PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế
đang từng bước chuyển đổi để tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để hòa
nhịp cùng với thế giới, việc đầu tiên là phải thay đổi phương thức lao động giản
đơn bằng lao động máy móc hiện đại. Vì vậy, cần phải có một nguồn nhân lực
dồi dào, vừa có đủ năng lực trí tuệ, có trình độ học vấn cao, năng động với thời
cuộc, vừa có sức khỏe tốt. Để đáp ứng được nhu cầu của xã hội, ngành giáo dục
cũng đã có nhiều thay đổi để nâng cao chất lượng đào tạo thể hiện đúng vai trò
chủ đạo, then chốt trong chiến lược đào tạo con người mới. Nhưng chất lượng
giáo dục như thế nào lại phụ thuộc rất nhiều vào thể chất, trí tuệ của học sinh,
sinh viên , những người chủ tương lai của đất nước.
Trong Nghị quyết 25, Nghị quyết 04 của Bộ chính trị (khóa VI), nghị quyết
trung ương II (khóa VIII), Đảng ta đã xác định “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu”, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”. Thực hiện các nghị quyết của Đảng, trong 10 năm qua,
ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực đổi mới tư duy, coi “Chiến lược phát triển
giáo dục là một bộ phận trong chiến lược phát triển con người và chiến lược con
người đứng ở vị trí trung tâm của toàn bộ chiến lược kinh tế xã hội của đất nước”
[95]. Vì vậy, cần phải đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, đổi mới cách
thức tổ chức, quản lý giáo dục, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, nhằm khai
thác mọi nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục, nhằm đào tạo nguồn nhân
lực đạt chất lượng cao [95].
1
Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của vấn đề này, đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu của các tác giả [7], [9], [17], [22], [28], [30], [38], [44],
[50], [57], [61], [67]… về các chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh Việt Nam.
Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của con
người luôn thay đổi và phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường tự nhiên
và xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu các chỉ số sinh học, chức năng sinh lí, trí tuệ
Bình và THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học, tần số tim và
huyết áp động mạch, năng lực trí tuệ của học sinh 12 - 18 tuổi của trường THCS
An Bình và THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Các chỉ số sinh học, tần số tim và huyết áp động mạch được xác định
theo các phương pháp hiện hành.
- Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent (loại dùng cho người
bình thường từ 6 tuổi trở lên).
- Trí nhớ ngắn hạn được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
- Khả năng chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon.
- Trạng thái cảm xúc được xác định bằng phương pháp CAH.
6. Những đóng góp của đề tài
- Là người đầu tiên cho thấy thực chất về một số chỉ số sinh học, năng lực
trí tuệ, khả năng chú ý, khả năng ghi nhớ, trạng thái cảm xúc của học sinh trường
3
THCS An Bình và trường THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, tỉnh Hải
Dương.
- Các số liệu trong luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các
nghiên cứu và giảng dạy về đặc điểm phát triển của học sinh THCS và THPT
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, chăm sóc sức khỏe học sinh.
4
PHẦN II
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Một số chỉ số sinh học
1.1.1. Một số chỉ số sinh học
Chỉ số sinh học của con người được đánh giá dựa trên nhiều chỉ số khác
nhau, nhưng chiều cao, cân nặng, vòng ngực là những chỉ số sinh học được lựa
thái học và giải phẫu học mỹ thuật" là một trong số những tác phẩm đầu tiên
của Đỗ Xuân Hợp (cộng tác với Huard) ra đời từ những năm 30 của thế kỉ XX ,
được xem là một công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam
(theo [67]).
