BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ỨNG VĂN THANH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA
HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự cộng tác, giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn Ứng Văn Thanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế
Nông nghiệp và chính sách đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Phượng Lê đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Duy Tiên, Phòng Nông nghiệp
và PTNT huyện Duy Tiên, các HTX DVNN xã Yên Bắc, Mộc Bắc, Mộc Nam,
Châu Giang, Trác Văn và Tiên Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư
liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này.
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG
NGHIỆP 4
2.1 Cơ sở lý luận về giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của HTX
DVNN 4
2.1.1 Những lý luận chung về HTX DVNN 4
2.1.2 Lý luận về giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ ở HTX DVNN. 9
2.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dịch vụ của các HTX DVNN 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác
xã dịch vụ nông nghiệp 18
2.2.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 18
2.2.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở
Việt Nam 25
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
2.2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động dịch vụ của hợp tác xã hiện nay ở
Việt Nam. 29
2.2.4 Một số bài học về nâng cao chất lượng dịch vụ hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp 30
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 47
3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 48
3.2.3 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin 49
3.2.4 Phương pháp phân tích 49
3.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 50
3.2.1 Chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của hợp tác xã 50
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVSX Bảo vệ sản xuất
BVTV Bảo vệ thực vật
CN-TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DVNN Dịch vụ nông nghiệp
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kỹ thuật
NACF Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp Hàn Quốc
NN Nông nghiệp
PTNT Phát triển nông thôn
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TT Thị trấn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
UBND Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai ở huyện Duy Tiên qua 3 năm 35
3.2 Tình hình dân số lao động của huyện Duy Tiên từ năm 2011-2013 37
3.3 Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên từ năm 2011 -2013 41
4.1 Số lượng HTX DVNN ở huyện Duy Tiên 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trên thế giới, mặc dù mỗi nước có chế độ chính trị khác nhau nhưng đều coi
HTX là một mô hình giúp hộ gia đình nông dân nói riêng, người nghèo nói chung liên
kết lại với nhau để trụ vững trong nền kinh tế thị trường, đồng thời đây là một hiệp
thương khách quan do nhu cầu liên kết cùng có lợi của những người sản xuất hàng hóa.
Tuy bước đi, hình thức giữa các nước có khác nhau nhưng chung quy lại là Chính phủ
các quốc gia đều mong muốn tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ,
thúc đẩy HTX phát triển (Liên minh HTX Việt Nam, 2009).
Hợp tác xã nông nghiệp là loại hình tổ chức kinh tế đã tồn tại trên một thế kỷ và
phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Tại nhiều nước, phong trào hợp tác xã phát
triển rất mạnh, có những đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và góp phần
đáng kể vào việc tạo ra sự ổn định, công bằng xã hội.
Ở nước ta, HTX ra đời từ năm 1959, đã có quá trình phát triển hơn 50 năm,
được Đảng và Nhà nước quan tâm, chăm lo, hỗ trợ về nhiều mặt. Tuy nhiên, trong từng
giai đoạn lịch sử với những cơ chế tổ chức quản lý khác nhau thì vai trò chức năng và
nội dung hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cũng có nhiều thay đổ
i.
Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý điều tiết của Nhà nước;
kinh tế hộ dần dần được nhìn nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ và ngày càng được
khẳng định vai trò của mình. Sự thừa nhận kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh
tế tự chủ, một mặt làm bộc lộ rõ sự bất hợp lý của mô hình hợp tác xã dịch vụ nông
nghiệp kiểu cũ, mặt khác làm xuất hiện những nhu cầu bức thiết về hợp tác xã mới
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng
dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
nghiệp huyện Duy Tiên.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp huyện Duy Tiên.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp
tác xã dịch vụ nông nghiệp ở huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn giúp hiểu rõ về chất lượng dịch vụ của hợp tác xã
dịch vụ nông nghiệp?
- Hiện trạng chất lượng dịch vụ của các hợp tác dịch vụ nông nghiệp hoạt
động trên địa bàn huyện Duy Tiên như thế nào?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ
nông nghiệp?
- Giải pháp nào để nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ ở các hợp tác xã
dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ cho hộ xã viên của các hợp
tác xã dịch vụ nông nghiệp.
các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh của tập
thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các
hoạt động kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất tinh thần, góp phần phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước (Luật hợp tác xã, 2003).
