Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số kỹ thuật trong gieo ươm loài cây sa mộc dầu (cunninghamia konishi hayata) tại đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯỜNG THỊ DÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SÓ KỸ THUẬT TRONG GIEO
ƯƠM
LOÀI CÂY SA MỘC DẦU (Cunninghamia Konishi
Hayata)
TẠI ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy :

Chuyên ngành

Lâm nghiệp :

Khoa Khoá

Lâm nghiệp :
2011 - 2015

Thái Nguyên, 2015


NGHIÊN CỨU MỘT SÓ KỸ THUẬT TRONG GIEO
ƯƠM

sự giúp đỡ của Th.s Lương Thị Anh em tiến hành nghiên cứu

đề

tài:

“Nghiên

cứu

một số kỹ

thuật trong gieo
ươm loài cây Sa Mộc dầu (Cunninghamia Konishi Hayata) tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trong thời gian thực tập em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp,
đặc biệt là cô giáo Lương Thị Anh đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đề tài.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, các phòng ban và gia đình, bạn bè đã
giúp đỡ để em hoàn thành đề tài này.
Do thời gian và trình độ có hạn, nên chắc chắn đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Sinh viên
Lường Thị Dân


4

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số kỹ thuật trong gieo ươm loài cây Sa Mộc dầu


6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT
CTTN

: Công thức thí nghiệm

CT

: Công thức

I

: Tổng

PTPSMNT

: Phân tích phương sai một nhân
tố
Trang

PHỤ LỤC


7

PHẦN 1

8

cm, thót ngắn thành mũi tù và không cứng, mép hơi răng cưa, mặt dưới có 2 dải
lỗ khí. Nón đơn tính cùng gốc. Nón đực mọc thành cụm ở nách lá gần đầu cành.
Nón cái đơn độc hoặc cụm 2-3, khi trưởng thành dài 2,4-2,8 cm, rộng 2,0- 2,6
cm. Vay nón cái hình tam giác rộng, có mũi nhọn ở đầu, có răng cưa ở 2 mép và
2 tai tròn ở giữa, mang 3 hạt trong mỗi vẩy. Hạt có cánh bên khá rộng dài 5 mm
rộng 4 mm. Cây được thấy rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinh rậm
thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc núi trung bình (Nhiệt độ
trung bình năm 13-19°C, lượng mưa trên 1500mm) trên đất phong hoá từ granít
hoặc các đá mẹ silicát khác ở độ cao 960-2000m trên mặt biển.
Sa Mộc dầu được xếp vào Nhóm IIA trong danh mục các loài thực vật quý
hiếm và việc sử dụng bị hạn chế.
Việc khai thác Sa mộc dầu tại địa phương cần phải chấm dứt bằng cách
nâng cao nhận thức cho người dân và các cơ quan nhà nước, và bằng cách tăng
cường bảo vệ tại chỗ. Người dân địa phương và các đơn vị liên quan cần được
thông báo về vấn đề dẫn nhập Sa mộc (C. lanceolatà) từ các vùng ngoài Nghệ
An. Hợp tác với các cán bộ lâm nghiệp của Lào là một biện pháp quan trọng vì
phần lớn các quần thể đều nằm ở các vùng giữa biên giới hai nước. Sa mộc dầu,
một trong vài loài cây gỗ lớn nhất của Việt Nam có giá trị lấy gỗ tốt. Các khu
trồng thử nghiệm lâm sinh cần được thiết lập ở các địa điểm thích hợp bằng cách
sử dụng hạt giống thu từ các nguồn khác nhau. Hạt và cây con có thể được nhập
từ Lào nhưng không được trồng lẫn với Sa mộc (C. lanceolata).
Hiện nay cây Sa mộc dầu đang được trồng trên địa bàn các tỉnh trong cả
nước, là cây ưa sáng nhưng lúc nhỏ cũng cần có tàn che. Sa mộc dầu mọc khá
nhanh so với những loài cây lá kim khác, tỉa cành tự nhiên tốt, khả năng tái sinh
chồi mạnh, có thể kinh doanh rừng chồi, việc trồng cây bằng hạt gần
như là không có, cây hầu hết chỉ mọc ngoài tự nhiên do quả chín rơi rụng và gặp
điều kiện thời tiết thuận lợi thì mọc thành cây tuy nhiên cây chỉ mọc với số lượng


thích nảy mầm hạt Sa mộc dầu.