Từ 1954 đến nay, đã có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về các
đặc điểm sinh học của người Việt Nam. Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học
của người Việt Nam” [88] được xuất bản. Đó là một công trình nghiên cứu
tương đối công phu, khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của
người Việt Nam và được coi là mốc đánh dấu trong lịch sử nghiên cứu Sinh học
người Việt Nam [89]. Sau đó, các chỉ số sinh học của người Việt Nam lại tiếp
tục được thể hiện qua tập “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao
động" của tập thể tác giả do Võ Hưng chủ biên [40]. Atlat đã cung cấp số liệu về
6
hình thái người lao động Việt Nam ở cả ba miền đất nước và còn gợi mở một
nhận xét về các qui luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người
lao động Việt Nam [40].
Năm 1991, Đào Huy Khuê [44] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự
tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Thị xã Hà Đông,
tỉnh Hà Sơn Bình. Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần
theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều. Tốc độ tăng trưởng các thông số
lớn nhất của nam thường ở lứa tuổi 14 - 16 và của nữ ở lứa tuổi 11 - 15.
Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992) [15] đã nghiên cứu trên đối tượng học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi, với 13 chỉ số sinh học. Tác giả đã rút ra kết luận là chiều
cao của các em học sinh nam phát triển mạnh nhất lúc 13 - 15 tuổi và của học
sinh nữ lúc 11 - 12 tuổi. Đối với chỉ tiêu cân nặng, ở học sinh nam phát triển
mạnh nhất lúc 15 tuổi và ở học sinh nữ lúc 13 tuổi. Theo tác giả, quy luật phát
triển các giai đoạn phù hợp với quy luật phát triển chiều cao, còn quy luật phát
triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng.
Tạ Thuý Lan, Đàm Phượng Sào [55] nghiên cứu sự phát triển thể lực của
học sinh từ 6 - 14 tuổi ở Vân Canh, Hà Tây đã cho thấy, chiều cao của học sinh
Kinh, tác giả cho thấy, các chỉ số sinh học của trẻ em các dân tộc nghiên cứu thể
hiện tính quy luật phát triển cơ thể của người Việt Nam. Tuy nhiên, chế độ dinh
dưỡng có ảnh hưởng đến chiều cao, cân nặng của trẻ em, điều này thể hiện ở chỗ tỉ
lệ suy dinh dưỡng thể còm, còi và nhẹ cân còn cao ở trẻ em các dân tộc nghiên cứu.
8
Gần đây, theo Trần Thị Minh Hạnh [26] nghiên cứu trên học sinh phổ thông
ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 - 2009 cho thấy, chiều cao của học sinh
nam đã tăng 1,2 - 2,4 cm nhưng chiều cao của học sinh nữ lại không có sự thay
đổi đáng kể. So với học sinh ngoại thành, học sinh nội thành cao hơn 3 - 4 cm và
nặng hơn 8,5 - 10 kg, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp hơn nhưng tỉ lệ thừa cân lại cao
hơn gấp 2 - 5 lần.
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả chúng ta có thể thấy,
các chỉ số sinh học biến đổi theo lứa tuổi, mang đặc điểm giới tính và thay đổi
theo từng miền, từng nhóm dân tộc khác nhau. Các công trình nghiên cứu về các
chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam khá phong phú. Các công trình đều xác định
được các chỉ số sinh học biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính. Trong quá trình
phát triển của trẻ em có giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt. Mốc đánh dấu sự nhảy
vọt tăng trưởng của của các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng
nhanh nhất khoảng 13 - 15 tuổi ở nam và 10 - 12 tuổi ở nữ, cân nặng cũng tăng
nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi ở nữ. Các chỉ số thể lực có sự
khác biệt giữa học sinh nông thôn và học sinh thành phố, cũng như các vùng khí
hậu khác nhau và các nhóm dân tộc khác nhau.