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn
tích luỹ và nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật (Luật hợp tác
xã, 2003). Theo định nghĩa của Liên minh HTX quốc tế: “HTX là một tổ chức chính
trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng
chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và
quản lý dân chủ”. Định nghĩa này còn được hiểu như sau: “HTX dựa trên ý nghĩa tự
cứu mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, theo truyền thống
của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức về
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác” (Liên
minh HTX việt nam, 2004).
Hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) là một trong các hình thức cụ thể của kinh
tế HTX trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu
cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp nhau phát triển kinh tế
hoặc đáp ứng nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các
nguyên tắc pháp lệnh quy định, có tư cách pháp nhân (Nguyễn Anh Sơn, 2010).
Như vậy, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là tổ chức kinh tế nông nghiệp được
tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, nó hoạt động theo Luật HTX, là một
hoại hình HTX kiểu mới. Hoạt động của HTXDVNN bao gồm: Dịch vụ các yếu tố đầu
vào, đầu ra, dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp, các HTXDVNN được tổ chức
với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, nó không hoạt
động nhằm mục đích lợi nhuận. Mô hình HTXDVNN ở nước ta chủ yếu được phân
lượng. Từ đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, từng bước xây
dựng nông thôn mới theo hướng CNH-HĐH. Cùng với việc đảm bảo thực hiện tốt
một số khâu dịch vụ nhằm hỗ trợ sản xuất của nông dân, các hoạt động dịch vụ của
HTX còn góp phần ngăn chặn những tiêu cực do tác động của cơ chế thị trường
mang lại, bằng cách cung cấp thông tin kịp thời tới người dân dịch vụ đầu vào và
đầu ra. Bên cạnh đó tạo điều kiện cho nông dân thực hiện những chính sách xã hội,
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng chung, tạo điều kiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;
Thông qua hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết sản xuất của HTX được thực
hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung tạo điều kiện
hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa. Đòi hỏi sản xuất của hộ
nông dân phải thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng về chủng loại giống, về
thời vụ gieo trồng và chăm sóc.
HTX còn là nơi tiếp nhận những phần hỗ trợ của nhà nước về sản xuất nông
nghiệp cho nông dân. Vì vậy, hoạt động của HTX có vai trò là cầu nối giữa Nhà
nước với hộ nông dân một cách có hiệu quả. Trong một số trường hợp khi có nhiều
tổ chức tham gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân thì hoạt động của HTX là đối
trọng buộc các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân.
Trong Đại hội Đảng IX, đường lối phát triển kinh tế hợp tác và HTX đã được
xác định rõ ràng hơn: “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”, “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều
hình thức hợp tác đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt” (Ngô Việt Thắng, 2010).
2.1.1.3 Đặc trưng của HTX và HTX DVNN
a) Đặc trưng của HTX
Từ những quy định trong Luật HTX năm 1996, sửa đổi Luật HTX năm 2003
và các Nghị Quyết dưới Luật hướng dẫn triển khai Luật HTX có thể rút ra một số
đặc trưng cơ bản về HTX kiểu mới như sau:
Thứ năm, quan hệ giữa HTX và xã viên: quan hệ giữa các xã viên được xây
dựng chủ yếu trên cơ sở quan hệ kinh tế. Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản
xuất, tăng thu nhập của các thành viên HTX. HTX tôn trọng quyền độc lập, tự chủ
kinh tế của xã viên. Trong HTX nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia đình, hoặc
đại diện hộ, đó là những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào HTX với trách nhiệm,
nghĩa vụ và lợi ích theo điều lệ quy định. Sự hình thành và phát triển HTX nông
nghiệp không phá vỡ tính độc lập, tự chủ của kinh tế hộ trang trại gia đình, nó có
tác dụng tạo điều kiện phát triển, tăng thu nhập cho kinh tế của hộ xã viên. Trên cơ
sở đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX;
Thứ sáu, điều kiện thành lập, hoạt động và giải thể HTX: khi thành lập HTX
phải có Điều lệ, Phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được Đại hội
xã viên thông qua và cơ quan chức năng phê duyệt. Trong trường hợp giải thể tự
nguyện theo nghị quyết của đại hội xã viên hoặc bị buộc phải giải thể theo quyết định
của pháp luật. HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan có thẩm quyền. Đại
hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có quyền quyết định cao nhất đối với mọi
hoạt động của HTX. HTX có quyền thiết lập quan hệ hợp tác với các HTX khác ở
trong nước và nước ngoài, tham gia tổ chức liên minh HTX Việt Nam theo quy định
của pháp luật.