-

Xác định được độ dày lấp đất khi gieo hạt Sa mộc dầu.

1.4.
-

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học.
+ Củng cố lại kiến thức đã học.
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất biết áp dụng lý thuyết

vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào công việc sau này.
+ Biết được phương pháp xử lý, kích thích hạt giống.
+ Giúp bản thân tôi nắm vững được kiến thức đã học về gieo ươm.
+ Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và
xây dựng quy trình kĩ thuật gieo ươm cây Sa mộc dầu.
-

Ý nghĩa trong thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để nhân giống cây Sa mộc dầu

bằng hạt.

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


Quang Trường, 2007 [1].
Các loại hạt khác nhau thì phương pháp xử lý kích thích khác nhau căn cứ
vào độ dày của vỏ hạt, tinh dầu trong hạt để lựa chọn phương pháp xử lý.
Sa mộc dầu là cây có vỏ hạt có vỏ mềm nên nước và không khí có thể
thấm vào trong nhưng hạt cần ngâm với nhiệt độ thích hợp mới có thể nảy mầm
được nên trong xử lí cần có phương pháp xử lí thích hợp.
2.2.

Những nghiên cứu trên thế giới


1
1

Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực đã làm
cho môi trường ô nhiễm, rừng suy giảm về diện tích và chất lượng, đặc biệt ảnh
hưởng trực tiếp dến đời sống sức khoẻ con người. Đứng trước tình hình đó các
nhà khoa học

về lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt là sự đóng

góp của các nhà khoa học lâm nghiệp đã và đang lỗ lực để tìm ra những phương
pháp tạo giống cây mới đóng góp vào ngân hàng giống ngày càng chất lượng.
Từ thế kỉ XVIII - XIX đã có những ý tưởng về nghiên cứu giống cây lâm
nghiệp và sản xuất giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế kỉ
XX các nước ở Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Đan Mạch là những nước có nền
Lâm Nghiệp phát triển mạnh cũng đã xuất hiện những công trình
nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống
bằng cây gép cho các loại Thông, Dương và Sồi Dẻ.
Trong những năm 1980 nhiều lớp tập huấn về cải thiện giống cây rừng

giống nảy mầm của 10 loài cây lâm nghiệp, sau khi lưu trữ cho 1 năm, được thực
hiện nhằm tăng tỷ lệ nảy mầm của những hạt giống bằng cách xem xét giá trị nảy
mầm. Năm presowing phương pháp điều trị khác nhau được sử dụng, bao gồm cả
cắt hạt giống vào cuối đối diện để rễ nhỏ, ngâm hạt giống trong axit sulfuric trong
15 phút, ngâm hạt trong nước sôi ở 98 0C và để lại cho hạt mát trong 24 giờ và
kiểm soát [12].
2.3.

Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam rừng trồng chải dài trên diện tích rộng lớn, cây rừng sống lâu
năm,

trình độ cơ giới hoá trong sản xuất, nhân lực, vốn đầu tư có hạn.