1.2. Tần số tim và huyết áp động mạch
Hệ tuần hoàn giữ chức năng chủ đạo là cung cấp ôxy và chất dinh dưỡng
cho toàn bộ cơ thể. Trong đó, hoạt động của hệ tuần hoàn được biểu hiện rõ thông
qua những chỉ số cơ bản là tần số tim và huyết áp động mạch. Việc nghiên cứu tần
số tim và huyết áp động mạch của trẻ em đã được nhiều tác giả thực hiện như
Trần Thị Loan, Lê Nam Trà và cs [12], [52], [66], [67], [68], [88]. Theo các tác
giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự giảm dần đó có liên quan đến
hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim.
chức năng của trí tuệ thì trí tuệ được hiểu là khả năng hoạt động lao động và học
tập của cá nhân. Con người phải học tập để bảo toàn cơ thể, để phát triển nhân
cách, để khẳng định mình trong xã hội và để phát triển (theo [46], [76]); Khi xét
đến khả năng tư duy, trí tuệ được coi là năng lực tư duy, con người giải quyết
các nhiệm vụ mới thông qua năng lực tư duy [81], [93]. Trí tuệ còn được hiểu là
khả năng thích ứng tích cực của cá nhân. Trí tuệ là tiền đề cho sự tương tác giữa
con người với môi trường sống (theo [70]), [78], [79], [100], [102]). Ngoài ra,
còn có nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để mô tả năng lực trí tuệ như: trí khôn,
trí lực, trí thông minh [20], [21], [101]….
Trí tuệ có thể là thuộc tính đơn nhân tố (theo [46], [76], [83]), trong trí
thông minh của con người có một nhân tố chung nào đó của cá nhân như: tính
linh hoạt, sự mềm dẻo thần kinh Hay, trí tuệ gồm nhiều nhân tố hay thành
phần khác nhau. Bất kỳ một hoạt động trí tuệ nào cũng chứa đựng một loạt nhân
tố có tác động qua lại với nhau (theo [46]).
Từ khi sinh ra cho đến 18 tuổi, trí tuệ phát triển nhanh chóng và tương đối
hoàn thiện ở 18 tuổi. Tốc độ, nhịp độ tăng trưởng ổn định hay suy giảm khả
năng hoạt động trí tuệ của cá nhân theo lứa tuổi liên quan tới sự phát triển,
trưởng thành, lão hoá của hệ thần kinh cũng như chế độ hoạt động của mỗi
người. Thời điểm và tốc độ lão hoá phụ thuộc nhiều vào chế độ hoạt động trí óc,
sự phát triển của hệ thần kinh [56], [47], [87]. Ngoài ra, các nền văn hoá khác
nhau cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ [70].
Để đánh giá trí tuệ, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp
11
đánh giá khác nhau về trí tuệ [46]. Một phương pháp được nhiều người quan
tâm là sử dụng trắc nghiệm trí tuệ (Test trí tuệ). Trắc nghiệm là một thử nghiệm,
mang tính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một khía cạnh
nhất định của tính tích cực nên việc thực hiện nó liên quan tới sự hoàn thiện các
chức năng nhất định, được đánh giá về mặt định lượng và định tính (theo [83],
[101]). Một trắc nghiệm tốt phải là một trắc nghiệm đã được chuẩn hóa và đảm
bảo những tiêu chuẩn sau [76]:
phương pháp nghiên cứu khác như: quan sát. thực nghiệm.… Mặc dù vậy, với
những ưu điểm nổi bật, phương pháp trắc nghiệm test Raven vẫn được sử dụng
rộng rãi ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2], [30], [31],
[32], [37], [83] cho thấy, có thể sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán
khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên, phải tiến hành
nghiên cứu cũng như cải tiến các trắc nghiệm đo trí tuệ cho phù hợp với trẻ em
Việt Nam [1], [81], [83].
1.3.2. Lược sử nghiên cứu về năng lực trí tuệ
Trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con
người. Từ lâu nó đã trở thành vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu. Người ta cho rằng, việc sử dụng các thí nghiệm trắc
nghiệm về trí tuệ đã có từ năm 2200 trước công nguyên, khi người Trung Hoa
dùng chúng để tuyển chọn người có tài năng làm kẻ hầu [46], [83].
