PHÁT TRIỂN TƯ DUY TOÁN THÔNG QUA TÌM KIẾM QUY LUẬT KHI GIẢI TOÁN - Pdf 29

PHÁT TRIỂN TƯ DUY TOÁN
THÔNG QUA TÌM KIẾM QUY LUẬT
KHI GIẢI TOÁN
Sinh viên thực hiện
BÙI THỊ ĐỨC
Giảng viên hướng dẫn
PGS. TS. TRẦN VUI
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với phương pháp dạy học truyền thống (truyền thụ một chiều từ giáo viên, sự tiếp thu thụ
động của học sinh) khiến các em học sinh có suy nghĩ rằng toán học đã tồn tại từ lâu với
những công thức và thuật toán bất di bất dịch. Đáng tiếc là những suy nghĩ như vậy hoàn toàn
không đúng với bản chất của toán học. Việc học toán là một quá trình mang tính sáng tạo chứ
không phải là tiếp thu một thực thể kiến thức đã có sẵn.
Yêu cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam hiện nay là phải đổi mới phương pháp dạy học, cần
phải thay đổi phương pháp dạy học truyền thống đến các phương pháp dạy học tích cực, sáng
tạo, người dạy tổ chức, định hướng nhận thức, phát huy vai trò chủ động, tích cực của HS để
HS tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng. Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ) là
phương pháp dạy học đáp ứng phần nào những yêu cầu này. Tìm kiếm quy luật là một phương
án hiệu quả trong các phương án của GQVĐ và một số người còn gọi đó là nghệ thuật của toán
học (art of maths).
Khi thực hiện việc tìm kiếm một quy luật, tư duy các em đã được rèn luyện và phát triển,
đặc biệt là tư duy phê phán và sáng tạo – hai loại tư duy mà chúng ta đang quan tâm nhiều để
dạy cho HS.
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào thật chi tiết và sâu sắc về phương án tìm kiếm quy luật
và sự phát triển của tư duy toán thông qua việc tìm kiếm quy luật khi giải toán, để giáo viên và
học sinh có thể hiểu rõ và vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả phương án này trong
giải toán.
Với những lý do như vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển tư duy toán thông qua
tìm kiếm quy luật khi giải toán” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận

các trường hợp
riêng, đặc biệt,
dễ thấy nhất
4. Sử dụng các
mô hình toán
để tìm kiếm
quy luật
Ví dụ 3.1.2:
Hãy tìm số dương n và , , …, nguyên dương thoả: và tích . …
lớn nhất có thể.
2 3 4 5 6 7 8 9
n 1 1 1 2 2 2 2 3 3 3
Các
= 2 = 3 = 4 = 2
= 2
= 2
= 3
= 3
= 3
= 3
= 4
= 2
= 2
= 3
= 2
= 3
= 3
= 3
= 3
= 3

a
2
a
2
a
2
a
2
a
2
a
2
a
3
a
3
a
3
a
1
a
2
a
n
a

=
=
n
i

i
a
224 ×=
224 +=
33222 ×<××
33222 +=++
Mỗi điều trên đều dễ chỉ ra là đúng. Như vậy, khi thông số của ta 1000 thì tích lớn nhất
của chúng ta cần phải là .
2332
23 ×
Ví dụ 3.1.3: Trên giấy kẻ ôly, hãy nối các đỉnh ôly để có các đa giác có diện tích bằng 5.
Giả sử độ dài cạnh ôly bằng 1.
Cách làm của chúng ta là cố gắng vẽ tất cả các hình thoả mãn bài toán. Tuy nhiên đây
không phải là công việc dễ vì chúng ta có thể bỏ sót một số hình. Chúng ta hãy quan sát
một số hình vẽ thoả mãn yêu cầu của bài toán:
Nếu gọi A, T, N lần lượt là diện tích của đa giác, số đỉnh ôly nằm ở miền trong của hình
đa giác, số đỉnh ôly nằm trên các cạnh đa giác. Bây giờ chúng ta hãy cố gắng tìm biểu
thức liên hệ giữa A, N, T.
N và T ứng với các hình vẽ trên được cho ở bảng sau:
N 12 10 8 6 4
T 0 1 2 3 4
A 5 5 5 5 5
Chúng ta tìm được quy luật với bảng trên như sau:

Thiết lập được công thức này, chúng ta sẽ vẽ được tất cả các hình vẽ thoả mãn
bài toán. Trường hợp T = 5 , khi đó N = 2 và khi T = 6 thì N = 0, những trường
hợp này rõ ràng không có hình vẽ thoả mãn.
1
2
−+= T


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status