Rừng sau khi

trồng ít có điều kiện chăm sóc, do đó công tác giống có tầm

quan trọng đặc biệt. Có thể nói giống là một những khâu quan trọng nhất, có ý
nghĩa quyết định đến sản lượng chất lượng rừng trồng.
Những năm trước thời kì đoi mới chúng ta chưa đánh giá đúng tầm quan
trọng và vai trò to lớn của công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp. Sự quan tâm
của công tác giống lúc bấy giờ chủ yếu là làm sao có đủ số lượng giống cho rừng
trồng, hầu như chưa coi trọng đến chất lượng giống. Sử dụng giống không rõ
nguồn gốc xuất sứ, thu hái sô bồ, dẫn đến rừng trồng có chất lượng kém, năng
xuất thấp phổ biến chỉ đạt 5-10m3/ha/năm.
Đến những năm gần đây công tác giống đã có những chuyển biến căn bản
theo hướng sản xuất kinh doanh sử dụng giống tốt, đã được cải thiện từ các cơ
quan chuyên môn . Cần nhấn mạnh rằng “ Hạt giống tốt” bao gồm cả sức sống

định

quan hệ họ hàng giữa Sa mộc trồng và Sa mộc dầu bằng phương

pháp xác định trình tự 18s-rDNA.
Các chuyên gia thuộc Viện ứng dụng công nghệ vừa nhân giống thành
công hai loài lan hài quý: Hài Hằng (đặc hữu VN) và Hài Tam Đảo (đặc hữu
Đông Dương) bằng phương pháp gieo hạt trong ống nghiệm.
Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc xây dựng hướng dẫn kỹ
thuật

gieo ươm từ khâu thu hái hạt giống, bảo quản hạt giống, xử lý hạt

giống, kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây con.


1
4

Cuốn sách “ Giống cây rừng”, “Lâm sinh 1”, “ Lâm sinh 2”, “ Hướng dẫn
kĩ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào miền núi”, “To chức gieo ươm
cây bản địa phục vụ mục tiêu phuc hồi rừng”... Và hàng loạt các bài luận văn,
luân án, đề tài, chuyên đề nghiên cứu về nhân giống về gieo ươm. Những cuốn
sách này có nói về các khâu chính và các kĩ thuật cần thiết trong công tác gieo
ươm từ khâu xây dựng vườn ươm, khảo nghiệm giống, bảo quản hạt giống và
hàng loạt các nghiên cứu về cách thức sử lý ở mỗi loại hạt giống khác nhau.
Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của mỗi loại hạt, công thức phân phù hợp.
Hiện nay có một số nghiên cứu mới: Đề tài tốt nghiệp của Lý Thị Minh
Kết khóa 39 Lâm nghiệp “Tìm hiểu kỹ thuật gieo ươm cây Lim xanh tại vườn
ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” [ 6]. Tất cả đều nhằm mục đích

Phía Nam giáp xã Thịnh Đức

-

Phía Tây Nam giáp xã Phúc Trìu

-

Phía Đông giáp phường Thịnh Đán

-

Phía Tây giáp xã Phúc Xuân •
Địa hình và đất đai

-

Địa hình chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao. Độ dốc trung bình 1015o, độ cao trung bình 50-70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuồng Đông
Nam.

-

Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuôc trung tâm thực hành thực nghiệm của
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên . Nằm ở khu vực chân đồi, hầu
hết đất ở đây là loại đất Feralit phát triển trên đá Sa thạch. Do vườn ươm
mới chuyển đến về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất
mặt ở đồi tương đối tốt. Theo kết của phân tích mẫu đất của trường thì
chúng ta có thể nhận thấy:
+ Độ PH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây chua


1

0,02
4
0,05
8
0,03
4

0,24
1
0,21
1
0,13
1

0,03
5
0,06
0
0,10
7

3,64

456

3,06

12

đất nông nghiệp 793,31 ha, chiếm 68,65%, nhóm đất phi nông nghiệp 347,37 ha,
chiếm 30,06%, đất chưa sử dụng là 14,84 ha, chiếm 1,28%. Đất đai của xã Quyết
Thắng được hình thành do hai nguồn gốc: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá
mẹ và đất hình thành do phù sa bồi tụ. Do đó có thể chia thành các nhóm đất
chính sau:
- Nhóm đất phù sa
Chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm
phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành:
+ Đất phù sa không được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ
giới chủ yếu là thịt trung bình, loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, rau
màu.
+ Đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới
cát pha thịt nhẹ, hơi nghèo mùn, đạm tống số trung bình, lân và kali tống
số nghèo. Phân bố ở địa hình vàn cao nên khá tơi xốp, thoát nước tốt, thích hợp
với cây khoai tây, rau, ngô, đậu...
-