Người đầu tiên nghiên cứu về trí tuệ là F.J.Gall (theo [70]). Vào đầu thế
13
kỷ XVII, ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ
tập trung ở các vùng chuyên biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường
nét và đo sọ não. Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của
F.Galton (1893), Alled Binnet và Simon (1905), Petersalovey và John Mager
(theo [46], [84])
Ở Việt Nam, trước năm 1975, việc nghiên cứu trí tuệ còn rất mới mẻ.
Các test đo lường trí tuệ thường chỉ dùng trong ngành y tế để chẩn đoán bệnh
[84]. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu về trí tuệ ngày
càng nhiều [27], [39], [49], [51], [67], [82],… Việc nghiên cứu trí tuệ được tiến
hành theo ba hướng chính: nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số sinh học
với sự phát triển trí tuệ; nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền với trí
tuệ; nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển trí tuệ. Về mối liên
quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ đã có nhiều tác giả nghiên
cứu [39], [50], [57]…
Trần Trọng Thủy nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh quận Hoàn
thấy, có mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa trí tuệ và các chỉ số thể lực.
Năng lực trí tuệ có mối tương quan thuận với khả năng tập trung chú ý [39]…
1.4. Trí nhớ
Hoạt động của não bộ con người cho phép ghi lại tất cả những gì tác động
đến cơ thể. Các dấu vết về các sự vật, hiện tượng đã được ghi lại không bao giờ
biến mất, nó có thể được tái hiện nguyên vẹn trong những điều kiện, hoàn cảnh
15
thích hợp. Do vậy, khả năng ghi lại, tái hiện trong trí óc những điều đã biết, đã
trải qua gọi là trí nhớ [96].
Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tinh thần của con
người và là một thành phần quan trọng của trí tuệ [48], [53]. Trí nhớ của con
người là một quá trình hoạt động phức tạp cho nên có nhiều cách hiểu về trí nhớ.
Nhớ là sự tiếp nhận, giữ gìn và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người
đã cảm giác, đã suy nghĩ, tưởng tượng ra. Trí nhớ phản ánh những sự vật, những
hiện tượng trước đây đã tác động vào cơ thể mà hiện tại không cần sự tác động
đó nữa. Người ta coi trí nhớ là sự vân dụng một khái niệm đã biết trước và là kết
quả hoạt động của hệ thần kinh [48], [53].
Có tác giả cho rằng, trí nhớ là sự duy trì các thông tin tín hiệu khi đã
ngừng tác động. Các thông tin này có thể được sử dụng để tác động với các tín
hiệu tiếp theo [72]. Một số nhà khoa học khác lại cho rằng, trí nhớ là sự vận
dụng những khái niệm đã biết trước, là kết quả của những thay đổi xảy ra trong
hệ thần kinh [42]. Trí nhớ là một hiện tượng tâm - sinh lý quan trọng không thể
thiếu được trong đời sống con người. Không có trí nhớ thì con người sẽ không
có quá khứ, không có tương lai mà chỉ có hiện tại tức thời. Không có trí nhớ sẽ
không có bản ngã và do đó không có nhân cách. Nhờ có trí nhớ, con người đã
tích luỹ kinh nghiệm sống để vận dụng chúng vào đời sống [25].
Có ba quan điểm về cơ chế nhớ đã được nhiều người quan tâm. Theo
Anôkhin (theo [48]), trí nhớ là một hệ thống chức năng phức tạp. Trí nhớ được
thực hiện bằng sự phối hợp hoạt động của một loạt các vùng trên vỏ não, mỗi
vùng giữ một nhiệm vụ chuyên biệt [24]. Theo Pavlov (theo [48]), cơ sở sinh lý
Các nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng
theo tuổi, ít hoặc không có sự khác biệt về trí nhớ theo giới tính.
1.5. Khả năng chú ý
Tại một thời điểm nhất định nào đó luôn có muôn vàn sự vật, hiện tượng
tác động tới con người, nhưng chúng ta chỉ có thể tiếp nhận và xử lí một số tác
động nhất định và bỏ qua một số tác động khác. Sự lựa chọn chỉ tập trung vào
một số tác động nhất định là nhờ khả năng tập trung chú ý. Chú ý là sự tập trung
của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng để định hướng hoạt động,
đảm bảo các điều kiện thần kinh và tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có
hiệu quả [25].
