ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KHẮC HIẾU
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH
TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI RỪNG PHỤC HỒI IIA
TẠI XÃ YÊN LÃNG, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính
Chuyên
quy : Lâm
ngành Khoa
nghiệp
Khóa học
Lâm
:
:
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, khách quán.
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 5 năm 2015 Xác nhận giáo viên
hướng dẫn
Người viết cam đoan
ThS. Nguyễn Thanh Tiến
Nguyễn Khắc Hiếu
Xác nhận giáo viên chấm phản biện
(ký, họ và tên)
4
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Tiến tôi đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên
Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo
Giải thích
Hvn
: Chiều cao vút ngọn
D1 3
: Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m
HVN
: Chiều cao vút ngọn trung bình
D1 3
: Đường kính trung bình
OTC
: Ô tiêu chuẩn
ODB
: Ô dạng bản
N/ha
: Mật độ cây/ha
9
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.
Đặt vấn đề
Rừng là một tài nguyên vô cùng quý giá của trái đất, rừng đóng góp vai trò rất quan
trọng trong cuộc sông hằng ngày của chúng ta. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói “Rừng là
vàng, nếu mình biết bảo vệ xây dựng thì rừng sẽ rất quý“ đúng như vậy rừng có rất
nhiều vai trò quan trọng, rừng là lá phổi xanh của trái đất. Rừng cung cấp O2 và hút khí
CO2 do chúng ta tạo ra. Thiếu cây rừng, thiếu oxi thì làm sao chúng ta tồn tại? Rừng còn có
vai trò bảo tồn đa dạng sinh học, phòng chống thiên tai bão lũ, là nguồn cung cấp gỗ, lâm
sản ngoài gỗ và nhiều dược phẩm quý giá ...Đặc biệt hơn hiện nay tình trạng ô nhiễm không
khí cao dẫn đến việc khí hậu trái đất bị biến đổi nghiêm trọng và rừng có cai trò hết sức
quan trọng trong việc phòng chống biến đổi khí hậu.
Rừng là một hệ sinh thái có khả năng tự tái tạo, tự phục hồi và luôn vận động phù
hợp với điều kiện ngoại cảnh. Với diện tích trên 330 nghìn km2 với 2/3 diện tích đất là đồi
núi lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên nguồn tài nguyên rừng nước ta rất giàu có, đa
dạng và phong phú. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau
mà diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngày nay với sự
phát triển mạnh
mẽ của nền
tăng
rừng đã trở nên khả quan hơn. Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12 triệu ha, tương
đương với và độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10 triệu ha và rừng trồng
chiếm 2 triệu ha.
Nhưng do tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi rừng nên thảm thực vật đã và
đang bị suy thoái nghiêm trọng. Từ đó gây ra hậu quả làm đất bị xói mòn rửa trôi, gây bồi
lắng lòng hồ, hạn chế khả năng chứa nước. Mặt khác, rừng sau khai thác hầu như bị đảo lộn
toàn bộ về cấu trúc, quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hướng thoái bộ so với ở tình trạng
nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không được quản lý tốt.
Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền
vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật
sống của hệ sinh thái rừng. Do đó nghiên cứu cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng
nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp
kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền.
Vì lý do
đó, được sự đồng ý của trường
Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một
số đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi IIA tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên".
1.2.
Mục đích nghiên cứu
Bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về tái sinh tự nhiên rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã
Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất những giải pháp lâm sinh
phù hợp xúc tiến tái sinh rừng.
Trên cơ
sởcác quy luật cấu trúc đề xuất một số giải pháp nhằm phục
hồi rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nguồn tài nguyên
rừng tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngày hiệu quả hơn.
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.
