Quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt nam - Pdf 29

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
NGUYỄN THỊ LÝ
QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o NGUYỄN THỊ LÝ
nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong gian tôi học tập, tìm hiểu
tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn Cha, mẹ, chồng, hai con gái và các thành viên khác
trong gia đình đã luôn động viên, hỗ trợ tôi trong những lúc khó khăn nhất
tưởng chừng không thể vượt qua được để hoàn thành việc học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả
Nguyễn Thị Lý

i
MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 7
1.1. Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam 7
1.1.1. Khái niệm cơ bản về dịch vụ cộng 7
1.1.2. Tổ chức cung cấp dịch vụ công 8
1.1.3. Đơn vị sự nghiệp công lập 10
1.2. TS NN tại đơn vị sự nghiệp công lập 12
1.2.1. Khái niệm tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập 12
1.2.2. Phân loại tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập 13

2.2. Thực trạng quản lý, sử dụng tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp
công lập
36
2.2.1. Tài sản là đất 39
2.2.2. Tài sản là nhà 41
2.2.3. Tài sản là xe ô tô 41
2.3. Đánh giá hiệu lực quản lý TS NN tại ĐVSNCL ở Việt
Nam
42
2.3.1. Những kết quả đạt được 42
2.3.2. Một số tồn tại 45
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý TS NN tại ĐVSNCL 51
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN
NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
54
3.1 Cơ hội và thách thức 54
3.1.1. Cơ hội 54
3.1.2. Thách thức 55
3.2. Giải pháp
56
3.2.1. Rà soát, hoàn thiện các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng
TSNN nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra 56
3.2.2. Tăng cường vai trò giám sát, kiểm tra, giám sát và xử lý các sai phạm
trong việc sử dụng TSNN tại đơnv ị sự nghiệp công lập. 58
3.2.3: Nâng cao ý thức trách nhiệm của các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng
TSNN tại các ĐVSNCL 59
3.2.4: Tổ chức bộ máy quản lý TSNN từ trung ương đến địa phương 60
3.2.5. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện xử lý, sắp xếp nhà, đất thuộc sở hữu NN
và di dời các các trường học, bệnh viện 60

Đơn vị sự nghiệp công lập
6
HCC
Hành chính công
7
HCNN
Hành chính nhà nước
8
NN
Nhà nước
9
QLNN
Quản lý nhà nước
10
SNC
Sự nghiệp công
11
SNCL
Sự nghiệp công lập
12
TSC
Tài sản công
13
TSNN
Tài sản nhà nước
14
TW
Trung ương
thực hiện chức năng quản lý NN đối với khối tài sản này nhằm sử dụng,
bảo tồn và phát triển nguồn TSC một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất.
ĐVSNCL (ĐVSNCL) là đơn vị sự nghiệp có thu (tự chủ một phần về
tài chính) như: Bệnh viện, trường học là một trong các khối cơ quan tổ
chức quản lí trực tiếp, sử dụng TSNN nhiều nhất. TSNN tại ĐVSNCL là
một bộ phận quan trọng trong toàn bộ TSNN của đất nước.
Để quản lý TSNN tại ĐVSNCL, NN đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật nhằm quản lý, khai thác TSNN trong khu vực SN có hiệu
quả, tiết kiệm, đúng mục đích, không lãng phí như: Luật Quản lý sử dụng
TSNN năm 2008; Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính

2
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý
sử dụng TSNN năm 2008; Quyết định 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008
của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định công khai quản lý, sử dụng
TSNN tại cơ quan NN, ĐVSNCL, tổ chức được giao quản lý, sử dụng
TSNN; Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính
quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày
03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Quản lý sử dụng TSNN năm 2008; Thông tư 09/2012/TT-
BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Tài chính về sửa đổi Thông tư số
245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009… Qua đó, TSNN đã được khai thác,
sử dụng góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển xây dựng đất nước. Tuy
nhiên, việc khai thác, sử dụng nguồn lực này còn nhiều hạn chế dẫn đến
TSNN sử dụng tại các ĐVSNCL còn lãng phí, sai mục đích, kém hiệu quả
diễn ra phố biến và chưa tương xứng với tiềm năng của TSNN. Vì vậy, việc
chọn đề tài “ Quản lý TSNN tại ĐVSNCL ở Việt Nam” làm đề tài Luận văn
thạc sỹ là hết sức cần thiết, phù hợp với thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu
TSC có vai trò vô cùng quan trọng do vậy luôn là vấn đề được xã hội