Chú ý là trạng thái tâm sinh lý diễn ra trong suốt quá trình nhận thức. Sự
chú ý chia kích thích thành cái cần xử lý và cái không cần xử lí. Nhờ có khả
năng chú ý mà ta mới có thể lựa chọn được các kích thích ưu thế trong vô số tác
động lên cơ thể để đưa ra các câu trả lời thích hợp [35].
Mọi hoạt động có tổ chức của con người đều phải dựa trên khả năng lựa
chọn thông tin. Từ một số lượng lớn các tác nhân kích thích tác động lên cơ thể,
con nguời chỉ chọn lọc tiếp nhận và xử lý các thông tin mạnh nhất hay quan
trọng nhất đối với mình. Muốn lựa chọn được chính xác, não bộ phải tập trung
hoạt động vào các cấu trúc nhất định. Đây chính là khả năng tập trung chú ý để
tạo ra các ổ hưng phấn tối ưu [48].
Cơ sở sinh lý của chú ý là phản xạ định hướng có lựa chọn. Hoạt động
thần kinh tuân theo năm nguyên tắc cơ bản, một trong số những nguyên tắc đó là
nguyên tắc ưu thế [47], [70]. Sự chú ý tồn tại trên cơ sở hoạt động của nguyên
tắc này. Khi chú ý ở cường độ cao (sự tập trung cao độ) sẽ xuất hiện ổ hưng phấn
18
cực đại (gọi là điểm ưu thế), nó sẽ chiếm ưu thế và lấn át các hưng phấn yếu hơn.
Điểm ưu thế được hình thành dưới tác động của các hoocmon, các chất hoá học
và nhiều yếu tố khác. Khi đã tồn tại một điểm ưu thế nào đó thì hiệu quả tác
động của các kích thích tương ứng tăng lên rất nhiều, tạo ra được các phản ứng
đặc trưng. Nhờ hoạt động của não chỉ tập trung vào một ổ hưng phấn, nên con
khác theo yêu cầu của hoạt động [23].
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu độ tập trung chú ý đã được nhiều tác giả
quan tâm thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau [33], [35], [45]. Trần Thị
Loan đã nghiên cứu trên học sinh phổ thông từ 6 - 17 tuổi quận Cầu Giấy, Hà
Nội cho thấy, độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý tăng dần theo tuổi và
không có sự khác biệt theo giới tính [67]. Mai Văn Hưng [39] khi nghiên cứu
khả năng chú ý của sinh viên một số trường đại học phía Bắc Việt Nam từ 18 -
25 tuổi đã cho thấy, độ tập trung chú ý tăng dần từ 18 - 19 tuổi sau đó giảm dần
theo tuổi. Khả năng tập trung chú ý của sinh viên nam cao hơn sinh viên nữ cùng
độ tuổi. Tuy nhiên, mức độ giảm khả năng chú ý theo các lớp tuổi không có ý
nghĩa thống kê. Lê Văn Hồng (theo [33]) khi nghiên cứu về khả năng chú ý của
học sinh THPT và THCS đã cho rằng, sự phát triển chú ý của học sinh diễn ra rất
phức tạp, chú ý có chủ định dần dần được hình thành, khối lượng chú ý tăng rõ
rệt. Nghiêm Xuân Thăng [82] nghiên cứu khả năng tập trung chú ý trong các
điều kiện thời tiết khác nhau và chỉ ra rằng, khả năng chuyển tiếp chú ý của học
sinh năng khiếu nhanh hơn học sinh bình thường.