Nhóm đất xám bạc màu
+ Đất bạc màu phát trien trên đất phù sa co có sản phẩm Feralitic trên nền



giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị sói

mòn, rửa trôi.
+ Đất bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm Feralitic, trên
thành phần cơ giới trung bình, đất có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng các chất
dinh dưỡng nghèo.
-


+ Độ ẩm không khí: Trung bình đạt 82%, độ ẩm không khí nhìn chung
không on định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất là vào tháng 7 lên 86,8%
thấp nhất là tháng 3 là 70%. Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng
10-17%.
+ Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông
Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc .
• Thủy văn
-

Xã Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn do vậy chủ yếu chụi
ảnh hưởng chế độ thủy văn hệ thống kênh đào núi cốc, suối và hồ, ao

trên địa bàn , phục vụ cơ bản cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân


1
8

dân.
-

Hiện trạng vườn ươm: Thành phần số lượng cây đa dạng phong phú. Cả
cây lâm nghiệp và cây ăn quả nhiều loại cây như: Keo, Mỡ, Lát hoa, Sấu,
Long não, Xoài, Mít tứ quý... Vườn có hệ thống đầy đủ, dụng cụ phục vụ
cho công tác gieo ươm đầy đủ, đáp ứng đầy đủ cho công tác thực tập của
sinh viên trong trường, giao thông thuận tiện cho việc vận chuyển cây.

2.5.
-


mưa và chế độ ẩm: Các khu vực có Sa mộc dầu phân bố

thường có lượng mưa rất cao từ 170-2000mm. Lượng mưa thường tập trung theo
mùa, mùa mưa thường đến sớm và kết thúc sớm hơn so với khu vực ở vùng thấp.
Các khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu Lào và thường phân thành 2
mùa rõ rệt.
-

Độ am ở đây biến đoi rất lớn, về mùa mưa độ ẩm rất cao nhưng về mùa
khô, đặc biệt mùa gió Lào thì độ am rất thấp.


1
9

-

Chế độ chiếu sáng: Các khu vực này thường phân bố ở mép khe lên đến
lưng chừng dông núi, nơi có độ dốc rất lớn, nên độ dài giờ chiếu sáng bị
giảm đi rất nhiều.

-

Đặc điểm sinh học và sinh thái học:
+ Cây gỗ lớn, tán hình tháp, thân thẳng, chiều cao tới 50m, đường kính tới

2,5m hoặc hơn.
+ Lá mọc xoắn ốc rất dày đặc, có gốc vặn do đó xếp ít nhiều thành 2 dãy,
hình dải, dài 2-3cm, rộng 0,25cm, thót thành mũi tù, không cứng ở đầu, hơi có
răng cưa ở hai mép lá và có 2 dải lỗ khí chủ yếu ở mặt dưới.

Thời gian kết thúc theo dõi là: 15/7/2014.
3.3.

Nội dung nghiên cứu


2
0

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước trong kích thích hạt đến khả
năng nảy mầm của hạt cây Sa mộc dầu.

-

Ảnh hưởng của thời gian ngâm nước sau khi kích thích đến khả năng nảy
mầm của hạt.

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dày lấp đất đến nảy mầm của hạt Sa mộc
dầu.

3.4.
-

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, kết quả

Văn phòng phẩm: giấy, bút, tài liệu tham khảo, thước đo chiều cao, bảng
biểu, nhiệt kế đo nhiệt độ nước.
Bước 2: Xử lý kích thích hạt •
Bố trí thí nghiệm.

-

Tiến hành thí nghiệm với 9 công thức và 3 lần lặp, mỗi lần lặp là 30 vậy
trong một công thức có 90 hạt, tong số hạt đem kiểm nghiệm là 810 hạt.