thực trạng quản lý, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công
tác quản lý trụ sở làm việc trong khu vực HCSN ở Việt Nam.
Luận văn thạc sỹ quản lý tài chính “Tài sản công và sử dụng tài sản
công ở Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Loan năm 2008, trên cơ sở phân
tích thực trạng việc sử dụng TSC ở nước ta trong giai đoạn hiện nay tác giả
đã đưa ra 06 (sáu) giải pháp nhằm khai thác, sử dụng TSC, trong đó nhấn
mạnh đến hệ thống các giải pháp liên quan đến việc xây dựng ban hành để
hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý, sử dụng TSC. Tuy nhiên, luận văn

4
mới chỉ quan tâm đến việc sử dụng TSC tại khu vực HCSN nói chung chứ
chưa đi sâu nghiên cứu quản lý tài sản này tại các ĐVSNCL.
Tóm lại, số lượng công trình nghiên cứu đề cập đến việc quản lý
TSNN trong khu vực HCSN khá nhiều, tiếp cận từ nhiều góc độ, đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau đối với việc quản lý TSC trong các cơ quan, đơn
vị, đánh giá một cách xác đáng về thực trạng, cũng như đã đưa ra được nhiều
giải pháp có tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý TSC trong khu
vực HCSN. Song, nhìn chung các công trình mới chỉ chú trọng đến việc
nghiên cứu quản lý, sử dụng TSC ở các đơn vị khối HCSN, chưa đi sâu
nghiên cứu tại các ĐVSNCL. Đặc biệt, hầu hết các đề tài nói trên mới chỉ đặt
trong bối cảnh khi Việt Nam chưa có Luật quản lý, sử dụng TSNN.
Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội Khóa XII (tháng 6 năm 2008), Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Quản lý, sử
dụng TSNN, đây là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc quản lý kinh tế TSC
trong khu vực HCSN và trong ĐVSNCL. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu về
TSC trong ĐVSNCL trong bối cảnh mới là hết sức cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Hệ thống hoá lý luận về TSNN và quản lý, sử dụng TSNN trong các
ĐVSNCL.
Phân tích những điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức từ góc độ hiệu

quản lý, sử dụng TSNN tại ĐVSNCL trong giai đoạn hiện nay, từ đó có
những phát hiện và kiến giải mới hai chiều về quản lý TSNN tại ĐVSNCL
Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng hệ thống các giải pháp và điều kiện hoàn thiện
chính sách về quản lý TSNN tại các ĐVSNCL. 6
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, Luận văn gồm có 03 chương:
Chƣơng I. LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ
NƢỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP.
Chƣơng II. THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ
NƢỚC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.
Chƣơng III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI
SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.


một phần, một phần kinh phí do đối tượng thụ hưởng DVSNC đóng góp (như
học phí, viện phí ) theo quy định của NN; (ii) NN tạo điều kiện, ban hành

8
các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư để các thành phần kinh tế trong xã hội
tham gia cung cấp dịch vụ.
1.1.1.3 Dịch vụ công ích
Là dịch vụ cung ứng các hàng hoá, sản phẩm dịch vụ cơ bản, thiết yếu
cho người dân theo đơn đặt hàng của NN hoặc giao nhiệm vụ cho các doanh
nghiệp quốc phòng, an ninh thực hiện (đối với các sản phẩm công ích trong
lĩnh vực quốc phòng, an ninh); NN đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ đối
với các doanh nghiệp NN, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và hợp
tác xã thực hiện, như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, giao
thông công cộng, đô thị, dịch vụ điều hành bay, quản lý bảo trì đường sắt,
cảng hàng không, đường thuỷ nội địa; Xuất bản sách giáo khoa, sách và tạp
chí phục vụ học tập; xuất bản bản đồ, sách báo chính trị, dịch vụ vận tải công
cộng bằng xe buýt tại các đô thị
1.1.1.4. Đơn vị sự nghiệp công
ĐVSNC là đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công do NN quản lý
hoặc NN giao cho các đơn vị khác thực hiện.
1.1.2. Tổ chức cung cấp dịch vụ công
DVC có vai trò vô cùng quan trọng đối với toàn xã hội vì DVC phục vụ
nhu cầu chung và thiết yếu của cả cộng đồng, nhưng hiện nay ở nước ta việc
cung ứng DVC được tiến hành theo các hình thức sau:
Các CQNN trực tiếp cung ứng DVC. Theo hình thức này, NN chịu trách
nhiệm trực tiếp cung ứng DVC đối với các dịch vụ liên quan đến an ninh quốc
gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, an ninh, hộ tịch …) mà
chỉ có cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm. NN với vai trò
chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh vực