Quan điểm lựa chọn trạng thái rừng phục hồi trạng thái IIA xã Yên Lãng, Huyện
Đại Từ
Hiện nay, có nhiều quan điểm phân loại rừng khác nhau, vì vậy đề tài nhất quán
quan điểm phân loại rừng theo Loeschau, 1966 cụ thể như sau: “Rừng phục hồi trong giai
đoạn sau chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang...) đã xuất hiện
cây chịu bóng, cây gỗ lớn, có hiện tượng cạnh tranh không gian dinh dưỡng. Mật độ cây >
1000 cây/ha với đường kính D13 > 10 cm (đường kính phổ biến 10 cm, trữ lượng không
vượt quá 30 m3) - Ký hiệu: IIA”
9
Ị ^
2
.2. Tổng quan vân đê nghiên cứu
Vấn đề tái sinh phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, từ đầu những năm
50 đến 60 của thế kỷ 20 và được sử dụng với cụm từ “khoanh núi nuôi rừng”, tuy nhiên
trong một khoảng thời gian dài, ngành lâm nghiệp phải tập trung khai thác rừng tự nhiên để
phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển miền Bắc, đồng thời chi viện cho sự nghiệp
chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra. Lúc này cần những hoạt động của con người nhằm
thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất. Như vậy, hoạt động
phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá
trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rất
nhiều lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmour (2003)
đã đưa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi
phục và phục hồi rừng. Các khái niệm này được hiểu như sau:
-
Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): Khái niệm này
được hiểu là sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một
thảm thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh. Ở
vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng
năng
suất cao
hơn thảm
lại
có
thực vật gốc. Các lập
địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi... là đối tượng của hoạt động này và cũng là những cơ hội
cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh
hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm thực vật gốc.
trên đối
là rừng
tượng mới không có
rừng. Trong nhiều
thì gọi là trồng rừng; còn
rừng trong thời gian ngắn
không
hoạt động đó
thì gọi là trồng
lại
trường hợp, trồng rừng, trồng lại rừng được hiểu đồng
nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế). Theo chúng tôi thì nên hiểu cải tạo rừng là hoạt
động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng suất cao hơn, còn trồng rừng và
trồng lại rừng là hoạt động gây lại rừng trên đất trống đồi núi trọc.
Phục hồi rừng có thể được giải thích như một phương pháp phối hợp giữa các hoạt
động thay thế, phục hồi và khôi phục. Hoạt động phục hồi có thể thay đổi tuỳ thuộc vào
mục đích, điều kiện của đối tượng (rừng nghèo) và rừng mong muốn đạt đến.
2.2.1.
ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ
thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (dẫn theo
Nguyễn Văn Thêm, 1992) [15].
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu
nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng
xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi
sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngược lại,
những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ.
Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov,
1967; Vipper, 1973) (Nguyễn Văn Thêm, 1992) [15]
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc
đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm
sinh hợp lý.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới
cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một
số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững.
Bên cạnh đó các công trình của các tác giả Richards, Baur, Catinot, Odum, Van
Stennis... được coi là nền tảng cho những nghiên cứu về cấu trúc rừng.
2.2.2.
Những nghiên cứu ở Việt Nam
Mặc dù các nghiên cứu trong nước chưa thực sự đa dạng, chưa đánh giá được một
cách đầy đủ và toàn diện về sinh khối nhưng những nghiên cứu ban đầu về lĩnh vực này có
ý nghĩa rất quan trọng, làm nền tảng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp, định hướng
khoanh nuôi và tiêu chuẩn cần đạt của rừng khoanh nuôi. Xác định được nội dung công việc
cần tiến hành trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ khác nhau. Nghiên cứu đã xây
dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi rừng và xây
dựng
danh
có thể sử
lục
sơ bộ gồm
155 loài cây bản địa
được
dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng. Đây là công trình đầu tiên ở việt nam đề cập
một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam.
Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình
khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng loại hình rừng cụ thể.
Lê Sáu (1996) [14] dựa vào hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng kết hợp với hệ
thống phân loại của Loeschau, chia rừng ở khu vực Kon Hà Nừng thành 6 trạng thái.
Viện khoa học Lâm nghiệp (2001) [19] xây dựng chuyên đề về canh tác nương rẫy.
Chuyên đề đã giới thiệu các công trình nghiên cứu về đánh giá hiện trạng canh tác nương
rẫy ở Tây Nguyên (1998-1999) (Đỗ Đình Sâm và cộng sự), canh tác nương rẫy của một số
một tầng cây gỗ giao tán ở thời gian 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4.