20
1.6. Trạng thái cảm xúc
Theo từ điển tiếng Việt [96] , cảm xúc là những rung động trong lòng khi
tiếp xúc với sự vật, hiện tượng nào đó. Theo một số nhà khoa học, cảm xúc là
thái độ chủ quan của con người (hay động vật) đối với các sự vật và hiện tượng
của thế giới xung quanh [19].
Cảm xúc là hoạt động phức tạp của não bộ, có nhiều quan điểm khác nhau
về hoạt động cảm xúc của con người. Nguyên nhân xuất hiện cảm xúc là do sự
thay đổi các chức năng sinh lí nhằm đảm bảo cho cơ thể có thể thích nghi một
cách tốt nhất với môi trường luôn thay đổi [48]. Mỗi hành vi nhằm thoả mãn một
nhu cầu nhất định nào đó đều xảy ra đồng thời với những thay đổi nhất định về
mặt cảm xúc [80]. Ví dụ như nhu cầu về mặt sinh dưỡng, sinh dục, sinh sản, tự
bảo vệ
Để giải quyết vấn đề bản chất của cảm xúc, đã có rất nhiều công trình
lẫn sinh lý. Cảm xúc thúc đẩy con người hoạt động, khắc phục những khó khăn
trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động. Nó là động lực thúc đẩy mạnh mẽ
và chi phối hoạt động nhận thức, kích thích sự tìm tòi và sáng tạo của con
người [45], [43].
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về
cảm xúc. Carrol Izard [5] đã nghiên cứu sâu về bản chất và cách biểu hiện trạng
thái cảm xúc của con người. Ở Việt Nam, cảm xúc cũng đã được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu. Phạm Minh Hạc [25] nghiên cứu về bản chất và cách biểu
22
hiện của cảm xúc. Tạ Thúy Lan [48], nghiên cứu cơ sở thần kinh của cảm xúc…
Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng quan tâm đến vấn đề này [8], [80],…
Trong đời sống hàng ngày và trong giáo dục, cảm xúc giữ vai trò rất quan
trọng. Nó vừa là điều kiện, vừa là nội dung, vừa là hiệu quả của hoạt động giáo
dục. Những tri thức nào gây ra được ở học sinh những cảm xúc dương tính mạnh
mẽ thì sẽ được các em lĩnh hội một cách nhanh chóng và vững chắc hơn so với
những thông tin mà học sinh dửng dưng. Sự thành công trong học tập làm xuất
hiện ở học sinh một cảm xúc tích cực, khích lệ các em nỗ lực. Sự thất bại, quở
trách tạo cảm xúc khó chịu. Chính vì vậy, Đặng Phương Kiệt [45] cho rằng, có
những nghiên cứu về cảm xúc hướng về sự kết hợp trí tuệ với cảm xúc. Như vậy,
việc nghiên cứu cảm xúc giúp ích nhiều cho việc xây dựng chiến lược giáo dục
phát triển các năng lực này ngay từ tuổi học đường.
23
CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh của hai trường THCS An Bình
và trường THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Tất cả có 7
nhóm đối tượng với 7 độ tuổi khác nhau, từ 12 - 18 tuổi. Đối tượng nghiên cứu ở
trạng thái khỏe mạnh và không có các dị tật về thể hình và bệnh mãn tính.
Bảng 2.1 - Phân bố đối tượng nghiên cứu
Phân loại thể lực theo chỉ số pignet (theo[7]) được trình bày trong bảng 2.2.
Bảng 2.2. Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
Phân loại Pignet
Cực khoẻ < 23
Rất khoẻ 23,0 - 28,9
Khoẻ 29,0 - 34,9
Trung bình 35,0 – 41
Yếu 41,1 - 47,3
Rất yếu 47,5 – 53
Cực yếu > 53
- Chỉ số BMI gọi là chỉ số khối cơ thể tính theo công thức:
BMI = Khối lượng cơ thể (kg) / [Chiều cao đứng (m)]
2
(2)
Chỉ số BMI được đánh giá theo CDC dùng cho trẻ em từ 2 - 20 tuổi [106]
(hình 2.1 và 2.2).
25