+ Tư nhân hoá DVC, trong đó NN bán phương tiện và quyền chi phối
của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo
lợi ích công bằng pháp luật.
+ Mua DVC từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể
làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong CQNN, như bảo dưỡng
phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu cầu
về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan…
1.1.3. Đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.3.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của NN, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách
pháp nhân, cung cấp DVC, phục vụ QLNN.
Như vậy, các ĐVSN gồm có 2 loại chính: Các ĐVSNCL do các Bộ,
ban, ngành, đoàn thể TW quản lý và các ĐVSNCL do ĐP quản lý.
Ngoài ra, các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ
chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức hoạt động theo các mô
hình: (i) Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động
thường xuyên (gọi tắt là tổ chức tự trang trải kinh phí) và (ii) Doanh nghiệp
khoa học và công nghệ. Tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh
vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây
dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ QLNN được NSNN
tiếp tục bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao.
Tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
là ĐVSN khoa học và công nghệ của NN (trừ trường hợp toàn bộ tổ chức
chuyển đổi để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ).
Ngoài ra, còn có các ĐVSN do các Tập đoàn, Tổng công ty do Thủ
tướng Chính phủ thành lập quản lý.

11
Tóm lại: Một cơ quan, đơn vị được gọi là ĐVSNCL nếu nó thoả mãn

lý, sử dụng TSNN theo mô hình ĐVSN tự chủ tài chính.
- Theo quy định tại Luật Viên chức thì ĐVSNCL gồm:
+ ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ,
tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là ĐVSNCL được giao quyền tự chủ);
+ ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm
vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là ĐVSNCL chưa được giao
quyền tự chủ).
- Theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì ĐVSNCL được
phân chia thành 03 loại:
+ ĐVSN có nguồn thu SN tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường
xuyên (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động);
+ ĐVSN có nguồn thu SN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm
một phần chi phí hoạt động);
+ ĐVSN có nguồn thu SN thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt
động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ (gọi
tắt là ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).

1.2. TS NN tại đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1. Khái niệm tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập
TSNN tại ĐVSN là một bộ phận TSNN mà NN giao cho các ĐVSN
trực tiếp quản lý và sử dụng để phục vụ cho các hoạt động SN phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, bao gồm:
Nhà cửa, công trình, vật kiến trúc: là TS của đơn vị được hình thành
sau quá trình xây dựng trụ sở làm việc, trường học, bệnh viện, nhà thi đấu thể
thao, nhà văn hóa, phòng thí nghiệm, nhà kho, sân bãi, các công trình trang trí
cho nhà cửa, đường sá, cầu cống, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng ;

13
Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho cán

cấp xã quản lý

TSNN do UBND
cấp huyện quản lý TSNN do UBND
cấp Tỉnh quản lý TSNN do TW
quản lý
1
.2.2.2. Phân loại theo đối tượng quản lý

Hình 1.1. Đối tƣợng quản lý TSNN tại ĐVSNCL
Theo sơ đồ trên TSNN tại ĐVSNCL gồm:
- TSNN do TW quản lý bao gồm TSNN do các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW quản lý.
- TSNN do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quản lý (gọi chung là
UBND cấp tỉnh) bao gồm TSNN do các ĐVSNCL thuộc cấp tỉnh quản lý.
- TSNN do UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản
lý (gọi chung là UBND cấp huyện) bao gồm TSNN do các ĐVSNCL cấp
huyện quản lý.
- TSNNN do UBND xã, phường, thị trấn quản lý (gọi chung là UBND
cấp xã) bao gồm TSNN do các ĐVSN thuộc cấp xã quản lý.
1.2.2.3. Phân loại theo đặc điểm, tính chất, hoạt động của TS

nạp được và các nguồn TS do thiên nhiên ban tặng cho con người. Tất các TS
đó đều thuộc sở hữu của toàn dân do NN đại diện chủ sở hữu. NN có quyền
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt TS đó.
- TSNN tại ĐVSNCL rất đa dạng và phong phú, được phân bổ rộng
trên phạm vi cả nước. Ở nước ta, NN đã giao TSC cho các ngành, các cấp, các
cơ quan QL NN, ĐVSN tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
quản lý, sử dụng.