Thứ bảy, HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên có nhu cầu tự nguyện
lập ra, nó không phải là một tổ chức xã hội. HTX hoạt động theo quy định của pháp
luật trước hết vì mục tiêu kinh tế. HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội
đối với các xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành tổ chức xã hội hoặc
bắt buộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị
của địa phương.
Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với HTX
trong phạm vi cả nước theo các nội dung sau: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX, ban hành điều lệ mẫu cho các loại hình
Page 10
tập hợp các đặc điểm kinh tế kỹ thuật nội tạng, phản ánh giá trị sử dụng và chức
năng của sản phẩm đó đáp ứng những nhu cầu đã định trước cho nó trong những
điều kiện về kinh tế kỹ thuật. Theo quan điểm này thì chất lượng thực sự không gắn
với hiệu quả của kinh doanh và điều kiện sản xuất của từng doanh nghiệp. Hạn chế
này do trong các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ còn tồn tại cơ chế kế hoạch hoá
tập trung. Các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch trên giao
cho nên chất lượng hàng hoá không phù hợp với nhu cầu.
Chuyển sang cơ chế thị trường, nhu cầu thị trường được coi là xuất phát điểm
của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì khái niệm chất lượng trên không còn phù
hợp nữa. Vì nó không gắn với nhu cầu chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo Philip Crosby (1926-2001) một nhà quản lý chất lượng người Mỹ nổi
tiếng cho rằng “chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu hay đặc tính nhất định chứ
không phải là sự thanh lịch tao nhã”. Điều này nó khác với các khái niệm truyền
thống về chất lượng mà ở đó không đề cập đến cách thức mà một hạng mục hàng
hoá có thể được tạo ra, hoặc phương pháp mà qua đó các dịch vụ được cung cấp.
Hơn thế nữa định nghĩa này không có tính chiến lược ở đây nó tập trung vào việc
cố gắng nắm được đầy đủ các kỳ vọng mà một người khách hàng có và hướng các
tổ chức vào tiệc đáp ứng các kỳ vọng này. Quan điểm này nó đã hình thành nên các
mục tiêu, các mục tiêu này có thể không gần với nhu cầu và có độ co giãn hơn khi
so với các mục tiêu hình thành bên trong nội tại. Định nghĩa này có ý nghĩa rất to
lớn đối với những doanh nghiệp sản xuất hàng loạt và sử dụng lắp lẫn chi tiết.
Còn Feigenbum cho rằng “chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kĩ
thuật công nghệ và vận hành của sản phẩm nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được
nhu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm”.
Juran một nhà chất lượng hàng đầu khác đã nhận ra rằng các yêu cầu về quy
phạm có thể là những thứ mà ban quản lý và các nhà thiết kế cho là phù hợp nhưng
nó không phải là thứ mà khách hàng cần. Do đó theo ông “chất lượng là sự phù hợp
với công dụng”. Định nghĩa này của Juran thừa nhận rằng một số sản phẩm hoặc
Sự ổn định không có nghĩa là không phục vụ theo yêu cầu cá nhân của khách
hàng.
- Sự ổn định về địa điểm: Cho dù các chi nhánh, cửa hàng đại lý có quy mô
lớn hay nhỏ đặt ở đâu không phải là yếu tố quyết định tính hiệu suất cuối cùng và
chất lượng dịch vụ. Đây là đòi hỏi phải có sự cung cấp chất lượng sản phẩm như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
nhau ở các chi nhánh đại lý doanh nghiệp ở bất kỳ đâu.
- Sự ổn định về sản phẩm phục vụ: Khía cạnh tiếp theo của khả năng biến động
chất lượng dịch vụ đó là chính bản thân sản phẩm nghĩa là có một sản phẩm được
phục vụ tốt với chất lượng tốt ổn định. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng dịch vụ thì
cần phải giảm khả năng biến động cho chất lượng sản phẩm và việc kiểm soát đòi
hỏi phải xây dựng trên cơ sở nào đó.
- Sự ổn định về người phục vụ: Sự biến động về dịch vụ bị quyết định chủ
yếu do người phục vụ và người được phục vụ (khách hàng). Do vậy nó là nguyên
nhân giải thích tại sao không thể quản lý, kiểm soát và tiêu chuẩn hoá được dịch vụ
như sản phẩm chế tạo (Thân Văn Toàn, 2011).