-

Tiến

hành ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím 0,5% thời gian 15

phút để diệt mầm mống sâu bệnh. Sau đó vớt hạt nên rửa sạch bằng nước lã sạch.


2
1

Sau đó ngâm hạt trong nước với các mức nhiệt độ của các công thức thí nghiệm
trong thời gian 4- 5 giờ rồi vớt ra và ủ trong khăn sạch.
-

Tiến hành ngâm hạt Sa mộc dầu trong nước theo 9 công thức:
+ Công thức 1: Nước lã
+ Công thức 2: Nước 250C +
Công thức 3: Nước 300C +

Quốc, xẻng, sàng đất, đất gieo ươm.

-

Dụng cụ tưới, bình phun, khay đựng...

-

Văn

phòng phẩm: giấy, bút, tài liệu tham khảo, thước đo chiều cao,


2
2

bảng bieu, nhiệt kế đo nhiệt độ nước.
Bước 2: Xử lí kích thích hạt
• Bố trí thí nghiệm
-

Ngâm hạt trong nước sau khi kích thích.
Thí nghiệm tiến hành với 8 công thức, 3 lần lặp, mỗi lần lặp là 30 hạt vậy

trong mỗi công thức có 90 hạt, tong số hạt đem kiểm nghiệm là 720 hạt.
-

Tiến hành ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím 0,5% thời gian 15 phút để
diệt mầm mống sâu bệnh. Sau đó vớt hạt nên rửa sạch bằng nước lã sạch.
Sau đó ngâm hạt theo các công thức sau:

-

Văn phòng phẩm: giấy, bút, tài liệu tham khảo, thước đo chiều cao, bảng
biếu, nhiệt kế đo nhiệt độ nước.


2
3

Bước 2: Xử lí kích thích hạt
• Bố trí thí nghiệm
-

Hạt sau khi kích thích ở nhiệt độ 450C ngâm hạt trong thời gian 5 giờ

sau đó ủ hạt, khi hạt nảy mầm rồi đem gieo trong luống cát sạch, ẩm trong nhà
gieo ươm có mái che, hạt sau khi gieo được phủ một lớp cát với độ dày khác
nhau. Thí nghiệm được

thực hiện với 4 công thức và 3 lần lặp mỗi lần

30 hạt vậy số hạt trong mỗi công thức là 90 hạt, tong số hạt đem kiếm nghiệm là
360 hạt.
-

Tiến hành gieo hạt Sa mộc dầu với độ sâu lấp hạt theo 4 công thức:
Ảnh hưởng của độ sâu lấp hạt đến nảy mầm của hạt Sa mộc dầu
Hạt sau khi đã trương nước tối đa (ngâm trong nước 5 giờ) thì đem gieo

trong luống cát sạch, ẩm trong nhà gieo ươm có mái che, hạt sau khi gieo được


3.4.2. Phương pháp nội nghiệp
- Xử lý tính toán tỉ lệ nảy mầm:
+ Tỉ lệ nẩy mầm: là tỉ số phần trăm giữa số hạt nảy mầm cho cây mầm
bình thường so với tổng số hạt đem kiểm nghiệm.
= — X100%
N
P : Là tỉ lệ nảy mầm từng tổ
P

Trong đó:

n : Là số hạt nảy mầm từng tổ N :
Là số hạt kiểm nghiệm mỗi tổ
+ Thế nảy mầm: là tỉ số phần trăm giữa số hạt nảy mầm (cho cây mầm
bình thường) quy định trong thời gian đầu (thường là 1/3 của quá trình nảy mầm)
trên tong số hạt đem kiểm nghiệm.
T= — X100%
N

Trong đó: T là thế nảy mầm
m là số hạt nảy mầm trong 1/3 thời gian đầu.
N là số hạt đem kiểm nghiệm
-

Tổng hợp số liệu và nhập vào máy vi tính

-

Phân tính và xử lý số liệu trên excel :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status