Đặng Kim Vui (2002) [20] khi nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với đối tượng là rừng phục hồi tự nhiên ở các giai đoạn
tuổi khác nhau, đã nghiên cứu về cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc dạng sống, cấu trúc hình
thái, mật độ, độ phủ,... của các trạng thái rừng và kết luận: Tổng số loài cây của hệ sinh thái
rừng phục hồi giảm dần khi giai đoạn tuổi tăng lên, đồng thời số loài cây gỗ tăng dần, số
loài cây cỏ,
cây bụi
hồi,
trạng
giảm nhanh. Theo quá trình
thái
rừng có
phục
sự
thay đổi về tầng thứ và thành phần thực vật ở các tầng, ở giai đoạn cuối của quá trình phục
hồi (từ 10 - 15 tuổi) rừng có cấu trúc 5 tầng rõ rệt. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải
pháp nâng cao hiệu quả phục hồi rừng sau nương rẫy.
Vũ Tiến Hinh (1991) [6] Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở
Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ thành tính theo
% số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ
Thực vật có khả năng tự phát tán để gieo giống hoặc gieo
nước, nhờ động vật. Tuy
để gieo
giống nhờ
gió,
nhờ
vậy, phạm vi phát tán
giống của bất kỳ cách thức nào cũng không
phải là vô
hạn, nên
khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì mật độ hạt
giống đưa đến càng thấp. Phạm Ngọc Thường đã nghiên cứu mối liên quan giữa khoảng
cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết
luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng xa thì mật độ và số loài
cây tái sinh càng thấp”.
Dựa vào mật độ tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [7] đã phân chia khả năng tái sinh
rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là trên
12.000 cây/ha, 8.000-12.000 cây/ha, 4.000-8.000 cây/ha, 2.000-4.000 cây/ha. Nhìn chung,
nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh.
Trần Ngũ Phương (1970) [11] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá
2.3.1.3.
-
Diện tích tự nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3.881,91 ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 3.142,77 ha
chiếm 80,96%; Đất phi nông nghiệp: 239,06 ha chiếm 6,16 %; Đất chưa sử dụng: 180,40 ha
chiếm 4,65%; Đất ở nông thôn: 319,68 ha chiếm 8,24 %.
2.3.1.4.
-
Khí hậu thuỷ văn
Đặc điểm địa hình: Xã có 4 con suối lớn gồm: suối Cầu Trà, suối Yên Từ, suối Cầu Tây,
suối Đèo Xá; có 4 hồ lớn gồm: hồ Cầu Trà, hồ Đồng Trãng, hồ Khuôn Nanh và hồ Đồng
Tiến, còn lại là các ao, hồ, suối nhỏ. Mùa khô lượng nước ở các con suối và các ao hồ ít,
mùa mưa lượng nước dồn về nhiều dễ gây ra lũ ống, lũ quét tại các vùng ven và đầu nguồn
các con suối.
-
Đặc điểm khí hậu: Mang tính chất đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa
Có 4 mùa rõ
rệt là: Xuân,
Hạ , Thu, Đông diễn ra trong 12 tháng
của năm,
2
2.
1
2.
22.
32.
42.
52.
62.
72.
82.
9
3
4
4.
1
2.3.2.2.
Chỉ tiêu
Mã
Tổng diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất lúa nước
Đất trồng cây hàng năm còn lại
Đất trồng cây lâu năm
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
0,09
239,06
100,00
80,96
10,41
1,06
8,54
8,55
16,59
33,90
1,91
NNP
DL
N
HN
K
CLN
RPH
RD
D
RSX
NTS
NK
H
PNN
CTS
0,36
6,16
0,01
0,06
2,58
0,02
0,17
0,00
0,85
2,29
0,20
4,65
8,71
8,24
Tài nguyên rừng
- Diện đất lâm nghiệp toàn xã hiện nay là 2.647,45 ha (chiếm 68,20% diện tích đất
tự nhiên), trong đó: Rừng đặc dụng 643,88 ha thuộc vườn Quốc gia Tam Đảo quản lý, rừng
phòng hộ 503,72 ha và rừng sản xuất 1.499,85 ha.Diện tích trồng rừng hàng
khoảng
100 ha, với
cây trồng chủ
Keo, Bạch đàn, sản lượng khai thác hàng năm khoảng 700 m3.
2.3.2.3.
Tài nguyên nước
mại và dịch vụ.
2.3.3 Nhân lực
Tổng số hộ: 3082 hộ. Tổng số nhân khẩu: 12.343 người, trong đó nữ: 6308 người.