Nhìn chung thì khách hàng quen biết thường được đối xử tốt hơn và nhanh
hơn những khách hàng mới và ít đến, những khách hàng lớn thì được đối xử, quan
tâm phục vụ tốt hơn những khách hàng nhỏ. Nhiều khi điều đó tưởng là hợp lý
nhưng đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến một hiện tượng mất khách hàng đây
cũng là một điều mà các dịch vụ ở Việt Nam nên quan tâm và sửa đổi.
b) Chất lượng dịch vụ của HTX DVNN
Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết, cần có cho quá
trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người
sản xuất không sẵn có, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp
nhận các điều kiện, yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua,
bán, trao đổi, thuê, nhờ
- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp
giao lưu kinh nghiệm hoạt động giữa các HTXDV và giữa cán bộ HTX với xã viên
để tạo điều kiện cho HTX có cơ hội tiếp xúc với những mô hình phát triển kinh tế
mới. Bên cạnh đó, quan tâm đến việc hỗ trợ tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao
nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các HTX nhằm tăng cường cơ hội hợp tác, liên
kết với các HTX khác trong và ngoài huyện.
c) Nâng cao chất lượng, kế hoạch hoạt động các dịch vụ của các HTX
DVNN như dịch vụ thủy nông, dịch vụ khuyên nông, dịch vụ thú y, dịch vụ bảo vệ
thực vật, dịch vụ làm đất, dịch vụ cung ứng vật tư
+ Dịch vụ thủy nông và bảo vệ sản xuất: là dịch vụ tưới tiêu và bảo vệ đồn
điền trong sản xuất nông nghiệp, hàng vụ hàng năm phải đảm bảo mức độ, thái độ
phục vụ theo đúng thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng để đảm bảo sự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
hài lòng của mỗi người dân khi được sử dụng dịch vụ mà họ phải đóng phí.
+ Dịch vụ bảo vệ thực vật: là dịch vụ dự thính, dự báo tình hình sâu bệnh
trên đồng ruộng. Dịch vụ này phải đảm bảo tính chính xác để có biện pháp phòng
trừ kịp thời tránh tổn thất cho nhân dân.
+ Dịch vụ khuyến nông: mục đích chính của dịch vụ này là hỗ trợ đào tạo, tập
huấn chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân góp phần nâng
cao năng suất cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
+ Dịch vụ thú y: mức độ thực hiện việc cung ứng thuốc thú y để cho công tác
chữa trị và tiêm phòng gia súc, gia cầm cho hộ xã viên.
+ Dịch vụ làm đất: khả năng phục vụ có đáp ứng yêu cầu thời vụ của sản xuất
nông nghiệp để tạo lên sự yên tâm của nông dân trong quá trình sử dụng dich vụ.
+ Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật tư
nông nghiệp cho xã viên HTX
+ Dịch vụ cung ứng, sản xuất giống: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật tư nông
nghiệp cho xã viên HTX
+ Dịch vụ tiêu thụ nông sản: mức độ tiêu thụ sản phẩm đầu ra của bà con
- Con người, lực lượng lao động trong HTX DVNN: ta phải xét trên cả hai
mặt số lượng và chất lượng. Số lượng lao động và chất lượng lao động phải cân đối
với nhau, như vậy công việc mới hoàn thành đúng thời hạn và có chất lượng. Việc
bố trí sử dụng lao động hợp lý sẽ phát huy được tối đa năng suất lao động và từ đó
gián tiếp tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các HTXDVNN.
- Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của HTXDVNN: hệ thống trang
thiết bị, cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng đối với hoạt động dịch vụ của các HTX.
Đây là nhóm nhân tố cần thiết đảm bảo cho hoạt động dịch vụ của HTX được diễn
ra bình thường và có hiệu quả. Nếu cơ sở vật chất kỹ thuật của HTXDVNN nào
thấp kém thì kéo theo là chất lượng dịch vụ sẽ kém từ đó gây mất niềm tin của xã
viên vào HTX, ngược lại nếu đầy đủ và hiện đại sẽ tạo điều kiện cho HTX nâng cao
năng xuất lao động đồng thời nâng cao được chất lượng dịch vụ và từ đó hiệu quả
hoạt động dịch vụ sẽ được nâng cao.
- Về vốn của HTXDVNN nó là nhân tố không thể thiếu và có ảnh hưởng lớn
đến hiệu quả hoạt động của các HTXDVNN. Vốn lớn thể hiện tiềm lực kinh tế, khả