16
- Trong quá trình sử dụng TSNN tại các ĐVSN thì một phần giá trị của
TS là yếu tố chi phí tiêu dùng công đối với ĐVSN không có thu, ngược lại đối
với ĐVSN có thu thì TSNN là những tư liệu sản xuất để tạo ra các sản phẩm
DVC và phần giá trị hao mòn của các TS trong quá trình sử dụng là yếu tố
của giá thành sản phẩm dịch vụ.
- TSNN tại các ĐVSN phần lớn mang tính chất đặc thù theo ngành, lĩnh
vực SN mà đơn vị đó hoạt động; cùng một loại TS nhưng có đặc điểm kỹ
thuật và đặc tính riêng để phục vụ cho từng loại hoạt động SN riêng theo
ngành, lĩnh vực của ĐVSN thực hiện.
- TSNN tại các ĐVSN không chỉ được đầu tư, mua sắm bằng nguồn
vốn NSNN mà còn được đầu tư mua sắm từ nguồn vốn vay của quỹ hỗ trợ
phát triển hoặc ngân hàng và quỹ phát triển SN của ĐVSN có thu.
1.2.4. Vai trò của tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập
- TSNN tại ĐVSNCL là nguồn lực để các ĐVSNCL phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.TSNN tại ĐVSN được phân bổ ở khắp
mọi miền đất nước, là cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục và đào tạo công, y
tế công; các cơ sở văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao công; các cơ sở nghiên
cứu và hoạt động khoa học công nghệ ; các cơ sở hoạt động DVC, TS kết cấu
hạ tầng (hệ thống giao thông, điện, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước …)
- TSNN tại ĐVSNCL là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực

ngắn, chúng ta phải “đi tắt” - “đón đầu” để nắm bắt và vận dụng được những
thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học, công nghệ thế giới. Muốn vậy,
chúng ta phải có con người có tri thức, có năng lực khoa học để tiếp cận khoa
học, công nghệ thế giới, đồng thời có lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật.
Những con người này muốn có được phải bắt nguồn từ phát triển SN giáo dục
- đào tạo, như năm 1994 UNESCO đã khẳng định: “không có một sự tiến bộ

18
và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo
dục của quốc gia đó”. Với yêu cầu đó, trong những năm qua NN ta đã đầu tư
phát triển TSNN phục vụ cho phát triển giáo dục - đào tạo.
+ TSNN trong ĐVSN là điều kiện vật chất để nâng cao thể chất và tinh
thần cho con người lao động, duy trì, phát triển các hoạt động của xã hội làm
cho đời sống xã hội của con người ngày càng phong phú và văn minh hơn.
Con người lao động hiện nay không chỉ cần có tri thức, trình độ khoa
học kỹ thuật mà còn phải có thể chất, có hiểu biết về văn hóa, tinh thần yêu
nước. Để tạo cho con người đạt các yêu cầu này, NN phải đầu tư, mua sắm
các TSNN trang bị cho các hoạt động SN, cải thiện và không ngừng nâng
cao phúc lợi xã hội cho con người kể cả về mặt vật chất và tinh thần;
TSNN ngày một phát triển và nâng cấp sẽ là điều kiện vật chất đảm bảo
cho con người được hưởng lợi từ các hoạt động SN công (y tế, thể thao,
văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và đào đạo, khám chữa bệnh ), các nhu cầu
thiết yếu trong đời sống hàng ngày của con người như: Đi lại, giao lưu, sử
dụng các dịch vụ điện, nước
+ TSNN trong ĐVSN là điều kiện vật chất cần thiết để các nhà khoa
học thực hiện các công trình khoa học và công nghệ tại các tổ chức nghiên
cứu khoa học công nghệ NN góp phần làm cho môi trường xã hội, môi trường
sống ngày một tốt hơn, nhất là trong điều kiện của một nền kinh tế phát triển,
hội nhập, vận hành theo cơ chế thị trường.
1.3. Quản lý tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp công lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status