm lý đám đông. Do đó, TTKT rất quan trọng đối với
loại đầu tư này. Thật vậy, các nhà đầu tư vốn vào DN sẽ thu lợi nhuận từ kết quả
hoạt động của DN, hoặc từ chênh lệch mua bán cổ phiếu. Quá trình đầu tư của họ
gắn chặt với sự tồn tại và hoạt động của DN. Họ đặc biệt quan tâm tới những thông
tin tài chính mà qua đó họ có thể đánh giá được mức độ rủi ro, khả năng sinh lời,
tương lai hoạt động của DN cũng như khả năng quản lý của các nhà điều hành DN.

Wiley J, 2009
Giá trị
phản hồi
Người sử dụng thông
tin kế toán
Áp lực cân đối lợi ích và
chi phí
Người sử dụng các tiêu
chuẩn cụ thể
Các quyết định
Tiêu chuẩn quan trọng
Tiêu chuẩn cụ thể


6

Như vậy, để phát huy những tác dụng tích cực đối với các đối tượng sử dụng
thông tin, hệ thống BCTC trong điều kiện kinh tế thị trường phải đảm bảo các yêu
cầu về chất lượng đối với BCTC như sau:
Hữu ích cho việc ra quyết định: Đây là

chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất
của thông tin. TTKT phải hữu ích

cho người sử dụng. Để trở thành hữu ích thì
thông tin phải thích hợp và

đáng tin cậy. Trong hệ thống các tính chất kế toán thì sự
phù hợp và đáng tin cậy là những khái niệm trung tâm của kế toán.
Tính thích hợp: Để phù hợp, TTKT phải có năng lực tạo ra sự khác biệt trong
một quyết định qua việc giúp cho người sử dụng thông tin thực hiện thiết lập các
dự báo về kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai, xác nhận
hoặc hiệu chỉnh các kỳ vọng (CON2, đoạn 47). Tính thích hợp của thông tin tài
chính bao gồm hai thành tố là giá trị dự báo và giá trị phản hồi, bởi vì không
nhận thức được quá khứ thì không đủ cơ sở để dự báo, không có lợi ích trong
tương lai thì nhận thức về quá khứ cũng vô dụng (CON2, đoạn 51). Mặc dù mục
tiêu và nội dung thông tin trên BCTC chịu sự chi phối của người sử dụng thông
tin, nhưng không phải các thông tin trên BCTC đều đáp ứng được nhu cầu riêng,
cụ thể cho từng đối tượng sử dụng. Do đó, tính thích hợp được hiểu rằng nó được
sử dụng cho đại đa số các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau. Ví
dụ, thông tin về việc chi trả cổ tức, về việc mua bán cổ phiếu quỹ. Bên cạnh đó,
dù tính kịp



độ cá biệt.
Thông tin trung lập khi báo cáo về các hoạt động kinh tế trung thực nhất

trong
khả năng có thể, không nhằm tô vẽ các hình ảnh thông tin để tác động đến

hành
vi theo một hướng đặc biệt.
Có thể kiểm chứng: Có thể kiểm chứng là khả năng thông

qua sự đồng
thuận giữa những người đánh giá có đủ năng lực và độc lập để bảo

đảm thông
tin phù hợp với nghiệp vụ, sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp

đánh giá
được chọn không có sai sót hoặc thiên lệch. Mục đích của yêu cầu có thể kiểm
chứng là khẳng định sự trình bày trung

thực của thông tin.
Có thể so sánh: Thông tin kế toán hữu ích khi nó có thể so

sánh được. Tính
có thể so sánh được giúp người sử dụng thông tin có thể so sánh

sự giống nhau
và khác nhau của những DN trong một kỳ nhất định hay


các quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC.
Áp lực về cân đối lợi ích - chi phí: Việc cung cấp thông tin

tài chính tiêu
tốn nhiều chi phí để thu thập, xử lý, soạn thảo các BCTC

hoặc cho kiểm toán;
hơn nữa còn phải xem xét các chi phí phát sinh từ phía người

sử dụng như thu
thập, phân tích, hay loại bỏ những thông tin thừa. Trong khi lợi

ích mang lại từ
thông tin chẳng hạn như sự đáp ứng một yêu cầu pháp lý, thương

mại, hay củng
cố hình ảnh tài chính của DN, tạo niềm tin cho khách hàng

và giới đầu tư (đối với
người soạn thảo), hoặc có thể là những kết quả phân tích,

dự báo phù hợp và
đáng tin cậy cho việc ra quyết định (đối với người sử dụng

thông tin)… có thể
không tương xứng với số tiền đã bỏ ra. Nói khác đi, tính

hữu ích của thông tin
tài chính bị giảm sút nếu chi phí vượt quá lợi ích mang lại từ


trung thực, có thể kiểm chứng, có thể so sánh và trung lập.
1.2.  
1.2.1  
Yếu tố về tính thanh khoản của chứng khoán thể hiện khả năng có thể chuyển đổi
sang tiền mặt nhanh chóng với phí tổn thấp. Đây là một yếu tố quan trọng trong các
quyết định đầu tư. Vì hầu hết các nhà đầu tư không phải lúc nào cũng tính trước
được những nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng đầy đủ những nhu cầu tiêu dùng đó nên
hành động bán chứng khoán xảy ra là tất yếu. Đặc biệt, đối với cổ phiếu, ngoài các
nguyên nhân dẫn đến nhu cầu bán cổ phiếu trên đây, còn có một nguyên nhân cơ
bản là: phần lợi nhuận chủ yếu có được trong hoạt động đầu tư cổ phiếu là lợi nhuận
thu được sau khi bán cổ phiếu (Lê Văn Tư, 2005, trang 146). Từ đó, tính thanh
khoản của một tài sản tài chính được định nghĩa là sự dễ dàng trong quá trình
chuyển chứng khoán đó sang tiền mặt trong tổng một thời gian ngắn và không có sự
rủi ro sụt giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó.
Có hai điều kiện đảm bảo tính thanh khoản của mỗi chứng khoán:
Một là, việc chuyển đổi phải nhanh chóng và phí tổn chuyển đổi phải thấp.
Như vậy, chứng khoán nào đòi hỏi nhiều thời gian và phí tổn để chuyển đổi thành
tiền tệ, chứng khoán đó mang tính thanh khoản thấp. Nói nôm na, tính thanh khoản
là khi cần tiền có thể đổi ngay ra được, nó tùy thuộc vào 2 yếu tố:
Thời gian từ lúc muốn bán chứng khoán để lấy lại tiền mặt lâu hay mau.
Tùy theo chi phí giao dịch gồm tiền phí tổn trả cho các trung gian và sai biệt
giá mua vào và bán ra, trong đó:
Khoản sai biệt (spread) = giá mua vào (bid price) – giá bán ra (offer price).
Khoản sai biệt này càng lớn, chi phí giao dịch càng lớn đối với người đầu tư,
vì:
Chi phí giao dịch (transaction cost) = hoa hồng trung gian (boker
commission) + khoản sai biệt (spread).
Khoản sai biệt càng lớn thì thị trường càng mất ổn định. Khoản sai biệt tùy
thuộc thị trường, nếu đặt giá bán quá cao thì không có người mua, ngược lại, giá đặt
10

Trích đoạn Nghiên cứu của Ahmad Mohammady (2011) Nghiên cứu của Jerry Ng(2011) Nghiên cứu của Reza Jamei,Babak Jamshidi Navid, Hosna Farshadfar MÔ H NH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status