Lao động trong độ tuổi: 7172 người, trong đó nữ: 3825 người. Trình độ văn hóa: Phổ cập
THCS. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao động: 37. Cơ cấu lao động: Nông,
lâm, ngư nghiệp 65 %; Công nghiệp, xây dựng 10 %; Thương mại, dịch vụ 25 %. Tình hình
lao động trong độ tuổi đang đi làm việc ngoài địa phương : Tổng số lao động trong độ tuổi
đang đi làm việc ngoài địa phương là 1231 lao động. Còn lại làm việc tại địa phương và các
cơ quan đơn vị hành chính và doanh nghiệp
trên địa bàn. Tỷ lệ lao
động có việc làm ổn định thường xuyên: 70% so với nguòi trong đọ tuổi lao động. Đánh giá
sơ bộ về tình hình nhân lực của xã :
-
Thuận lợi: Dân cư của xã được phân bố ở 30 xóm, các cụm dân cư tương đối tập trung, tỷ
lệ lao động trong độ tuổi khá cao so với tổng dân số chiếm 58,1%; số lao động có việc làm
ổn định thường xuyên trên 85%. Trình độ dân trí, trình độ lao động tương đối đồng đều. Tỷ
lệ lao động qua đào tạo chiếm 37% so với tổng số lao động.
-
Khó khăn:
Những năm
gần đây do ảnh hưởng
dào, người dân có truyền thống lao động cần cù, tỷ lệ lao động qua đào tạo cao là lợi thế để
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trong sản xuất và phát triển.
Hệ thống các công trình hạ tầng như giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, liên
xóm; trụ sở làm việc của Đảng uỷ - HĐND - UBND; trường học; trạm y tế... đã được xây
dựng khá đồng bộ và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới.
2.3.4.2.
Tiềm năng về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại:
Xã Yên Lãng có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối lớn tập chung chủ yếu là
Than, hiện nay đang có Công ty than Núi Hồng khai thác khoáng sản trên địa bàn với diện
tích 100,05 ha, ngành công nghiệp khai thác đã và đang phát triển ở địa phương; đã quy
hoạch 01 khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chế biến lâm sản và kinh doanh vận tải tại xóm
Đèo Xá. Bên cạnh đó có 01 khu chợ tạo điều kiện cho các ngành nghề địa phương phát triển
như tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ thương mại phục vụ cho công nghiệp đồng thời giải
quyết việc làm cho nhân dân. Là tiền đề phát triển công nghiệp gắn với phát triển nông
nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
2.3.4.3.
-
Tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp:
Đối với cây lúa: Hiện nay diện tích đất trồng lúa của xã là 404,16 ha đây là diện tích đất
trồng lúa tương đối thuận lợi cho việc canh tác và đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Hệ thống
các công trình thủy lợi đã từng bước được đầu tư xây dựng, sửa chữa và nâng cấp cơ bản
đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tiềm năng phát triển về văn hóa - xã hội:
Về lĩnh vực giáo dục: Xã Yên Lãng có truyền thống hiếu học, xã đã hoàn thành phổ
cập giáo dục trẻ 5 tuổi Mầm non, phổ cập Tiểu học và THCS; hàng năm tỷ lệ tốt nghiệp học
sinh bậc học Tiểu học, THCS đạt cao từ 99 - 100%; xã đã có 03/05 trường đạt chuẩn Quốc
gia. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng cao so với mặt bằng chung
trong Huyện, đây cũng là tiền đề cho nguồn lao động chất lượng cao cho tương lai.
Về y tế: Hiện trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị của trạm y tế đã được đầu tư xây
dựng đồng bộ đạt chất lượng với đội ngũ y, bác sỹ đạt chuẩn. Chất lượng khám chữa bệnh
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân từng bước được nâng lên. Yên Lãng được đánh giá đạt
chuẩn Quốc gia về y tế từ năm 2011.
Về văn hóa thể thao: Xã có truyền thống về phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục
thể thao, đã hình thành các câu lạc bộ văn hóa văn nghệ và thể dục thể thao là điều kiện thúc
đẩy nâng cao đời sống vật chất, tinh thần trong cộng đồng dân cư góp phần thực hiên tốt
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
2.3.4.5.
Tiềm năng phát triển du lịch:
Xã Yên Lãng có vị trí thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, du lịch về nguồn. Hệ
thống giao thông phát triển đồng bộ, trên địa bàn xã có dãy núi Tam Đảo thuộc vườn quốc
gia Tam Đảo với diện tích rừng đặc dụng 643,88 ha.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU